
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC MĂNG CỤT
VÀ QUẢN LÝ VƯỜN PHỤC VỤ
KHÁCH DU LỊCH
Đồng Nai, tháng 5 năm 2019
1

TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC MĂNG CỤT VÀ QUẢN LÝ VƯỜN
PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH
I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng
Tài liệu này áp dụng cho cây măng cụt được trồng ở thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương và các địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng
Áp dụng cho cây măng cụt.
3. Đặc điểm, đặc tính cây măng cụt
Măng cụt (Garcinia mangostana Linn) là loài cây ăn quả nhiệt đới có phẩm
chất ngon và quen thuộc tại Đông Nam Á. Do có yêu cầu sinh thái khắt khe nên
trên thế giới chỉ có một số ít nước sản xuất được măng cụt như Thái Lan,
Indonesia, Malaysia, Philipines và Việt Nam, các quốc gia khác diện tích măng
cụt không đáng kể. Đến nay toàn thế giới có khoảng 280.000ha măng cụt với
sản lượng khoảng 250.000 tấn (FAO, 2010), tuy ít nhưng người dân trên khắp
thế giới rất ưa chuộng tiêu thụ. Vì vậy mà măng cụt được xem là loại quả hiếm,
được ví như “nữ hoàng của các loại trái cây” (Queen of fruits) và có giá trị
thương mại cao. Măng cụt cũng là loại quả dễ tồn trữ sau thu hoạch và vận
chuyển xa nên ngoài tiêu thụ nội địa, sản xuất măng cụt còn có nhiều cơ hội xuất
khẩu với thị trường rộng và sức cầu rất lớn. Có thể nói sản xuất măng cụt mang
lại hiệu quả kinh tế cao và miền Đông Nam bộ của Việt Nam là một trong
những khu vực được thiên nhiên ưu đãi để sản xuất loại trái cây quý hiếm này.
Măng cụt (Garcinia mangostana Linn), tên tiếng anh (mangosteen), tên
khác (Giáng Châu, Sơn Trúc Tử, Măng…) thuộc họ Bứa (Guttiferae) là họ lớn
có tới 35 giống và hơn 800 loài phân bố ở vùng nhiệt đới. Garcinia có khoảng
150 loài thuộc cựu lục địa nhiệt đới, trong các loài thuộc Garcinia thì loài G.
morella, G. loureiti (bứa) và G. mangostana (măng cụt) mọc phổ biến ở Việt
Nam (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000).
Nguồn gốc: Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc của măng cụt là từ Mã Lai,
Nam Dương, Malacca, Moluku, Đông Nam Á, Ấn Độ, Myanma, Sri Lanka,
Philippines. Từ các nơi này nhờ các nhà truyền giáo đạo Gia tô di thực vào miền
Nam Việt Nam, rồi trồng nhiều ở Tây Ninh, Gia Định, Thủ Dầu Một (Nguyễn
Văn Kế, 2001).
- Giống măng cụt: Do hạt măng cụt bất thụ phát triển từ phôi cái nên hầu
như tất cả những cây măng cụt đều bắt đầu từ một dòng ban đầu dù được gieo từ
hạt, do đó việc chọn giống tốt để trồng rất khó khăn vì thiếu các biến động về di
1

truyền (Hyun và cộng sự, 2006). Phương pháp nhân giống bằng hạt trên
cây măng cụt là phổ biến nhất hiện nay và cho hiệu quả cao nhất, tuy nhiên cần
phải bình tuyển cá thể tốt và chọn hạt to để nhân giống thì cây giống mới đạt
chất lượng cao (Đào Thị Bé Bảy và Phạm Ngọc Liễu, 2002).
Thành phần dinh dưỡng và công dụng: Măng cụt là loại trái cây giàu chất
bổ dưỡng. Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (2000), thành phần dinh
dưỡng của quả măng cụt trong 100g ăn đựơc đã được phân tích gồm: Năng
lượng (76 calo), Protein (0,7 g); Lipid (0,8 g); Carbohydrate (18,6 g); Xơ (1,3
g); Tro (0,2 g); Canxi (18 mg); Lân (11 mg); Sắt (0,3 mg); Vitamin B1 (0,06
mg); Vitamin B2 (0,01 mg); Niacin (0,4 mg); Vitamin C (2 mg). Ngoài phục vụ
ăn tươi, vỏ trái măng cụt còn được ứng dụng làm thuốc trị bệnh tiêu chảy và các
bệnh đường ruột khác.
Đặc điểm thực vật cây măng cụt:
- Đặc điểm thân: Măng cụt có dạng thân mộc, tán trung bình và cân đối.
Cây trưởng thành cao 10 – 25m với đường kính thân từ 25 – 35cm. Tán cây
thường có dạng hình chóp nón, cành từ thân đâm ra với một bán kính đồng đều.
Thân thường mọc thẳng đứng, tăng trưởng chậm (nhất là những năm đầu). Vỏ
thân cây măng cụt có màu nâu sẫm, thường chứa tanin, mangostin và amiliasin
dùng làm dược liệu. Mangostin là một loại xanthone có khả năng chống lại
nhiều loại nấm và vi khuẩn, chất này có nhiều trong thân lá và vỏ quả măng cụt
(Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000).
- Lá măng cụt: Lá măng cụt thuộc dạng lá đơn, to, hình bầu dục, hơi dài,
lá dày, mọc đối. Cuống lá hẹp, dày và cứng. Phiến lá nguyên, thuôn dài, dày và
có gân giữa nổi rõ. Lá xanh sẫm và bóng ở mặt trên, xanh vàng và mốc ở mặt
dưới có khoảng 35 – 40 đôi đường gân song song kéo dài tới vành lá. Dưới ánh
sáng mặt trời, lá có màu vàng pha xanh hoặc xanh pha vàng. Cuống lá mọc ra từ
cành và đối diện với nhau, chỗ tiếp giáp với cành, cuống lá vát thành góc tù. Lá
măng cụt có khả năng quang hợp rất kém, tuy nhiên nếu được gia tăng nồng độ
CO2 trong không khí lên gấp đôi so với bình thường thì cây có thể hấp thụ thêm
40 – 60 % khí CO2 để tạo chất khô và cây tăng trọng được 77%; không khí giàu
CO2 cũng giúp cho cây có nhiều nhánh ngang, gia tăng diện tích lá, trọng lượng
lá, giúp cho cây quang hợp hiệu quả, ngoài ra nó còn giúp cho bộ rễ cây gia tăng
gấp đôi so với điều kiện bình thường (Flore và Lakso, 1989).
- Hoa măng cụt: Theo Vũ Công Hậu (1996), nếu điều kiện thuận lợi thì
cây ra hoa vào năm thứ 6 – 7, nếu bất lợi thì cây chỉ ra hoa sau 10 – 12 năm từ
khi gieo thậm chí đến 15-20 năm nếu trồng ở nhiệt độ thấp. Hoa thường mọc
đơn độc hoặc từng cặp ở ngọn các nhánh non. Ở miền Nam, măng cụt ra hoa
vào khoảng tháng 1 – 3 và cho trái chín vào tháng 5 – 8 (khoảng 120 ngày sau
khi hoa nở). Hoa hình thành ở những cành từ 2 năm tuổi trở lên. Hoa cứng, mọc
từ ngọn của nhánh non, có thể là hoa đơn hoặc hoa kép. Hoa có 4 đài gồm 2
cánh nhỏ khép chặt ở phía trong và 2 cánh lớn bao bọc bên ngoài. Bốn cánh hoa
có màu vàng xanh viền đỏ hoặc đỏ. Trong hoa cái, ta có thể nhìn thấy hoa đực
vô sinh gọi là Seaticaminode. Nhị hoa đực rất nhỏ và vô sinh, mang 1 – 3 bao
2

phấn (dài 5 – 6mm) hoàn toàn bất thụ. Hạt chỉ phát triển được nhờ phôi bất định
(do đó cây con trồng từ hạt hoàn toàn giống cây mẹ). Bầu noãn không có cuốn,
xếp thành hình tròn có 4 – 8 buồng. Cuống nhị cái hay đỉnh bầu nhụy trong hoa
có hình dáng tròn, nằm sát ngay màng giống tựa tế bào nằm trong bầu nhụy
(Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000).
- Quả và hạt: Quả nang, còn mang đài hoa ở cuống và núm nhụy ở chóp
quả. Vỏ quả khi non có màu xanh đọt chuối, khi chín vỏ đỏ dần rồi chuyển sang
tím và tím sẫm (Thái Thị Hòa và cộng sự, 2004). Quả chứa một loại dịch đắng
màu vàng và tiết ra khi quả non bị tổn thương. Dịch trong vỏ quả gồm
mangostansterine, phytosterine và tanin được dùng trong dược liệu. Phần thịt
bên trong quả chứa 5 – 7 múi màu trắng rất dễ tách, các múi có hoặc không
mang hạt. Hạt từ những quả chín chỉ sống từ 3 – 5 tuần lễ. Nếu bảo quản trong
điều kiện thích hợp như nhiệt độ 25 0C, độ ẩm vừa phải thì có thể kéo dài đời
sống của hạt măng cụt. Hạt măng cụt không hình thành lá mầm và có thời gian
sống ngắn do không hình thành từ thụ phấn. Phần thịt quả chiếm 20 – 30% trọng
lượng quả, 19,8% chất khô hòa tan, 4,3% đường khử, 17,5% đường tổng số,
0,5% protein, 0,23% tro và 0,49% acid (Govindachari và cộng sự, 1971).
Yêu cầu sinh thái cây măng cụt: Măng cụt phát triển tốt ở các vùng nóng
ẩm với nhiệt độ khoảng từ 25-35oC và độ ẩm không khí thấp nhất là 80%. Cây
măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng quá khô hay quá ẩm, yêu
cầu lượng mưa thấp nhất phải đạt 1.270mm/năm. Trong hai năm đầu trồng ra
ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp
đến với cây, trồng xen các loại cây ngắn ngày như chuối che bóng, hoặc che
sáng cho cây bằng vật liệu lưới đen (che bớt khoảng 50-60% ánh sáng mặt trời)
sẽ giúp cho cây phát triển tốt hơn. Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại
đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dày, độ pH đất
khoảng 5,5-7,0 thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới (Tôn Thất Trình, 2000).
4. Các yêu cầu của mô hình
Tài liệu kỹ thuật này áp dụng cho việc trồng, chăm sóc măng cụt và quản lý
vườn phục vụ khách du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có
điều kiện tương tự.
- Điều kiện khí hậu thời tiết như TpHCM thì phù hợp để trồng cây măng
cụt;
- Đất trồng cây măng cụt phải có tầng canh tác sâu (> 3m);
- Đủ nước tưới vào mùa khô, nước không nhiễm phèn nặng (pH nước > 5);
- Vườn không được gập úng vào mùa mưa;
- Yêu cầu pH đất > 5.
5. Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam và tại Tp.HCM
Măng cụt là cây chịu bóng râm. Trên vườn đại trà khi trồng mới, nếu
không trồng xen với cây trồng khác thì măng cụt cũng cần cây bóng mát hoặc
che lưới để giảm bớt ảnh hưởng do nắng gió, đặt biệt ở những vùng có gió mạnh
3

và có mùa khô kéo dài (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005). Do đó giải pháp trồng
xen trong vườn vừa thay thế cây bóng mát, vừa tăng mức che phủ đất, tăng thu
nhập là hướng thiết thực nhằm tăng hiệu quả đất trồng măng cụt.
Ở Thái Lan, mô hình trồng xen lấy ngắn nuôi dài đối với một số cây ăn
quả chịu bóng râm như sầu riêng, măng cụt, bòn bon được áp dụng khá phổ
biến. Miền Đông Nam bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tổng lượng
bức xạ cao, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau do đó trồng xen sẽ
giúp cây măng cụt chống chịu và phát triển tốt trong mùa khô.
Một số nghiên cứu ở Tây Nguyên (Nguyễn Văn Thường, 2001; Lê Duy
Thước, 1992) cho thấy trồng xen sầu riêng (Durio zibethinus) và măng cụt đem
lại hiệu quả cao hơn 24% và 62% so với trồng thuần. Các vườn măng cụt trước
đây ở Thuận An (Bình Dương), Chợ Lách (Bến Tre) hoặc những vườn mới
trồng trong những năm gần đây ở Cẩm Mỹ, Long Khánh (Đồng Nai) đều có
trồng xen với cây trồng khác như dâu, bòn bon, sầu riêng, chôm chôm, điều.
Hiệu quả vườn trồng xen phụ thuộc nhiều vào loại cây trồng xen. Cây
trồng xen phải thích nghi với thực tế sản xuất và cho năng suất trong điều kiện
trồng xen. Cây trồng xen phải có hệ rễ, bộ tán phát triển không ảnh hưởng nhiều
đến măng cụt, được giá, dễ tiêu thụ, ổn định, thích nghi với tập quán canh tác
địa phương. Sản phẩm của cây trồng xen phải thuận lợi trong việc tiêu thụ so với
các cây khác. Những khảo sát thực tế cho thấy, những vườn măng cụt xen với
sầu riêng (Durio zibethinus) ở miền Đông Nam bộ cho hiệu quả tốt. Một số cây
ăn trái thích nghi và có khả năng chịu râm khác như bòn bon (Lansium
domesticum), bưởi (Citrus maxima)... là những cây có nhiều điểm phù hợp nên
đưa vào cơ cấu cây trồng xen với măng cụt.
Kết quả thử nghiệm mô hình trồng xen măng cụt với sầu riêng, mô hình
trồng xen măng cụt với bưởi và trồng xen măng cụt với cà phê do Trung tâm
Nghiên cứu Cây ăn quả miền Đông Nam bộ thử nghiệm tại Bà Rịa Vũng Tàu
cho thấy tình hình sinh trưởng măng cụt trong mô hình khá tốt, không bị hiện
tượng cháy lá và ít bị sâu bệnh gây hại, cây phát triển nhanh về chiều cao và
đường kính tán, nhanh cho trái, năng suất măng cụt tăng so với trồng thuần. Xét
về hiệu quả đầu tư cho thấy trồng xen măng cụt với sầu riêng, măng cụt với bưởi
hoặc măng cụt với cà phê đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng thuần.
Bón phân cân đối và đầy đủ cho măng cụt là một trong những biện pháp
quan trọng nhằm tránh hiện tượng ra trái cách năm, nâng cao năng suất và chất
lượng quả đáp ứng yêu cầu của thị trường (Võ Minh Kha, 2003). Tập quán canh
tác truyền thống chưa chú trọng đến nhu cầu dinh dưỡng cho cây nên sản phẩm
kém chất lượng chiếm tỷ lệ cao, sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường ngày
càng giảm và hiệu quả kinh tế thấp. Một số biểu hiện nhược điểm của sản phẩm
măng cụt thường gặp phải là: Khoảng 40 % trái thu hoạch trong mùa mưa bị
sượng, đây là nhược điểm quan trọng làm cho khách hàng mất sự tin tưởng về
sản phẩm và khó chấp nhận đối với thị trường xuất khẩu; hiện tượng chảy nhựa
vỏ trái cũng xảy ra khá phổ biến với hơn 50% trái sau thu hoạch; do canh tác
4

