intTypePromotion=1
ADSENSE

Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quỹ đầu tư

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

304
lượt xem
464
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lợi thế quan trọng khi tham gia một quỹ đầu tư tương hỗ là một hoặc một nhóm các nhà chuyên môn sẽ lựa chọn cổ phiếu và các danh mục hộ người đầu tư. Mời các bạn tham khảo tài liệu để tìm hiểu thêm về những quy tắc này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quỹ đầu tư

  1. Quy tắc thận trọng trong lựa chọn nhà quản lý quỹ đầu tư Lợi thế quan trọng khi tham gia một quỹ đầu tư tương hỗ là một hoặc một nhóm các nhà chuyên môn sẽ lựa chọn cổ phiếu và các danh mục hộ người đầu tư. Vì nhà đầu tư chia sẻ chi phí với nhà quản lý quỹ (Fund Manager-FM) cùng hàng ngàn hay hàng triệu cổ đông khác, chi phí trở nên thực sự thấp hơn rất nhiều. Giờ thì cần tìm hiểu phẩm chất nào các nhà đầu tư nên tìm kiếm nơi người quản lý quỹ. Ai đáng đồng tiền bát gạo? Tìm một nhà quản lý quỹ cũng giống như tìm một nhân viên tốt vậy. Nên tìm hiểu kinh nghiệm và thành tích của họ, và luôn cần kiểm tra những thông tin quanh họ trước khi sử dụng. Giống như với những người nộp đơn xin việc, nhà quản lý quỹ có đủ các thành phần khác nhau, rất đa dạng, nhưng không giống như người xin việc, người quản lý quỹ có thể là một nhóm người, chứ không chỉ là một cá nhân. Các quỹ tương hỗ (Mutual Fund) thường sử dụng một đội ngũ điều hành quỹ (nhiều hơn một người ra quyết định duy nhất), một nhà quản lý quỹ (có thể làm việc với cả đội), hoặc là các tài sản tài chính của quỹ được phân bổ ra cho nhiều nhà quản lý quỹ làm việc độc lập với nhau. Kinh nghiệm là thế nào? Các phóng viên thường nói tới thời hạn làm việc của nhà quản lý quỹ. “Ông ấy đã điều hành quỹ bao lâu rồi?” họ có thể đặt vấn đề cách này. “Đừng tham gia quỹ mà nhà quản lý quỹ chưa có đủ 5 năm kinh nghiệm điều hành” họ có thể tư vấn
  2. cách này nữa. Thực tế là, bất kể sự thật người ta vẫn tập trung chú ý vào kinh nghiệm-thời hạn đã làm chuyên môn của nhà quản lý quỹ, thì cũng không có bằng chứng xác đáng cho thấy mối liên hệ giữa thời gian-kinh nghiệm đã từng điều hành quỹ với kết quả hoạt động kinh doanh. Các nhà quản lý xuất sắc rời Quỹ chỉ để thay thế bởi những nhà quản lý xuất sắc hơn. Những nhà quản lý kém tài nhưng được "ngụy trang tốt" có thể vẫn ở lại với Quỹ và đem tới kết cục hiệu quả kinh doanh tệ hại trong nhiều năm trời. Tạp chí khoa học The Journal of Financial Planning đã nghiên cứu và không tìm thấy bằng chứng nào về mối liên hệ giữa thời gian điều hành và kết quả vận hành. Cũng có những nghiên cứu khác kết luận không hoàn toàn như vậy, nhưng có thể nói thời gian điều hành Quỹ thực sự không quan trọng như người ta thường tán tụng và thuyết giáo. Tất nhiên, chẳng cần nói thì ai cũng cho rằng nhà quản lý quỹ giàu kinh nghiệm rất được ưa chuộng. Người đó đã điều hành Quỹ bao lâu? Nhân vật đó liệu có đủ phẩm chất năng lực học thuật không? Nhà quản lý có mục tiêu đầu tư rõ ràng? Chúng ta có "cảm giác" được sự khôn ngoan của nhà quản lý quỹ? Xin lưu ý nguyên tắc rằng, không phải vì một nhà quản lý quỹ đã dày dạn kinh nghiệm trận mạc mà lập tức tin rằng trong chiến trận ông ta sẽ là người chỉ huy khôn ngoan. Trên thực tế, có những vị chỉ huy trên chiến trường đầu tư, do đã bị cháy xém ở trận địa thị trường khốc liệt, sau này trở nên luôn do dự, ngần ngại khi phải hành động một cách hợp lý và đúng lúc. Nếu quan sát một quỹ mới hoặc quỹ mới đổi nhóm quản lý, cần phải nghiên cứu lý lịch của người quản lý. Ông/bà ấy đã điều hành một thời gian? Nếu họ đã điều hành một quỹ nào khác, trước khi chuyển sang đây, xem thử xem họ đã làm được gì so với những đồng nghiệp của họ ở nơi cũ. Một số công ty quản lý quỹ giàu thành tích, như Fidelity American Fund chẳng hạn, rất nổi tiếng vì có nhiều "vận động viên dự bị đẳng cấp ngôi sao" chỉ chực để được lao ra điều hành quỹ. Còn về thành tựu? Các vị điều hành quỹ đó làm ăn thế nào những lúc thị trường sốt nóng và cả khi ảm đạm? Liệu thành tích của người quản lý so với những đồng nghiệp đương nhiệm có gì hay? Liệu vị quản lý đó có "căn cốt" dương hay âm (theo nghĩa muốn biết họ có mang thêm giá trị gia tăng cho vận hành đồng tiền, hay lại có xu hướng làm giảm đi). Tương tự như trong ngành công nghiệp âm nhạc, chẳng mấy người thích thú kiểu thành
  3. tựu một-lần-duy-nhất. Nếu như nhà quản lý quỹ nào đó mà đứng đầu danh sách một năm, thì cũng chưa có nghĩa là năm sau thành tựu đó lại sẽ xảy ra. Nên cảnh giác với những vị quản lý hay nói vống, và cũng không nên đánh giá thấp những người có thói quen im lặng hoặc không có tài thuyết khách. Cũng cần trung thực mà nhận thức rằng, vận may là một phần quan trọng của nhiều vị quản lý quỹ, vì thế với tư cách nhà đầu tư, không được phép nhầm lẫn "vận đỏ" với "kỹ năng". Thường thì loại hình quỹ sẽ quy định mức kết quả kinh doanh nào được yêu cầu, chứ không phải là cách thức lựa chọn cổ phiếu mua vào. Thế nên để so sánh thì cần so các quỹ cùng loại. Phong cách phù hợp? Liệu ngài quản lý quỹ có đam mê chiến lược đầu tư của mình hay không? Nhà quản lý quỹ có phù hợp với phong cách đầu tư của quỹ không? Hẳn là không ai muốn một quỹ giá trị lại đi mua các cổ phiếu tăng trưởng, hoặc một quỹ có qui mô vốn lớn (large-cap) đi mua những cổ phiếu nhỏ. Việc phân bổ tài sản tài chính rất quan trọng trong công tác xây dựng danh mục đầu tư của quỹ, phù hợp với mức chấp nhận rủi ro và tình trạng tài chính của quỹ. Luôn phải tránh các nhà quản lý quỹ vi phạm các nguyên lý mà quỹ đã đặt ra cho vận hành, kể từ khi đàm phán với cổ đông. Một yếu tố khác cần quan sát kỹ là kiểu vận hành theo một chỉ số thị trường. Rất hay nghe nói rằng 80% các quỹ thua kém so với S&P 500 hàng năm, vì thế cũng có khả năng nhiều nhà quản lý quỹ lẳng lặng mô phỏng lại S&P 500 mà chẳng hề thông báo gì về chiến lược của họ. Nếu một quỹ hô hào rằng họ không phải quỹ kiểu mô phỏng chỉ số thị trường, thế nhưng thống kê R-bình phương lại ở cỡ 97% hay hơn thế, thì có thể trong tay cổ đông chỉ là người quản lý theo kiểu “sao chép.” Nếu thế thì đi tìm một nhà quản lý quỹ chỉ số chung thị trường thực thụ mới là cái đích. Nguy cơ gì đây? Ở Hoa Kỳ, cuối năm 2004, SEC (Securities and Exchange Commission) đã ra quy định các nhà quản lý quỹ phải thông báo công khai mức sở hữu của họ trong quỹ mà họ điều hành. Xã hội đòi hỏi một nhà quản lý quỹ có cam kết tài chính trong từng hành vi chuyên môn và sở hữu đáng kể trong quỹ sẽ cho biết thực sự nhà quản lý đó có tin vào năng lực chính bản thân mình hay không.
  4. Tuy nhiên, thật không may bản thân SEC cũng chỉ yêu cầu con số cụ thể theo khoảng cần thông báo: không sở hữu, 1-10.000, 10.001-50.000,... 100.001- 500.000, hoặc là trên 1.000.000 đô-la. Cái chúng ta không rõ là số tiền này chiếm bao nhiêu phần trăm tài sản trong danh mục đầu tư riêng của nhà quản lý, chỉ số phản ánh mức độ quan trọng của khoản đầu tư vào Quỹ đối với nhà quản lý quỹ. Chẳng hạn, một nhà quản lý trẻ chỉ có $50.000 trong quỹ, nhưng số nhỏ đó có khi lại là 80% tài sản hoạt động của anh ta. Nhưng với một người quản lý có tuổi có tới 500.000 đô-la trong quỹ, thì thực chất con số ấy chỉ là phần nhỏ nếu ông ta có tới hàng chục triệu đô-la đã đầu tư vào các quỹ khác rồi. Các tỷ lệ này nói lên các mức cam kết khác nhau của nhà quản lý quỹ trong sự nghiệp của mình! Kiểm tra nhân thân và trình độ Làm thế nào để cổ đông hiểu rõ hơn về người quản lý quỹ? Một nguồn thông tin tốt để tham khảo là Bản cáo bạch quỹ. Thường Website của Quỹ có thông tin Bản cáo bạch, kèm theo nhiều thông tin liên quan giải thích, nếu là một quỹ làm ăn chuyên nghiệp. Nguồn bổ sung trên thế giới hay sử dụng là những hệ thống phân tích tài chính của Morningstar hay Yahoo!Finance. Các hệ thống này cung cấp dữ liệu và tính toán thống kê gợi mở nhiều thông tin có được từ quan sát dữ liệu thực tế. Các Website được thế giới hay dùng còn phải kể đến Ủy ban chứng khoán SEC Hoa Kỳ hay của NASD (National Association of Securities Dealers). Ấn tượng điều hành khác biệt Loại hình quỹ đầu tư thường là yếu tố giúp xác định vai trò và phong cách của người quản lý quỹ. Các quỹ đã có sẵn các thước đo "chủ động" về vận hành và hoạt động rộng sẽ phụ thuộc nhiều vào nhà quản lý có khả năng thực thi, bao quát. Nhưng nhiều loại quỹ khác thì không nhất thiết phụ thuộc như vậy. Chẳng hạn như quỹ chỉ số thị trường thì không cần lắm các nhà quản lý "siêu sao" vì bản thân chiến lược của họ đã có nghĩa là tái tạo lại rổ tài sản theo chỉ số chung của thị trường, và đây là sân hoạt động hẹp. Các nhà quản lý có xu hướng "kỹ thuật hóa" cũng thường ở trạng thái không tự tạo ra sân hoạt động rộng khắp vì xu hướng kỹ thuật khiến họ phụ thuộc nhiều vào các hệ thống phân nấc đầu tư theo thời điểm, bằng công cụ máy tính, chứ không mấy khi dựa trên đánh giá cá nhân hay đồng thuận nhóm. Bên cạnh đó là các loại quỹ không chủ trương tạo ra mức lợi suất vượt trội, hay nói cách khác là các quỹ tìm kiếm mức lợi suất trung
  5. bình, ít rủi ro, chú trọng tính thanh khoản và ổn định dòng tiền, như quỹ thu nhập cố định hay quỹ lương hưu. Với những quỹ này, các siêu sao quản lý quỹ có thể đánh cược với rủi ro trong công cuộc tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch không chắc được hoan nghênh, chỉ vì đó không phải mục tiêu của quỹ. Vẫn là "Prudent Rule (Quy tắc Thận trọng)" nhắc lại Như vậy để thấy rõ hơn rằng bản thân chỉ nhà quản lý không hẳn đã làm nên chuyện mà chiến lược, phong cách và mức chấp nhận rủi ro của quỹ sẽ quyết định nhà quản lý nào là phù hợp. Nhà đầu tư luôn phải để mắt tới yếu tố này để không rơi vào tình trạng "râu ông nọ cắm cằm bà kia". Đó cũng là một yếu tố hàng đầu để tìm kiếm nhà quản lý phù hợp với mục tiêu đầu tư đã được nhất trí giữa các cổ đông! Bạn nghĩ một nhà quản lý quỹ theo phong cách truyền thống sẽ làm gì khi thị trường lao đốc? Curtis Macnguyen, một con người thích thử thách, ham mê trò chơi đánh cược liên quan đến rủi ro nhưng nhìn ở một góc độ khác, ông lại là một nhà quản lý quỹ theo kiểu chắc chắn và mang phong cách cổ điển. Và chính nhờ việc tuân thủ theo nguyên tắc đầu tư
  6. bị đánh giá là “cổ lỗ” ấy, Ivory Investment Management của Macnguyen từng mang về tỷ suất sinh lời gấp đôi S&P 500. Tháng 4/2015, Bloomberg đã thực hiện một bài viết về chân dung của Curtis Macnguyen – người sáng lập và điều hành của Ivory Investment Management – một quỹ đầu tư quản lý 3,6 tỷ USD tài sản khi đó, trước khi quỹ này bị mua lại bởi Affiliated Managers Group. Câu chuyện này được đặt tựa đề là "Chân dung một nhà quản lý quỹ theo phong cách truyền thống". Macnguyen sinh ra tại vịnh Cam Ranh – Khánh Hòa vào năm 1968, trước khi gia đình ông chuyển đến Philippine, rồi một trại quân sự ở Arkansas, cuối cùng đặt chân đến Hyde Park - New York. Ngay từ nhỏ, người đàn ông có dáng vẻ nghiêm túc này lại rất thích những trò đặt cược. Macnguyen sở hữu một sân tennis tại sân sau nhà ở khu Brentwood, ngoại thành Los Angeles, nơi diễn ra các trận đấu giữa ông và các đấu thủ chuyên nghiệp bản xứ. Tuy nhiên ông chưa bao giờ chơi mà không có chút tiền cược, dù nhỏ nhất. Những khoản tiền cược, theo Macnguyen, có thể tăng sức chiến đấu của ông trong cuộc chơi. Dù vậy, trái với tính cách của một con người thích thử thách, ham mê trò chơi đánh cược liên quan đến rủi ro, Macnguyen theo một góc độ khác lại là một nhà quản lý quỹ theo phong cách truyền thống – chắc chắn và không mạo hiểm. Quỹ đầu tư Ivory Investment Management do ông sáng lập và đứng đầu, nhờ cách thức đầu tư này mà từng đạt tỷ lệ sinh lới gấp đôi chỉ số S&P 500, bất chấp cả những giai đoạn của khó khăn nhất của thị trường chứng khoán Mỹ. Và tất nhiên, không cần một bảng quy tắc dài hàng trang giấy, nguyên tắc đầu tư của Macnguyen chỉ gói gọn trong 3 điều cơ bản. 1. Lợi nhuận không phải là tất cả Macnguyen khởi đầu công việc đầu tư tại Ngân hàng Morgan Stanley ở New York rồi sau đó chuyển sang tại Gleacher & Co do Eric Gleacher sáng lập.
  7. Nhờ việc Julian Robertson thuê Eric Gleacher bán cổ phần của ông trong Tiger Management, công ty do chính ông sáng lập mà Macnguyen biết đến hoạt động của các quỹ đầu tư. Khi đó, ông và những đồng nghiệp đã kêu gọi Eric Gleacher tạo một quỹ đầu tư như thế trong ngân hàng nhưng không được đồng ý. Đến tháng 11/1998, Macnguyen quyết định thành lập quỹ đầu tư Ivory Investment Management với quy mô ban đầu 3.5 triệu USD. Và đến cuối năm 2014, quỹ đầu tư này đã mang lại lợi nhuận 346% tương đương 9.7%/năm, gấp đôi lợi nhuận 139% của chỉ số S&P 500. Trong khi các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến một thứ duy nhất là lợi nhuận thì Mac Nguyen lại tập trung vào sự cân bằng hiệu quả giữa rủi ro và lợi nhuận. Điều này được so sánh thông qua chỉ số hiệu quả quản lý (ER), trong đó lấy lợi nhuận thường niên chia cho tỷ lệ rủi ro hàng năm. Nếu ER càng cao thì chứng tỏ hoạt động của công ty càng hiệu quả. Ivory Optimal có ER là 1,65 vào tháng 12/2014, cao hơn mức 1,31 của quỹ Pershing Square International thuộc tỷ phú Bill Ackman. Với chiến lược cân bằng lệnh mua bán trên thị trường, chỉ có bình quân 1/5 số tiền của nhà đầu tư trong quỹ đầu tư này có khả năng bị lỗ. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với mức 100% có khả năng lỗ theo lý thuyết trong chỉ số S&P 500. Theo Mac Nguyen, nhà đầu tư thường không hay để ý đến những quỹ tài chính cân bằng lợi nhuận-rủi ro khi thị trường đi lên. Tuy nhiên, trong giai đoạn thị trường sẽ không tăng trưởng mạnh như trước đây và khi đó những quỹ này sẽ thu hút nhiều sự chú ý hơn. Nhờ nguyên tắc này mà khi thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm, quỹ đầu tư của Macnguyen có lãi không nhiều hoặc thua lỗ cũng rất ít. Nhưng khi thị trường tăng điểm thì giá trị danh mục đầu tư thường tăng mạnh hơn. Bài học rút ra là lợi nhuận là thứ quan trọng để đánh giá một quyết định đầu tư có hiệu quả hay không, nhưng lợi nhuận nhiều hay ít lại là một câu chuyện khác. Đầu tư không phải một trận đánh chớp nhoáng, đó là một cuộc chiến dài hơi mà trên chiến trường đó, thắng một trận không có nghĩa bạn là người làm chủ tất cả. Khi thị trường lên, những người lãi lớn có thể khiến bạn ghen tị, nhưng khi đà giảm xuất hiện có thể bạn sẽ cảm thấy
  8. may mắn khi không mất nhiều tiền như họ. "Bạn không thể biết ai đang bơi mà không mặc quần cho đến khi thủy triều xuống", một trong những câu nói để đời của nhà đầu tư huyền thoại Warran Buffet. 2. Không theo số đông Một trong những quan điểm đầu tư của Macnguyen là nhà đầu tư dễ mắc sai lầm khi mua cổ phiếu mà hầu hết thuộc sở hữu của các tổ chức đầu tư tài chính. Theo nhà quản lý quỹ này, những cổ phiếu loại đó thường đắt đỏ và có nhiều người mua, nhưng cũng sẽ dễ bị các quỹ đầu tư từ bỏ một cách bất ngờ. Ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các quỹ đầu tư đã đổ tiền vào cổ phiếu ngành năng lượng và hàng hóa chính. Nhưng khi khủng hoảng năm 2008 diễn ra, những tổ chức tài chính này buộc phải bán tài sản nhằm hoàn trả tiền cho các nhà đầu tư đang hoảng sợ bởi tình hình thị trường, giá cổ phiếu những ngành trên đã giảm mạnh hơn mức giảm chung. Tất nhiên, việc chọn một cổ phiếu sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố, đó có thể là những chỉ báo trong phân tích kỹ thuật hay những yếu tố nội tại của doanh nghiệp, thay vì chỉ nhìn vào việc ai đang nắm giữ cổ phiếu đó. Tuy nhiên, nguyên tắc của Macnguyen là cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, và yếu tố đó là một trong những rủi ro mà ông quan tâm. 3. Mua những cổ phiếu đã giảm mạnh từ mức đỉnh Với Macnguyen, ông và nhóm phân tích cùng làm việc có một nguyên tắc trong việc chọn lựa cổ phiếu là luôn tìm những cái tên đang bị thị trường định giá thấp và cho rằng, sẽ có ngày thị trường định giá đúng trở lại với cổ phiếu đó. Macnguyen thường tìm kiếm các loại cổ phiếu đang trượt giá khoảng dưới 50% của hai năm kể từ mức đỉnh nhưng không thấp hơn 20% so với những đáy gần thời điểm hiện tại nhất. Sau khi tìm được một cổ phiếu phù hợp, Macnguyen và nhóm phân tích của ông nghiên cứu sâu vào công ty đó, tìm hiểu, đến thăm và rà soát thu nhập của doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư.
  9. Công ty Boston Scientific là một ví dụ. Cổ phiếu của công ty này nằm trong danh sách đầu tư của Macnguyen năm 2012 sau khi giảm giá từ 14 USD xuống 6 USD vào năm 2008. Khi cổ phiếu này giảm giá, Ivory Investment Management đã phân tích và nhận ra doanh nghiệp bắt đầu gặp khó khăn từ năm 2006, nguyên nhân là Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cấm doanh nghiệp bán những sản phẩm mới của mình trừ khi giải quyết xong những rắc rối trong sản xuất. FDA dỡ bỏ lệnh cấm này năm 2010 nhưng công ty vẫn thua lỗ. Vào năm 2012, Ivory bắt đầu mua cổ phiếu của Boston. Đến năm 2013, doanh thu của công ty này dần được ổn định lại và cổ phiếu tăng giá từ 6 USD lên 12 USD. Đóng cửa phiên 9/4/2014, giá cổ phiếu đã ở mức 18.10 USD. Mô ̣t trường hơ ̣p nữa vào năm 2012, Macnguyen đã mua cổ phiếu của công ty sản xuất chip nhớ, Micron Technology với giá 6 USD. Và đế n 09/04/2012, kết thúc phiên giao dịch, giá cố phiếu này đạt 27.82 USD và Ivory sở hữu 2 triệu cổ phiếu. Bài học ở đây là không phải cố phiếu nào giảm mạnh cũng có vấn đề. Có thể do yếu tố thị trường, sự lo ngại thái quá của nhà đầu tư vào việc chững lại của hoạt động kinh doanh. Khi bạn tìm ra được những doanh nghiệp bị định giá thấp, đó cũng giống như việc tìm ra một món hàng tốt trong một khu chợ thanh lý tài sản với giá rẻ mạt, cơ hội sẽ đến khi mọi người nhận ra giá trị thực của nó. Bởi vậy là trên thị trường mới có câu nói "không có cổ phiếu tốt hay xấu, chỉ có cổ phiếu làm mất tiền hoặc mang lại tiền".
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2