
Năm
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
***
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC CÂY
XOÀI VÀ BẢO QUẢN SẢN PHẨM
SAU THU HOẠCH
Đồng Nai, tháng 5 năm 2019
1

TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRÔNG, CHĂM SÓC CÂY XOÀI VÀ BẢO QUẢN
SẢN PHẨM SAU THU HOẠCH
I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng
Tài liệu cây xoài được áp dụng ở các huyện ở thành phố Hồ Chí Minh và các
địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng
Áp dụng cho cây xoài.
3. Đặc điểm, đặc tính
- Rễ: Phần lớn rễ phân bố ở tầng đất 0 – 50 cm ở những vùng có mực nước
ngầm thấp hay đất cát rễ có thể ăn rất sâu (6 – 8m). Tuy nhiên, phần lớn rễ tập
trung trong phạm vi cách gốc khoảng 2m.
- Thân, tán cây: Xoài là loại cây ăn quả thân gỗ mọc rất khỏe. Ở những nơi
trảng, chiều cao cây và tán cây có đường kính tương đương. Tán cây lớn hoặc nhỏ
tùy theo giống.
- Lá và cành: Một năm xoài có thể ra 3 – 4 đợt chồi tùy theo giống, tùy vào
tuổi cây, thời tiết khí hậu và tình hình dinh dưỡng; cây con ra nhiều đợt chồi hơn
so với cây đang cho quả; cây già rất khó ra chồi. Lá non sau 35 ngày mới chuyển
xanh hoàn toàn, mỗi lần ra lá, cành xoài dài thêm 20 – 30 cm.
- Hoa: Hoa ra từng chùm ở ngọn cành, chùm hoa dài khoảng 30 cm, có 200
– 400 hoa. Mỗi chùm thường có 2 loại hoa: hoa lưỡng tính và hoa đực. Tỉ lệ hoa
đực và hoa lưỡng tính trên cây phụ thuộc vào giống và điều kiện khí hậu ở địa
điểm trồng. Thường thì hoa lưỡng tính chiếm từ 1 – 36%. Xoài là cây thụ phấn
chéo, thụ phấn nhờ côn trùng là chủ yếu. Thời gian tiếp nhận hạt phấn của nhụy rất
ngắn, chỉ sau vài giờ. Ở xoài nhụy thường chín trước, thời gian tốt nhất để nhụy
tiếp nhận hạt phấn là lúc mặt trời mọc, trong khi đó nhụy đực tung phấn chỉ vào
khoảng 8 – 10 giờ sáng. Sự không trùng hợp này là nguyên nhân cản trở sự thụ
phấn và thụ tinh của xoài.
Những nguyên nhân khác làm xoài đậu quả kém là ảnh hưởng của điều kiện
ngoại cảnh như: vào thời gian hoa nở gặp mưa, lạnh, độ ẩm và nhiệt độ không khí
cao.
- Quả: Sau khi thụ tinh thì quả phát triển. Thời gian từ thụ tinh đến chín là 2
tháng đối với giống chín sớm, 2 – 3,5 tháng đối với giống chín trung bình, 4 tháng
đối với giống chín muộn.
4. Các yêu cầu của mô hình
4.1. NhiệtWđộ
1

Xoài có thể chịu đựng được nhiệt độ 10oC – 46oC nhưng thích hợp nhất ở
nhiệt độ 24 – 27oC, nhiệt độ cao và ẩm độ không khí cao gây hại cho sự phát triển
của cây.
4.2. Lượng mưa và độ ẩm không khí
Lượng mưa trung bình từ 1000 - 1200 mm, ẩmmđộ không khí tương đối từ 55
- 70%.
4.3. Chế độ gió và độ cao
Vùng trồng xoài phải chọn nơi tránh ảnh hưởng trực tiếp của bão, lốc xoáy,
gió mạnh trên cấp 4, đặc biệt trong khoảng thời gian từ 12/4 là thời gian cây đang
mang trái. Nơi chịu ảnh hưởng của gió to theo các đợt gió mùa hàng năm thì phải
bố trí hệ thống cây chắn gió hợp lý trước khi trồng. Độ cao của vùng trồng xoài
khôngmđược vượt quá 600m so với mực nước biển.
4.4. Điều kiện đất đai:
Đất trồng xoài phải thoả mãn các yếu tố sau: độ dầy tầng canh tác ít nhất 1
m tính từ mặt đất trồng, có cơ cấu thịt pha cát hay thịt nhẹ với tỷ lệ sét không quá
50%, tơi xốp, mực nước ngầm thấp hơn 80 cm. Độ pH nước từ 5,0 – 6,5.
4.5. Yêu cầu tưới tiêu:
Hệ thống tưới tiêu phải đảm bảo điều tiết lượng nước cho nhu cầu sinh
trưởng và phát triển của cây xoài tươngmđương với lượng nước 11.000 m3 /ha/năm.
5. Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam
Xoài được trồng ở khoảng 90 nước và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế
giới, trong đó châu Á chiếm 77 % sản lượng, châu Mv 13% và châu Phi 9%. Xét
về cây ăn quả nhiệt đới thân gỗ thì xoài chiếm trên 50% sản lượng quả nhiệt đới.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của cây xoài ở vùng này. Sản lượng xoài toàn
cầu vào năm 2005 được ước lượng là 28.508.000 tấn. Trong thập niên qua tốc độ
tăng trưởng của ngành trồng xoài là 2,6%, (Evans, 2009). Số liệu của Faostat năm
2009 đã ghép chung xoài với măng cụt và ổi thì diện tích ba cây này trên toàn cầu
(trong đó ổi và măng cụt không nhiều) là 5.092.800 ha cho sản lượng 35.124.000
tấn (Faostat, 2009). Ba nước dẫn đầu thế giới về sản xuất xoài là Ấn Độ, Trung
quốc và Thái lan. Trong đó Ấn độ chiếm độ 38% về diện tích xoài và chiếm độ
40% sản lượng xoài toàn cầu. Trong khối ASEAN nước ta đứng thứ tư về sản xuất
xoài sau Thái Lan, Indonesia và Philippines. Thái lan thành công trong xuất khẩu
xoài ăn tươi và Mexico thành công trong phát triển xoài chế biến.
Xoài được trồng nhiều ở các nước đang phát triển và các nước mới nổi.
Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước, chỉ khoảng 3-4 % sản lượng xoài là gia
nhập thị trường thế giới. Mv nhập khẩu khoảng 1/3 lượng xoài này. Các nước đã
phát triển không quan tâm đến sản xuât xoài ngoài việc nhập xoài để ăn. Khuynh
hướng nhập xoài những năm gần đây tăng nhanh ở Mv, Châu Âu và các nước phát
triển khác chứng tỏ thị trường tiềm năng của loại quả này còn nhiều. Một cách
tổng quát mạng lưới xuất nhập khẩu như sau: 1) xoài của Mehico và vài nước Mv
Latin xuất cho Bắc Mv; 2) Xoài của Ấn độ, Pakistan bán cho Anh; 3) xoài của
2

Israel và Phi châu xuất cho châu Âu và 4) xoài của Philippines, Thái, Taiwan, Úc
bán cho Nhật, Hongkong, Singapore, Trung Quốc. Việt Nam có gia nhập thị
trường xoài thế giới bán cho nhiều nước nhưng số lượng còn ít.
Ở nước ta hiện nay xoài được trồng ở cả ba miền, nhưng chủ yếu là ở Nam
bộ. Xoài của ta có nhiều giống, trong đó một số giống có dạng quả đẹp, kích thước
to, màu sắc và hương vị hấp dẫn.
Ở các tỉnh phía Nam nước ta có hàng chục giống xoài khác nhau. Tại Viện
Cây ăn quả miến Nam (CAQMN), Đào thị Bé Bảy và Phạm Ngọc Liễu (2003) đã
sưu tập một tập đoàn xoài 85 giống gõm 46 giống ở Việt Nam và 39 giống nhập
nội. Kết quả bước đầu đã được đánh giá và công bố.
Một cách tổng quát trên thị trường có một số giống nổi trội, đó là Cát Hòa
Lộc (có phẩm chất ngon), Cát chu (cây sai quả, có năng suất cao), xoài Bưởi (mau
cho quả, năng suất cao, thích nghi rộng), và xoài Canh Nông (tỉnh Khánh Hòa) dễ
ra quả và có năng suất cao, vv. Bên cạnh các giống xoài ăn chín vẫn tồn tại một
giống xoài ăn xanh địa phương là xoài Tượng (xuất khẩu được). Mỗi giống trồng
có các ưu khuyết điểm riêng của nó, và tất nhiên không một giống nào là toàn hảo.
(Nguyễn Văn Kế, Trịnh Xuân Vũ, và ctv. 1995).
2.4. Một số kết quả nghiên cứu trong sản xuất xoài
Các nghiên cứu về kỹ thuật
- Vấn đề nhân giống và chuyển đổi giống xoài
Không cần bàn cãi nhiều trong thực tế xoài được nhân bằng phương pháp ghép
cây hay tháp cây, đây là phương pháp đã áp dụng ở Việt Nam nhiều năm. Các
phương pháp nhân giống khác ít được áp dụng. Chủ yếu ở Việt Nam ưa thích kiểu
ghép bo, mặc dầu xoài có thể ghép nhiều kiểu ghép khác nhau như tại Thái họ
chuộng kiểu ghép đeo bàu (hay còn gọi là kiểu ghép áp giả (inarching). Kiểu ghép
đọt nêm bên hông ngay dưới lớp vỏ là dễ thực hiện và tỏ ra thích hợp khi nhân một
giống xoài mới di thực hay mới lai tạo được, (Nguyễn Văn Kế và ctv., 2003). Nhà
vườn ở nước ta chủ yếu chú trọng mắt ghép, việc chọn lựa và quản lý gốc ghép ít
được quan tâm. Các nghiên cứu về gốc ghép xoài ở nước ta còn khá ít và lẻ tẻ vì nó
đòi hỏi theo dõi một thời gian khá dài. Tại Ấn độ người ta đã thực hiện việc nghiên
cứu gốc ghép từ lâu. Trong các tiêu chí GAP có những hạng mục về quản lý gốc
ghép, vậy chúng ta cần quan tâm hơn nữa về mảng này. Ngoài việc nhân giống,
nông dân ta còn sử dụng phương pháp ghép cây để cải tạo vườn và chuyển đổi
giống mới khá thành công, (Nguyễn Văn Kế, Lê Phạm Hòa, Nguyễn Phương Anh
và Phạm Bá Tòng. 1998).
- Kỹ thuật xứ lý ra hoa: Trong thời gian qua nhiều cơ quan nghiên cứu đã thực
hiện các mảng đề tài về kv thuật canh tác xoài, trong đó tập trung nhiều vào kv
thuật xử lý ra hoa cho xoài. Rải vụ xoài, muốn có quả nghịch vụ (sớm hơn hoặc
muộn hơn chính vụ) để được giá nâng cao lợi tức cho nông dân là một việc cần
làm. Tại trường Đại học Cần Thơ các tác giả Trần Văn Hâu, Nguyễn Bảo Vệ và
ctv. (2005) đã tiến hành xử lý ra hoa cho xoài Cát Hòa Lộc ở một số tỉnh ĐBSCL.
3

Nguyễn Việt Khởi và Nguyễn Bảo Vệ (2005) đã thực hiện trên giống xoài Châu
Hạng Võ. Tương tự tại Đại học Nông Lâm (ĐHNL) TP. HCM các tác giả Nguyễn
Văn Kế, Nguyễn Văn Phong, Nay Meng, Nguyễn minh Đông (2003, 2005) đã thực
hiện các thí nghiệm trên giống xoài Cát Hòa Lộc và các giống xoài Thái nhập vào
Việt Nam được trồng tại TP. HCM và tỉnh Bình Dương. Lê Bá Ninh (2006) đã
thực hiện xử lý ra hoa trên giống xoài Canh Nông ở Khánh hòa. Trước năm 1975
việc xử lý xoài ra hoa nghịch vụ ít đươc chú ý. Sau khi C. Barba công bố các thí
nghiệm xử lý xoài Carabao bằng KNO3 thành công ở Philippine vào năm 1973 thì
người ta đã chú ý việc này. Những năm của thập niên 1980 và đầu thập niên 1990
chủ yếu xử lý ra hoa bằng cách phun nitrat kali vào lá xoài, đã có những thành
công nhất định. Sau này việc áp dụng các hóa chất paclobutrazol, thiourea và nitrat
kali đã làm tỉ lệ ra hoa cao hơn và rõ rệt hơn. Các thành tựu ấy đã thể hiện trong
thực tế là kéo dài mùa xoài, giảm bớt nguy cơ trúng mùa mất giá! Người tiêu dùng
được hưởng lợi là có xoài ăn hầu như quanh năm. Nhưng đồng thời một vấn đề mà
chúng ta phải quan tâm là sức khỏe của cây trồng khi xử lý nhiều vụ liên tiếp, vấn
đề môi trường và sức khỏe cho nhà nông khi sử dụng lâu ngày các hóa chất.
- Kỹ thuật bón phân: đã có một số thí nghiệm về phân bón cho xoài không
những do các viện trường thực hiện mà còn nhiều công ty phân bón tham gia vào.
Chỉ xét riêng về phân bón lá nhiều công ty đã chế ra các sản phẩm chuyên dùng
cho xoài ở các giai đoạn khác nhau, các tỉ lệ NPK và vi lượng đáp ứng nhu cầu
từng thời kỳ của cây, tạo sự tiện lợi cho nhà nông. Tương tự cho phân bón rễ đã
xuất hiện các loại phân NPK có tỉ lệ thay đổi theo từng thời kỳ của cây.
Nguyễn An Đệ (2010) điều tra một số vườn xoài ở Đồng Nai đã cho thấy rằng
trên đất cao, mưa nhiều nên sự rửa trôi rất mạnh dẫn đến đa số đất trồng xoài bị
thiếu hụt Ca và Mg. Canxi làm vách tế bào cứng cáp nên giúp bảo quản quả được
lâu, và đồng thời cải thiện độ chắc của thịt quả. Công trình đã được thực hiện trên
xoài Cát Hòa Lộc bởi Võ thị Xuân Tuyền, Lê Bảo Long và Lê Văn Hòa. (2005),
trên giống xoài Châu Hạng Võ bởi Lê Bảo Long và Nguyễn Bảo Vệ (2005). Các
loại phân bón lá có hàm lượng canxi cao như Ca(NO3)2, Calmax, Sicogreens đã tỏ
ra có hiệu quả trong việc cải thiện sự thụ quả, năng suất, phẩm chất và kéo dài thời
gian tồn trữ quả xoài Bưởi (Nguyễn An Đệ và Nguyễn Văn Kế, 2010). Việc xây
dựng qui trình kv thuật bón phân bao gồm cả phân bón rễ và phân bón lá cho các
vùng xoài khác nhau để xoài có năng suất cao và chất lượng tốt là một việc cần
làm.
Các kết quả nghiên cứu về thành phần, đặc điểm sinh học, điều kiện phát
sinh, phát triển của các loại sâu, bệnh hại trên xoài đã được thực hiện rất nhiều tại
ĐBSCL. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới ghi nhận, xoài là ký chủ ưa thích của
nhiều dịch hại có hơn 492 loại côn trùng, 17 loại nhện, 26 loài tuyến trùng, trên
100 loại bệnh hại tại Việt Nam ghi nhận có 80 loại côn trùng, 3 loại nhện trên 30
sâu bệnh hại (Nguyễn Thị Thu Cúc và csv, 2003). Kết quả điều tra về tình hình sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật trên xoài tại ĐBSCL cho thấy 97% nhà vườn phòng trừ
côn trùng chủ yếu dựa vào thuốc hóa học (36 loại thuốc trừ sâu) với số lần sử dụng
4

