
Luận văn
Phương pháp tính chỉ số giá
tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố
ở Việt Nam và tình hình thực
tiễn đang tính ở Hà Nội

Lời mở đầu:
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế
phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự phát triển đó nảy
sinh nhiều mối quan hệ trao đổi trên thị trường trong đó sự biến động của giá cả là
một trong những nhân tố quan trọng tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội và
là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư. Vì vậy nhà nước ta điều tiết sản
xuất, ổn định giá cả, nhằm đạt hiệu quả cao trong môi trường hợp tác và cạnh tranh
thông qua các yếu tố cung cầu, giá cả, sức mua đồng tiền, tỷ giá hối đoái…
Trong nên kinh tế như hiện nay tất yếu phải nói đến giá cả, sự biến động về
giá và việc tính chỉ số giá là điều rất cần thiết.
Nhìn vào chỉ số giá, mức biến động giá, tỷ lệ lạm phát cao hay thấp chúng ta có thể
biết được một cách tổng quan về sự ổn định của nền kinh tế. Chỉ số giá là một trong
những cơ sở để lập kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế, ngoài ra nó còn dùng
để đánh giá mức sống của các tầng lớp dân cư.
Chính vì sự cần thiết của chỉ số giá nên trong quá trình thực tập này em lựa
chọn đề tài nghiên cứu về:
“Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt
Nam và tình hình thực tiễn đang tính ở Hà Nội”.
Đề tài bao gồm những nội dung sau:
Lời mở đầu.
Chương I: Những vấn đề l ý luận chung về chỉ số và hệ thống chỉ số giá cả.
Chương II: Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt
Nam.
Chương III: Vận dụng tính cho thành phố Hà Nội qua giai đoạn 2004-2005
.
Kết luận.

Chương I: Những vấn đề l ý luận chung về chỉ số và hệ thống chỉ
số giá cả
I_ Những vấn đề l ý luận chung về chỉ số
1_ Giới thiệu về chỉ số
1.1_ Khái niệm và phân loại chỉ số:
1.1.1_Khái niệm chung:
Chỉ số là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa các mức độ của một
hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp. Chỉ số được tính bằng cách so sánh hai mức độ
của hiện tượng ở hai khoảng thời gian hoặc không gian khác nhau nhằm nêu nên sự
biến động của hiện tượng qua không gian và thời gian.
Trong phân tích thống kê, chỉ số được sử dụng để:
Thứ nhất là nghiên cứu sự biến động về mức độ của hiện tượng qua thời gian
các chỉ số này được gọi là chỉ số phát triển.
Thứ hai là để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng qua không gian các chỉ
số này được gọi là chỉ số không gian.
Thứ ba là phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch về các chỉ tiêu kinh tế.
Thứ tư là xác định vai trò ảnh hưởng biến động của các nhân tố khác nhau tới
sự biến động của hiện tượng phức tạp.
1.1.2_ Phân loại chỉ số:
Chỉ số có thể chia làm nhiều loại theo các cách phân loại khác nhau.
- Xét theo đối tượng mà chỉ số phản ánh:
+ Chỉ số phát triển: Là chỉ số phát triển theo thời gian trong một không gian cụ
thể.
+ Chỉ số không gian: Là chỉ số phát triển qua không gian trong một thời gian cụ
thể.
+ Chỉ số kế hoạch: Gồm chỉ số nhiệm vụ kế hoạch và hoàn thành kế hoạch
- Xét theo phạm vi của tổng thể hiện tượng nghiên cứu:
+ Chỉ số đơn: Phản ánh sự biến động của từng hiện tượng, từng đơn vị cá biệt.
+Chỉ số tổng hợp: Phản ánh sự biến động chung của nhiều đơn vị, của nhiều phần
tử, nhiều hiện tượng cá biệt.

- Xét theo tính chất của chỉ tiêu mà các chỉ số phản ánh:
+Chỉ số chỉ tiêu chất luợng: Phản anh sự biến động của một chỉ tiêu chất lượng
nào đó
+Chỉ số chỉ tiêu số lượng: Phản ánh sự biến động của một chỉ tiêu khối luợng nào
đó.
1.2_ Khái niệm phương pháp chỉ số:
Trong thống kê, phương pháp chỉ số là phương pháp phân tích thống kê nghiên
cứu sự biến động của những hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm nhiều phần tử mà
các đại lượng biểu hiện không thể trực tiếp cộng được với nhau.
Phương pháp chỉ số có những đặc điểm sau:
- Biểu hiện về lượng của các phần tử trong hiện tượng phức tạp được chuyển về
dạng chung có thể trực tiếp cộng được với nhau, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các
nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác.
- Khi nghiên cứu sự biến động của một nhân tố, bằng cách giả định các nhân tố
khác của hiện tượng phức tạp không biến đổi. Phương pháp chỉ số tạo khả năng loại
trừ ảnh hưởng biến động của các nhân tố này để khảo sát riêng sự biến động của
nhân tố cần nghiên cứu.
2_ L ý luận chung về phương pháp nghiên cứu chỉ số giá.
Chỉ số giá cả là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình hình biến động của giá cả
theo thời gian và không gian.
Chỉ số phản ánh tình hình biến động của hiện tượng qua thời gian gọi là chỉ số
phát triển, nó bao gồm chỉ số đơn và chỉ số tổng hợp
2.1_ Chỉ số đơn:
Chỉ số đơn phản ánh sự biến động của từng phần tử, từng hiện tượng cá biệt.
Chỉ số giá đơn: Cho chúng ta nghiên cứu việc biến động giá cả thời kì này so
với thời kỳ gốc của từng mặt hàng
- Công thức:
ip =
0
1
p
p (lần hoặc phần trăm) (1)
Trong đó: ip : Chỉ số giá đơn

1
p: giá đơn vị sản phẩm (hàng hoá ) kì báo cáo, kì nghiên cứu
0
p: giá đơn vị sản phẩm kì gốc
- Chỉ số đơn có những đặc tính sau:
+ Tính liên hoàn: Tích của các chỉ số liên hoàn năm nay so với năm kế trước
hoặc tích của các chỉ số cố định gốc liên tiếp bằng chỉ số định gốc tương ứng
i3/0=i3/2 . i2/1 . i1/0 (2)
+ Tính nghịch đảo: Nếu hoán vị kì gốc và kì nghiên cứu, kết quả thu được là
nghịch đảo của chỉ số cũ.
i1/0 =1/i0/1 (3)
+ Tính thay đổi gốc: Ta có thể thu được chỉ số gốc này bằng cách suy ra từ
chỉ số gốc khác.
Chỉ số đơn có tác dụng lớn trong việc phản ảnh sự thay đổi của các hiện tượng đơn
giản đồng nhất. Ngoài ra chúng còn quan trọng cho tác dụng hỗ trợ cho việc tính
toán các chỉ số tổng hợp, khi các chỉ số này không thể tính trực tiếp được
2.2_ Chỉ số tổng hợp:
2.2.1_ Chỉ số giá tổng hợp của Laspeyres:
Ta có quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ ở kì gốc.
00
01
.
.
qp
qp
IL
P
(4)
Trong đó: L
P
I: Chỉ số tổng về giá cả.
01.qp : Tổng mức doanh thu hàng hoá kì gốc theo giá kì báo
cáo.
00.qp : Tổng mức doanh thu hàng hoá kì gốc.
Nếu đặt d0=
00
00
.qp
.qp , d0: là tỷ trọng (hay kết cấu ) doanh thu kì gốc mỗi loại hàng
hoá, đơn vị tính bằng lần
Và D0=
00
00
.qp
.qp .100, D0: là tỷ trọng (hay kết cấu ) doanh thu kì gốc mỗi loại hàng
hoá, đơn vị tính bằng %

