

1
NỘI DUNG
BÀI 1: SỬ DỤNG THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT TRONG PHÒNG THÍ
NGHIỆM BÀI 2: TÍNH CHẤT – ĐỊNH TÍNH PROTEIN BÀI 3 : ĐỊNH
LƯỢNG PROTEIN BÀI 4: XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG BÀI 5 : ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH
LƯỢNG VITAMIN
Bài 6: LIPID

2
BÀI 1: SỬ DỤNG THIẾT BỊ, DỤNG CỤ VÀ PHA CHẾ
DUNG DỊCH HÓA CHẤT
I. THIẾT BỊ THÔNG DỤNG TRONG PTN SINH HÓA
1.1. Phương pháp quang phổ - máy đo quang phổ tử ngoại khả kiến
Khi dòng ánh sáng trắng xuyên qua một dung dịch màu, các bước sóng nhất định
(tùy thuộc vào bản chất của dung dịch) sẽ bị hấp thụ, trong khi những bước sóng khác
thì gần như không bị ảnh hưởng. Màu của dung dịch sẽ là màu của những bước sóng
không hấp thụ. Những điều đó được tổng hợp một cách đơn giản sau:
Ánh sáng trắng tới Ánh sáng hấp thụ
Ánh sáng không
hấp thụ
Màu của dung
dịch
Đỏ
Vàng
Và Xanh da trời
Vàng Và Xanh da trời Đỏ Đỏ
Xanh da trời Đỏ và Vàng Da cam
Xanh da trời và Đỏ Vàng Vàng
Đỏ
Vàng và Xanh da
trời Xanh lá cây
Đỏ và Vàng Xanh da trời Xanh da trời
Vàng Xanh da trời và Đỏ Tím
Cường độ của màu dung dịch có thể được xác định bằng cách đo cường độ ánh
sáng hấp thụ bởi hợp chất màu có trong dung dịch. Vì dùng ánh sáng trắng để đo cường
độ màu, nên ánh sáng hấp thụ cách càng xa càng tốt những ánh sáng không bị hấp thụ
bởi dung dịch màu. Ví dụ: để đo độ hấp thụ ánh sáng của một dung dịch màu đỏ thì dùng
ánh sáng vàng-xanh da trời (chính là ánh sáng xanh lá cây) là thích hợp nhất. Tốt nhất
là dùng ánh sáng của một bước sóng riêng (ánh sáng đơn sắc). Ánh sáng đơn sắc này có
thể được tạo ra từ giấy lọc, lăng kính hoặc cách tử nhiễu xạ trong máy so màu và máy
quang phổ.
Định luật Lambert-beer
Nếu ánh sáng đơn sắc xuyên qua một dung dịch màu thì cường đọ ánh sáng hấp
thụ sẽ phụ thuộc vào:
- Độ dài đường sáng qua dung dịch.

3
- Nồng độ của chất tan hấp thụ ánh sáng.
Mối liên hệ này được biểu hiện bằng định luật Lambert-Beer trong phương trình sau:
Log10(Io/Ie) = K.C.l Trong
đó: Io: cường độ của tia tới.
Ie: cường độ của tia đi ra.
K: hệ số tắt hoặc chỉ số hấp thụ phân tử (cũng có thể dùng ε thay cho K).
C: nồng độ dung dịch.
l: chiều dài của ánh sáng đi qua dung dịch (thường là 1 cm).
Log10(I0/Ie) được gọi là mật độ quang (OD – optical density) hay khả năng
hấp thụ, hay cường độ hấp thụ (A – absorbency). Trong thực hành giá trị
này không phải tính mà thu được trực tiếp từ máy.
Từ phương trình thấy rằng khi l (chiều dài) được giữ không đổi thì mật độ quang
sẽ tỷ lệ thuận trực tiếp với nồng độ của chất màu. Vì vậy, đường chuẩn sẽ được vẽ từ
một dãy các dung dịch chuẩn với những nồng độ khác nhau.
Nồng độ của dung dịch nghiên cứu sẽ được xác định trên đường chuẩn này.
1.2. Cân và sự cân
Cân dùng để xác định khối lượng. Thông thường, trong phòng thí nghiệm phân
tích thường sử dụng 2 loại cân: cân kỹ thuật và cân phân tích.
− Cân phân tích dùng để cân các khối lượng nhỏ, độ chính xác đến 0,1 - 0,001mg. −
Cân kỹ thuật cân được khối lượng lớn và độ chính xác thấp hơn.
Khối lượng cân được càng nhỏ bao nhiêu có nghĩa độ nhạy cân càng cao. Tuy
nhiên không phải trong bất kì trường hợp nào cũng dùng cân phân tích. Lượng cân cần
thiết đến độ chính xác bao nhiêu thì sử dụng cân đáp ứng cần thiết đáp ứng.
Chú ý khi sử dụng cân:
C
OD

4
Thao tác đối với cân phân tích phải nhẹ nhàng, vật đặt lên cân không nên đặt quá
mạnh và đặt ngay tại tâm mặt cân.
Tổng khối lượng trên mặt cân phải nhỏ hơn giới hạn tối đa của cân.
Tuyệt đối không cân những hóa chất ăn mòn cân nếu không có dụng cụ bảo vệ
hoặc phải sử dụng dụng cụ chứa hóa chất cần cân có độ kín khí.
Không dùng đĩa cân có khối lượng quá lớn dẫn đến sai số lớn khi cân (đĩa cân
càng nhỏ thì có độ đúng càng cao).
1.3. Phương pháp xác định trọng lượng khô tuyệt đối
Cân chính xác khoảng m (g) mẫu (lặp 3 lần đối với mỗi mẫu) trong dụng cụ đã
được sấy khô. Đem sấy ở 105oC trong tủ sấy đến khối lượng không đổi (thời gian sấy
tùy theo trạng thái mẫu). Sau khi sấy cho ngay vào bình hút ẩm, để nguội (khoảng 30 –
45 phút) đem cân chính xác. Cân mẫu thử sau khi sấy. Nước bốc hơi hoàn toàn khi hai
lần cân thử cách nhau vài mg. Từ đó xác định trọng lượng khô tuyệt đối của mẫu. Từ sự
chênh lệch của mẫu trước và sau khi sấy, tính được độ ẩm của nguyên liệu.
II. SỬ DỤNG DỤNG CỤ ĐO
2.1. Buret
Buret là một dụng cụ đo thể tích thông dụng trong phòng thí nghiệm. Dụng cụ
cho phép lấy một thể tích dung dịch chính xác và từ đó tính được hàm lượng (nồng độ)
dung dịch sử dụng cho phản ứng.
Trên buret người ta khắc vạch và những số để đo thể tích tiêu tốn khi chuẩn độ.
Các buret có dung tích 25 – 50 ml dùng trong phân tích lượng lớn. Những buret loại này,
người ta khắc vạch với độ chính xác 0,1 ml. Khoảng giữa 2 vạch gần nhau được chia
ước lượng bằng mắt. Đọc thể tích dung dịch không màu theo phần dưới mặt lồi, dung
dịch có màu theo phần trên mặt lồi. Muốn đọc một phần trăm ml ta dùng kính lúp. Trong
nhật ký thí nghiệm, ta ghi các kết quả đo được với 2 số lẻ sau dấu phảy.
Các buret trong phân tích vi lượng được khắc chia đến 0,01 ml, nên dùng nó có thể
đo với độ chính xác lớn đến phần nghìn ml.
Cách sử dụng:
Kẹp buret ở vị trí thẳng đứng, trước mỗi lần chuẩn độ ta phải đổ dung dịch chuẩn
vào buret tới vạch 0. Khi đọc chỉ số trên buret, mắt phải để ngang với vạch chất lỏng.
Cuối quá trình chuẩn độ phải nhỏ từng giọt dung dịch. Cần tiến hành chuẩn độ vài
lần. Kết quả của phép chuẩn độ là giá trị trung bình của một số phép xác định song song.

