
1
PHẦN 1
TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN DÀNH CHO CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG
THÁNG 04- 2010
GIỚI THIỆU
Nứt gãy hạt là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm giảm thu nhập và nguồn lương thực chủ yếu
của nông dân Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) do hiệu suất thu hồi gạo nguyên và giá trị thành
phẩm gạo giảm. Hiện tượng gãy hoặc nứt hạt riêng phần có thể xảy ra ngay trên đồng ruộng do thời
gian/phương pháp thu hoạch cũng như điều kiện sấy và quy trình xay xát lúa sau thu hoạch không thích
hợp.
Giai đoạn thu hoạch và sau thu hoạch lúa gạo là một chuỗi các hoạt động có liên quan với nhau. Hình 1
biểu diễn sơ đồ hệ thống sau thu hoạch lúa gạo tại ĐBSCL, Việt Nam. Mỗi giai đoạn đều góp phần vào
tổn thất chung. Ở đây chúng ta xem xét hai khía cạnh:
1. Tổn thất hạt (Grain loss - G): Tổn thất thu hoạch do không thu hồi hết hạt trong quá trình thu
hoạch trên đồng ruộng.
2. Tổn thất giá trị (Value loss - V): Nứt gãy hạt và giảm hiệu suất gạo nguyên làm giảm chất
lượng hạt gạo, như nứt gãy do xay xát. Giá trị gạo có thể giảm đến 50% hoặc thấp hơn.
Do đó, tài liệu này được chia thành 4 phần chính như sau:
1. Thời gian thu hoạch
2. Phương pháp thu hoạch
3. Phương pháp sấy
4. Xay xát
Tổn thất do thu hoạch chỉ liên quan đến hai phần đầu tiên, trong khi đó toàn bộ các hoạt động trong thu
hoạch và sau thu hoạch đều ảnh hưởng đến nứt gãy hạt và hiệu suất thu hồi gạo nguyên.
Những nhân tố chính góp phần làm gãy hạt và giảm giá trị gạo là:
• Thời điểm thu hoạch trước và sau thời điểm chín sinh lý.
• Phương pháp thu hoạch – gặt tay, gặt máy, máy gặt đập liên hợp.
• Phương pháp sấy – phơi sấy hay sấy cơ học.
• Tổn thất do xay sát – hệ thống xay xát nhỏ, vừa hoặc lớn, quy trình xay xát.

2
Hình thức tổn thất
Trong thu hoạch
Thời gian Tại ngày chín sinh lý G
Sau ngày chín sinh lý G+V
Phương pháp Gặt tay + Gom tay + Tuốt máy
Gặt xếp dãy + Gom tay + Tuốt máy G+V
Gặt xếp dãy + Gom liên hợp (gom + tuốt)
Gặt đập liên hợp
Vận chuyển G
Sấy lúa
Phơi đồng G+V
Phơi sân G+V
Sấy bằng máy sấy Sấy đúng G
Sấy sai G+V
Vận chuyển G
Bảo quản V
Vận chuyển G
Xay xát
Qui mô nhỏ V+++
Qui mô vừa V++
Qui mô lớn V+
Hình 1: Hệ thống sản xuất lúa gạo sau thu hoạch ở ĐBSCL, Việt Nam và các thành phần tổn
thất. G là tổn thất hạt, V là tổn thất giá trị, +, ++ và +++ cho biết mức độ tổn thất.
TỔNG QUAN VỀ TỔN THẤT SAU THU HOẠCH

3
Bảng 2 tổng kết về tổng tổn thất sau thu hoạch dựa trên số liệu thu hoạch trong hai năm qua tại khu vực
ĐBSCL. Trong các bảng này, các giá trị được ước lượng tổng quát từ những giống khác nhau. Các giá
trị là tương đối giữa các trường hợp. Ví dụ như thu hoạch trễ gây tổn thất 3.5% so với thu hoạch đúng
thời điểm. Gía trị thất thoát tại thời điểm thu hoạch đúng được xem bằng 0%.
• Từ số liệu khảo sát quá trình xay xát, một hệ thống xay xát chất lượng trung bình gây tổn thất
giá trị khoảng 4% khi so sánh với hệ thống xay xát chất lượng cao (được xem là tổn thất 0%).
• Số liệu thực nghiệm của máy sấy tĩnh cho thấy quá trình sấy không thích hợp gây tổn thất 5%
giá trị so với trường hợp sử dụng quá trình sấy hợp lý (được xem là tổn thất 0% giá trị).
• Phơi đồng (lúa sau khi cắt được để trên đồng cho khô) gây tổn thất 8.7% so với 4% khi phơi
sân (giá trị tương đối so với quy trình sấy thích hợp).
Bảng 2: Đánh giá chung về tổng tổn thất sau thu hoạch (thu hoạch trễ, chất lượng xay xát trung bình)
Thời điểm
thu hoạch
Phương
pháp
thu hoạch
Đập lúa Phơi lúa Sấy lúa Xay xát Tổng
(%)
Phơi đồng V=8.7%) 13.1
Phơi sân (V=4%) 8.4
Đúng (0%) 4.4
Gặt tay/ Gặt
xếp dãy
(G=2.9%)
Có
(V=1.5%)
Sai (V=5%) 9.4
Phơi sân (V=4%) 6.7
Đúng (0%) 4.2
Đúng
(V=0%) Gặt đập
liên hợp
(G=1.2%
V = 1.5%)
Không
(0%) Sai (V=5%)
Chất
lượng
tốt
(0%)
7.9
Phơi đồng (V=8.7%) 20.6
Phơi sân (V=4%) 15.9
Đúng (0%) 11.9
Gặt tay/ Gặt
xếp dãy
(G=2.9%)
Có
(V=1.5%)
Sai (V=5%) 16.9
Phơi sân (V=4%) 14.2
Đúng(0%) 10.2
Trễ
(V=3.5%) Gặt đập
liên hợp
(G=1.2%
V = 1.5%)
Không
(0%) Sai(V=5%)
Chất
lượng
trung
bình
(4%)
15.2
Ghi chú: V= Tổn thất giá trị, G = Tổn thất hạt.
Bảng 2 cho thấy có 3 trường hợp cần lưu ý như sau:
1. Tổng tổn thất cao nhất là 20.6% bao gồm tổn thất do thu hoạch trễ (3.5%), cắt tay (2.9%), đập
(1.5%), phơi đồng (8.7%), quy trình sấy không phù hợp (5%) và xay xát bằng hệ thống có chất
lượng trung bình (4%).
2. Thông thường tổng tổn thất dao động trong khoảng 12.4 đến 15.9% bao gồm thời điểm thu
hoạch đúng (hoặc trễ), cắt tay, đập, phơi sân và sử dụng hệ thống xay xát trung bình.

4
1. ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN THU HOẠCH LÊN SỰ NỨT GÃY
HẠT GẠO VÀ TỔN THẤT CHẤT LƯỢNG
Tổn thất hạt tự nhiên trong suốt quá trình thu hoạch có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy vào
từng giai đoạn và thiết bị sử dụng.
Tổn thất trong quá trình cắt:
• Tổn thất do rơi vãi: hạt chín bị rơi vãi từ bông lúa do các loại chim, gió, chuột và thao tác cắt.
• Tổn thất do ngã đổ: lúa chín bị ngã, do đó rất khó thu hồi hạt trên những cây này.
• Tổn thất do gặt sót: lúa chín chưa gặt còn sót lại trên đồng sau khi thu hoạch.
Tổn thất trong quá trình tuốt và làm sạch
• Tổn thất do phân riêng: hạt bị lẫn với rơm trong quá trình làm sạch.
• Tổn thất do rơi vãi: hạt bị rơi vãi trên đất trong quá trình đập và làm sạch.
• Tổn thất do quá trình đập hoặc do chưa phân riêng: một số hạt vẫn còn dính trên bông lúa trong phần rơm sau khi
đập xong.
Tổn thất do thao tác
• Tổn thất do thao tác: hạt chín bị thất thoát trong quá trình bốc dỡ, chuyên chở, chất hàng, tháo liệu và nhập liệu.
Thời điềm thu hoạch không phù hợp sẽ làm tăng tổn thất thu hoạch. Nguyên nhân chính là do thu
hoạch trễ vì khi đó sẽ làm tăng tổn thất do rơi vãi, ngã đổ và gặt sót.
Thời điểm thu hoạch không phù hợp là một trong những nguyên nhân chính gây tổn thất do nứt gãy
hạt. Nứt gãy hạt có thể tăng do sự thay đổi ẩm độ của hạt khi chuyển từ ngày nóng sang đêm ẩm
ướt. Hiện tượng nứt gãy hạt trên đồng phụ thuộc vào từng mùa vì biến động nhiệt độ giữa ngày và
đêm khác nhau cũng như mức độ, cường độ chiếu sáng, và tần số mưa. Vào mùa mưa, nứt gãy hạt
trong giai đoạn chín trễ sẽ tăng do hiện tượng hồi ẩm. Trong khi đó hạt sẽ bị quá khô nếu không thu
hoạch đúng thời điểm trong mùa khô. Do vậy chúng ta cần phải phân biệt rõ thời điểm thích hợp để
thu hoạch lúa.
Ước tính thời điểm thu hoạch thích hợp
Thời điểm thu hoạch khuyến cáo cho mỗi giống được tính từ thời điểm sạ lúa trong mỗi mùa. Bảng 3
trình bày thời gian sinh trưởng ước tính từ ngày sạ đến ngày thu hoạch cho một số giống lúa ở ĐBSCL:
Bảng 3. Thời gian sinh trưởng khuyến cáo của một số giống lúa từ các Trung tâm khuyến nông
Giống Thời gian sinh trưởng
khuyến cáo (ngày)
Giống Thời gian sinh trưởng
khuyến cáo (ngày)
OM1490 87-92 OM2517 85-90
OM2718 90-95 IR50404 90-95
Jasmine 95-105 OM4498 90-95
AG24 85-90
Tuy đây là phương pháp hữu dụng để ước tính thời điểm thu hoạch, nhưng thời điểm thu hoạch ở mỗi
vụ khác nhau vì một số lúa chín nhanh hơn hoặc chậm hơn, ví dụ, trường hợp lúa bị nhiễm mặn.

5
Do vậy, thời điểm thu hoạch sẽ được xác định chính xác hơn khi chúng ta quan sát toàn bộ quá trình
sinh trưởng của lúa trong mỗi vụ. Phương pháp thông dụng nhất có lẽ là ước tính thời gian từ ngày lúa
trổ và cộng thêm số ngày để hạt ngậm sữa. Trong mùa khô, thời gian tối ưu là 28 đến 35 ngày sau khi
trổ. Trong mùa mưa, thời điểm tối ưu là 32 đến 38 ngày sau trổ. (This needs to be converted to
Vietnamese seasons.- I will find the data and add to this paragraph)
Khi vụ lúa gần đến thời điểm tối ưu dự tính cho thu hoạch, chúng ta cần phải quan sát tiếp để xác định
chính xác thời gian thu hoạch. Đô ẩm hạt lý tưởng để thu hoạch là khoảng 20 – 25% (cơ sở ướt). Hạt
phải cứng nhưng không bị nát khi cắn trong miệng. Tuy nhiên, do mưa thường xuyên trong vụ Hè Thu
ở ĐBSCL nên hàm ẩm của lúa tươi thường vào khoảng 28-30%. Do đó cần phải sấy lúa ngay nhằm
tránh hạt bị gãy nứt, nảy mầm hay nấm mốc gây hư hỏng.
Xung quanh thời điểm này, nên thu hoạch lúa khi 80 – 85% hạt chuyển sang màu vàng rơm ( xem ảnh).
Việc thu hoạch cũng cần được tính toán sao cho có thể tiến
hành đập (tuốt) sớm nhất sau khi gặt nhằm tránh hiện tượng
hồi ẩm và giảm nứt gãy hạt. Vì vậy, gặt đập liên hợp là
phương pháp thu hoạch tốt nhất.
Nếu cây lúa có quá nhiều ẩm bề mặt (do cơn mưa trước
hoặc do sương sớm), thì nên chờ đến khi bề mặt lúa khô ráo
mới tiến hành gặt.
Trên cơ sở các thí nghiệm với 7 giống lúa trong 3 vụ từ năm
2006 đến 2008, thời điểm thu hoạch thu hợp tối ưu đối với mỗi giống cho mỗi mùa (khô/mưa) được
trình bày trong Bảng 4. Hầu hết đều rơi vào khoảng ngày đã đề nghị trong Bảng 3. Tuy nhiên một số
trường hợp nằm ngoài khoảng này, đó là giống OM2517 (94 ngày trong mùa mưa), AG24 (94 ngày
trong mùa mưa) và OM2718 (88 ngày trong mùa mưa).
Bảng 4: Thời điểm sinh trưởng tối ưu cho tỉ lệ thu hồi gạo nguyên cao nhất
(các số màu đỏ là thời gian sinh trưởng tối ưu cho thu hoạch)
Giống lúa Mùa Thời gian sinh trưởng (ngày)
Khô 88 90 92 94 96 98
OM1490 Mưa 88 90 92 94 98 104
Mưa 88 90 92 94 96 98
OM2718 Khô 88 90 92 94 96 98
Mưa 86 88 90 92 94 96
OM2517
Khô 82 84 86 88 90 92
Mưa 86 88 90 92 94 96
OM4498
Khô 87 89 91 93 95 97
Jasmine Mưa 94 96 98 100 102 104
AG 24 Mưa 86 88 90 92 94 96
IR50404 Khô 88 90 92 94 96 98
Tổn thất sản lượng
Chọn thời điểm thu hoạch thích hợp rất quan trọng nhằm tránh tổn thất. Tổn thất hạt có thể do chuột,
chim, côn trùng, lúa ngã đổ và do rơi vãi. Thời điểm thu hoạch đảm bảo chất lượng hạt tốt cũng như giá
trị thương mại cao.

