
Phư ơ ng thứ c chuyể n thể từ tác phẩ m văn họ c sang kị ch bả n cả i lư ơ ng
Phư ơ ng thứ c chuyể n thể các tác phẩ m văn họ c sang kị ch bả n cả i
lư ơ ng là phư ơ ng thứ c rấ t phổ biế n trong việ c xây dự ng kị ch bả n cả i lư ơ ng
trư ớ c năm 1945. Trong số 137 vở cả i lư ơ ng mà chúng tôi sư u tầ m đư ợ c, có
97 vở cả i lư ơ ng sử dụ ng phư ơ ng thứ c này, chiế m tỷ lệ 75.36%. Như vậ y,
đây là tỷ lệ không nhỏ . Theo chúng tôi nguyên nhân làm cho số lư ợ ng kị ch
bả n cả i lư ơ ng thờ i kỳ đầ u sử dụ ng phư ơ ng thứ c chuyể n thể nhiề u là:
Thứ nhấ t, trong tình hình bấ y giờ , các tác phẩ m văn họ c, đặ c biệ t là
tiể u thuyế t Trung Quố c và kị ch nói phư ơ ng Tây ồ ạ t đư ợ c dị ch ở nư ớ c ta.
Trong khi đó, cả i lư ơ ng lạ i là mộ t loạ i hình nghệ thuậ t mớ i, có sự ả nh hư ở ng
củ a sân khấ u phư ơ ng Tây nên dễ dàng sử dụ ng các tác phẩ m văn họ c đó để
chuyể n thể và đư a lên sân khấ u.
Thứ hai, việ c đư a nhữ ng tác phẩ m văn họ c lên sân khấ u sẽ giúp cho
đông đảo quần chúng, những ngư ời không có điều kiện tiếp cận những tác
phẩm văn học do không biết chữ quốc ngữ hoặc tiếng Pháp hoặc không có
nhiều thời gian đọc sách sẽ có điều kiện hiểu đư ợc phần nào nội dung những
tác phẩm văn học đó thông qua việc xem biểu diễn trên sân khấu.
Thứ ba, việc chuyển thể tác phẩm văn học lên sân khấu cũng sẽ dễ
dàng hơ n trong điều kiện cải lư ơ ng vừa hình thành và phát triển, có nhiều
nơ i mời trình diễn nên việc chuyển thể sẽ dễ dàng và nhanh chóng đáp ứng
nhu cầu của công chúng hơ n là việc sáng tác một tác phẩm mới.
Các loại hình nghệ thuật đư ợc chuyển thể thành kịch bản cải lư ơ ng
trư ớc 1945 gồm có: truyện thơ , tiểu thuyết, truyện kể dân gian, các điển tích

điể n cố và các kị ch bả n củ a các loạ i hình nghệ thuậ t khác, đư ợ c thể hiệ n
bằ ng biể u đồ sau:
Đơ n vị : %
Tiể u
thuyế t
Truyệ n
Nôm
Truyệ n kể
dân gian
Điể n
tích
điể n
cố
Các loạ i hình
nghệ thuậ t
(NT) khác
82.47
5.16
4.12
3.09
5.16
Hình : Biể u đồ thể hiệ n tỷ lệ các loạ i hình nghệ thuậ t đư ợ c chuyể n thể
Đặ c điể m đầ u tiên củ a phư ơ ng thứ c chuyể n thể các loạ i hình nghệ
thuậ t sang kị ch bả n cả i lư ơ ng trư ớ c 1945 rấ t dễ nhậ n thấ y là sự kế t hợ p củ a
hai yế u tố xung độ t và trữ tình trong mộ t đoạ n trích hay mộ t tác phẩ m nào
đó đư ợ c lự a chọ n. Chẳ ng hạ n, soạ n giả Phạ m Đình Khư ơ ng đã lựa chọn khai
thác xung độ t giữ a chữ hiế u và chữ tình ở đoạ n đầ u trong Truyệ n Kiề u
chuyể n thể thành vở Kiề u du thanh minh. Và cũng chính trong đoạ n này, yếu

tố trữ tình đư ợ c bộ c lộ rấ t rõ. Đó là tâm sự củ a Thúy Kiề u về cái chế t củ a
Đạ m Tiên, về tình cả m vớ i Kim Trọ ng, về bổ n phậ n củ a ngư ờ i con gái lớ n
trong gia đình…
Nguyên nhân khi lự a chọ n chuyể n thể mộ t tác phẩ m nào đó, các soạ n
giả đề u chú ý đế n yế u tố xung độ t và trữ tình là vì cả i lư ơ ng là loại hình sân
khấ u kị ch hát nên bên cạ nh yế u tố kị ch tính củ a sân khấ u nói chung còn có
nhữ ng giai điệ u mượt mà, tha thiết trong những điệu nhạc của ngư ời phư ơ ng
Nam. Chính hai yếu này đã tạ o nên đặ c trư ng riêng cho sân khấu cải lư ơ ng.
Đặc điểm thứ hai khi chuyển thể một loại hình nghệ thuậ t sang kị ch
bả n cả i lư ơ ng trong giai đoạn trư ớc 1945 là hầu hết các soạn giả đều lựa
chọn và chuyển thể những tác phẩm nổi tiếng, có một vị trí nhất định trong
lịch sử văn học hoặc trong thời điểm hiện tại khi đư ợc lựa chọn chuyển thể.
Đó là Truyệ n Kiề u của Nguyễn Du, Lụ c Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiể u,
Tam Quố c Chí, Tây Du ký…Việ c lự a chọ n nhữ ng tác phẩ m này sẽ thu hút rất
nhiều khán giả đến rạp vì sự tò mò và khán giả cũng dễ hiểu tác phẩm khi nó
được trình diễn trên sân khấu cải lư ơ ng do ít nhiều họ đã biết đến nó khi ở
dạng nguyên bản.
Đặc điểm thứ ba khi chuyển thể một loại hình nghệ thuật sang kịch
bản cải lư ơ ng trong giai đoạn trư ớc 1945, dù là truyện thơ , truyện kể dân
gian, tiểu thuyết hay kịch bản…đều có sự thay đổi, sắp xếp lại nội dung cho
phù hợp với ý đồ của soạn giả, làm cho tác phẩm được chuyển thể có tính
sân khấu hơ n: tức là có xung đột, có hành động, có tình huống thúc đẩy kịch
bản và phải có cách giải quyết tình huống hợp lý. Ví dụ câu chuyện về Võ
Tòng, một trong 108 anh hùng Lư ơ ng Sơ n Bạc trong Thủ y Hử truyệ n có
nhiều tiểu truyện rất hay như : Võ Tòng đả hổ , Võ Tòng sát tẩ u…Soạn giả
Ngô Vĩnh Khang đã chọn đư a lên sân khấu vở cải lư ơ ng: Võ Tòng sát tẩ u

vớ i nhữ ng tình tiế t, chi tiế t thay đổ i và kế t thúc đúng lúc, đúng vớ i phầ n cở i
nút củ a mộ t vở cả i lư ơ ng. Đó là bắt đầu từ lúc Võ Đạ i Lang và Kim Liên nói
chuyệ n vớ i nhau. Đoạ n này thể hiệ n được mối quan hệ của hai vợ chồng
nhất là trong cách xư ng hô giữa Đại Lang và Kim Liên. Kim Liên nói với
chồng mà như nói với đầy tớ:
Bữ a rày sao đi bán về trư a
Mau lấy bạc đặng đư a cho tao xài
Bằng không tao đánh liền tay,
Kịp đư a lại cho tao đi đánh bài.1
Sau khi Đại Lang nhân như ợng, ăn vội rồi ra chợ bán đậu, Kim Liên
đã thay đổ i giọ ng điệ u:
Chàng sửa soạn kiếp mau lên đàng
Việc ở nhà mặt thiếp lo toan.2
Đoạ n cuố i củ a vở cả i lư ơ ng không kết thúc như trong truyện ( Võ
Tòng ép Kim Liên khai nhậ n tộ i giế t chồ ng dưới sự chứng kiến của ba ngư ời
hàng xóm, rồi mổ bụng, cắt đầu ả,…tế vong linh Đại Lang và trốn thoát
trong quá trình lư u đày vì tộ i giế t người) mà có sự kết thúc đúng lúc, thể
hiện đư ợc cách giải quyết xung đột trọng tâm của vở kịch. Đoạn bắt Kim
Liên khai nhận tội chỉ có bốn ngư ời là Kim Liên, Vư ơ ng Bà, Hà Thúc Cửu
và Võ Tòng, trong đó Kim Liên và Vư ơ ng Bà là hai ngư ời có tội. Đích thân
Võ Tòng là người tháo gỡ xung đột chứ không phải nhờ sự trợ giúp từ bên
ngoài. Vở cải lư ơ ng kết thúc trong cảnh Võ Tòng vậ t Kim Liên trước bàn
1 Ngô Vĩnh Khang, (1928), Võ Tòng sát tẩ u, Nxb Phạm Văn Thình, [tr.4]
2 Ngô Vĩnh Khang, (1928), Võ Tòng sát tẩ u, Nxb Phạm Văn Thình, [tr.6]

thờ Đạ i Lang (chứ không phải là cả nh tư ợ ng trư ng đã mổ bụ ng, cắ t đầu ả…)
rồi ca:
Đứ a bộ i phu loài gian dâm
Thấ y sắ c trai vộ i phụ nghĩa chồ ng
Chẳ ng biế t hổ họ c đòi bướm ong
Bại tục đồi phong huyết nhiễm hồng
Đao sát hạ danh Võ Tòng
Gái trắ c nế t hồ n về chính sông
Lẽ trờ i rấ t công
Thầ n đao sát xong dâm phụ . 3
Như vậ y, việ c không sử dụ ng hình ả nh giế t ngư ờ i chị dâu mộ t cách dã
man trên sân khấ u cả i lư ơ ng phần nào cho thấy đư ợc giá trị nhân đạo của tác
giả. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ông dung thứ cho tộ i giế t chồ ng củ a
Kim Liên. Lờ i ca đầy oán trách của Võ Tòng chính là lờ i kế t tộ i mộ t cách
nặ ng nề nhấ t.
Đặc điểm thứ tư khi chuyển thể một loại hình nghệ thuậ t sang kị ch
bả n cả i lư ơ ng trong giai đoạn trư ớc 1945 là đối với tiểu thuyết và truyện
Nôm, các soạn giả chỉ chọn lấy một đoạn trích nào đó để khai thác, để đư a
lên sân khấu cải lư ơ ng chứ không phải là toàn bộ câu chuyện.
Tóm lại, mặc dù cải lư ơ ng là loại hình nghệ thuậ t truyề n thố ng củ a
Việ t Nam như ng về mặt kịch bản, nó vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc cấu
trúc của một kịch bản như trên đã nêu.
3 Ngô Vĩnh Khang, (1928), Võ Tòng sát tẩ u, Nxb Phạm Văn Thình, [tr.59]

