
Hà Nội, năm 2023
MÔ ĐUN: DẠY HỌC SỐ TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
----------------------------------
VIỆN ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦU
Tài liệu “Dạy học số trong GDNN” được biên soạn theo chương trình bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp dạy trình độ cao đẳng theo tiếp
cận năng lực thực hiện. Nội dung của giáo trình được cấu trúc theo 03 bài học: Thiết kế
dạy học số, Tổ chức dạy học số và Đánh giá trong dạy học số.
Mỗi bài học trong tài liệu là căn cứ quan trọng để tổ chức bồi dưỡng những kỹ
năng dạy học số cho giáo viên GDNN, qua đó, người giảng viên cao đẳng có thể rèn
luyện các kỹ năng dạy học số của bản thân. Khi triển khai bồi dưỡng, mỗi kỹ năng được
tổ chức dạy học thông qua hai nội dung: Thứ nhất, người học có được nhận thức về cơ
sở khoa học sư phạm của thiết kế, tổ chức và đánh giá kết quả học tập trong dạy học số;
Thứ hai, người học thiết kế được học liệu số dưới dạng Audio, Video, PDF, PPT,
HTML.; Sử dụng được ít nhất một hệ thống quản lý dạy học (LMS) và một số nền tảng
thông dụng hỗ trợ trong dạy học trực tuyến; Thiết kế và tổ chức đánh giá được kết quả
học tập của người học trên hệ thống LMS hoặc các ứng dụng hỗ trợ tích hợp được với
LMS.
Tập thể tác giả đã cố gắng nhiều trong nghiên cứu và biên soạn, song khó tránh
khỏi những thiếu sót nhất định, mong các bạn đọc góp ý kiến nhận xét để cuốn tài liệu
ngày càng hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Ban biên soạn

BÀI 1: THIẾT KẾ DẠY HỌC SỐ
* MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Hoàn thành bài học này, người học có khả năng:
- Kiến thức: Phân tích được vai trò, đặc trưng, các yếu tố ảnh hưởng đến dạy
học số; nguyên tắc, yêu cầu sư phạm và công nghệ đối với thiết kế dạy học số.
- Kỹ năng: Sử dụng công cụ thiết kế học liệu số và thiết kế dạy học số với công
cụ dạy học trực tuyến đảm bảo dung lượng hợp lý, dễ sử dụng, phù hợp với thiết bị và
thói quen công nghệ của người học, đảm bảo tính sư phạm.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động thực hiện thiết kế dạy học số với
công cụ dạy học trực tuyến đảm bảo tính sư phạm và an toàn.
* NỘI DUNG CỦA BÀI HỌC
1. Dạy học số
1.1. Vai trò của công nghệ số và đặc trưng của dạy học số
1.1.1. Khái niệm dạy học số
Dạy học số xuất hiện từ những năm 1980 của thế kỷ trước và ngày càng trở nên
phổ biến. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này. Tuy nhiên, có
thể điểm qua một số các giải thích khác nhau về dạy học số như sau:
- Dạy học số là việc sử dụng công nghệ mạng để thiết kế, phân phối, lựa chọn,
quản lý và mở rộng việc giảng dạy và học tập.
- Dạy học số là tổ hợp của công nghệ Internet và Web nhằm tạo ra, cho phép,
phân phối, và/hoặc cung cấp các phương tiện phục vụ việc giảng dạy và học tập.
- Dạy học số là dạy và học dựa trên công nghệ số hướng tới một hệ thống giáo
dục chất lượng tốt, tiếp cận dễ dàng.
- Dạy học số là phương thức mà GV tổ chức, hướng dẫn cho người học khám phá,
tìm tòi, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng một cách gián tiếp thông qua các phương tiện hỗ
trợ như điện thoại, máy tính, internet
- Dạy học số được hiểu là mô hình học tập được thực hiện qua Internet. Theo
cách hiểu khác, thường được gọi là học tập điện tử (E-learning).
- Dạy học số là kiểu học tập được triển khai hoàn toàn dựa trên nền tảng công
nghệ thông tin và Internet.
- Dạy học số được hiểu là một kiểu học tập từ xa - thuật ngữ chung nhất chỉ bất
kỳ việc học nào diễn ra với một khoảng cách mà không theo truyền thống (dạy trực tiếp
trên lớp học).
Theo quan điểm hiện đại, dạy học số là sự phân phát các nội dung học sử dụng
các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,…
trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio…

thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua
mạng dưới các hình thức như: Email, thảo luận trực tuyến (Chat), diễn đàn trực tuyến
(Forun) …
Như vậy, một cách chung nhất có thể hiểu, dạy học số là sử dụng các công nghệ
dựa trên nền tảng của mạng Internet để tiến hành dạy học. Về bản chất, dạy học số
trong GDNN là quá trình giáo viên tổ chức hoạt động chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng
nghề nghiệp của người học thông qua hệ thống công nghệ, người học thông qua hệ
thống công nghệ để tương tác với giáo viên, bạn cùng học và trang bị kiến thức, kỹ
năng cho bản thân; các hoạt động này được quản lý bởi hệ thống quản lý (hệ thống
công nghệ quản lý). Người học sẽ học bằng các thiết bị thông minh như máy tính/điện
thoại..., thông qua trang Web trong một lớp học ảo. Nội dung bài học sẽ được phân
phối tới học viên qua Internet, mạng intranet/extranet (LAN/WAN), băng audio và
video, vệ tinh quảng bá, truyền hình tương tác, CD-ROM, và các loại học liệu điện tử
khác. Việc triển khai áp dụng mô hình dạy học số khá đa dạng, đơn giản nhất là hình
thức cung cấp các bài giảng điện tử trên đĩa CD cho học viên tự học, phức tạp hơn là
những lớp học được tổ chức trên mạng Internet với sự quản lý một cách có hệ thống.
Theo cách này, người học không phải di chuyển đến các lớp học mà thực hiện các
hoạt động học tập từ xa thông qua các kênh giao tiếp trên Internet. Trong những năm
trước đây, các giáo viên phải tạo ra các lớp học ảo của họ từ đầu rất khó khăn và thường
dẫn đến kết quả kém. Ngày nay, toàn bộ ngành công nghiệp phần mềm đã cho ra đời
hàng loạt phần mềm ứng dụng dạy học. Các phần mềm về hệ thống quản lý khóa học
(CMS - Course Management System) được nhiều trường học sử dụng. CMS cho phép
giáo viên thiết kế và cung cấp các khóa học của họ một cách linh hoạt bao gồm một số
công cụ khác nhau để tổ chức dạy học.
1.1.2. Vai trò của công nghệ số trong dạy học Thứ
nhất, giúp hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao
Sự ra đời của công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ
và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của dạy học.
Công nghệ thông tin và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức vô
cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến
thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy.
Thứ hai, thúc đẩy tiếp cận mở trong giáo dục và dạy học
Công nghệ thông tin thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông
tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian.
Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy. Chương trình
giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả. Đi kèm
với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người

dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào. Tài nguyên
học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đaị.
Thứ ba, tạo không gian và thời gian học linh động
Công nghệ thông tin tạo điều kiện cho người học có thể học tập và tiếp thu kiến
thức một cách linh động và thuận tiện. Mọi người có thể tự học ở mọi lúc, mọi nơi, có
thể tham gia thảo luận một vấn đề mà mỗi người đang ở cách xa nhua, góp phần tạo ra
xa hội học tập mà ở đó, người học có thể học tập suốt đời.
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa học tập
Công nghệ thông tin sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà
mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu của mỗi người, từ đó mà phát triển theo thế mạnh
của từng người do cấu tạo khác nhau của các tiểu vùng vỏ não. Chính điều đó sẽ thúc
đẩy sự phát triển của các tài năng.
Thứ năm, lưu trữ nguồn tri thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên
Nếu như trước đây, việc tiếp thu kiến thức được cung cấp từ sách vở và giáo viên
thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối mạng
internet. Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục. Đổi mới
giáo dục phải chuyển nền giáo dục từ chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang phát triển
năng lực người học, bằng cách giúp người học phương pháp tiếp cận và cách tự học,
cách giải quyết vấn đề. Việc truyền thụ, cung cấp kiến thức, dần dần sẽ do công nghệ
thông tin đảm nhận, giải phóng người thầy khỏi sự thiếu hụt thời gian, để người thầy có
thể tập trung giúp người học về phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề, tổ chức các
hoạt động học tập gắn với thực tiễn nhằm phát triển năng lực của học sinh.
1.1.3. Đặc trưng của dạy học số
Dạy học số có những đặc trưng nổi bật sau đây:
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Sự phổ cập rộng rãi của
Internet đã dần xoá đi khoảng cách về thời gian và không gian cho dạy học số. Nội
dung dạy học số được chuyển tải qua mạng tới máy tính của người học, điều này cho
phép người học học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.
- Dễ tiếp cận và thuận tiện: Dạy học số được thực hiện dựa trên dịch vụ Internet,
vì vậy việc tiếp cận rất dễ dàng. Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép người học lựa
chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy
nhập mạng của mình. Người học tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp
đỡ của những tài liệu trực tuyến.
- Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng được
tích hợp dạng văn bản với các dạng hình ảnh, âm thanh, video… , điều này sẽ tạo sự lôi
cuốn, cuốn hút người học tương tác với bài học.

