
Năm
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VA PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
***
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
QUI TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
VƯỜN NHÃN
Đồng Nai, tháng 5 năm 2019
1
Mẫu TLNN

I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng
Tài liệu kỹ thuật này áp dụng cho địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các
địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân trồng nhãn.
3. Đặc điểm, đặc tính
Nhãn là loại cây trồng chủ lực ở nước ta và đã được cấp phép nhập khẩu
vào thị trường Mỹ. Đây là loại cây dễ trồng, ăn ngon và giá trị kinh tế. Nhãn
được trồng ở các tỉnh thành trong cả nước.
Các giống nhãn được trồng phổ biến ở phía Nam là: nhãn xuồng (xuồng
cơm vàng, xuồng cơm ráo), nhãn tiêu, nhãn long, nhãn Idor (Edor). Tuy nhiên
những năm từ 2007-2012, dịch bệnh chỗi rồng đã gây thiệt hại lớn cho nhà
vườn trồng nhãn tiêu, do đó diện tích nhãn tiêu giảm đáng kể, thay vào đó nhà
vườn thay thể bằng giống nhãn xuồng, nhãn Idor,..
Qui trình trồng và chăm sóc cây nhãn được áp dụng cho tất cả các giống
nhãn, tuy nhiên liều lượng phân bón và thời điểm bón sẽ thay đổi tùy thuộc
vào giống, độ tuổi, dinh dưỡng của cây và dinh dưỡng đất trồng, mức độ đầu
tư thâm canh của nhà vườn.
Các biện pháp kỹ thuật được trình bày cụ thể trong qui trình từ khâu:
chọn giống, thiết kế vườn trồng, đào hố, bón phân, trồng và chăm sóc, xử lý
ra hoa, phòng trừ sâu bệnh hại đều được trình bày đầy đủ, chi tiết, dễ hiểu và
dễ áp dụng đối với điều kiện đất đai, khí hậu và tập quán canh tác của người
dân ở huyện Cần Giờ và các huyện có điều kiện tương tự ở TP Hồ Chí Minh.
4. Các yêu cầu của mô hình:
Tài liệu kỹ thuật này áp dụng cho việc trồng và chăm sóc nhãn ở thành
phố Hồ Chí Minh và các địa phương có điều kiện tương tự.
Nhãn là cây trồng cả ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiệt độ tối ưu
có cây nhãn ra hoa và đậu quả là 20-250C. Vào thời kỳ ra hoa nhiệt độ tích
hợp nhất là 15-220C, trên 400C trái sẽ bị rụng.
Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.200-1.500 mm/năm. Nhãn là cây chịu hạn
khá tốt, nhưng ở vùng đất có tưới thường cho năng suất cao hơn và dễ làm trái
hơn.
Nhãn ưa đất cát pha, đất thịt và đất xám. Tránh đất thấp, đất sét, chân đất
cần sâu và thoát nước tốt. Độ pH thích hợp 5,5 - 6,5. Tại Cần giờ nhãn được
trồng ở trên đất cát ven biển.
Nhãn chịu úng kém nên cần phải làm mương thoát nước (Mục II. 1.
Chuẩn bị, xây dựng mô hình).
2

Địa điểm thực hiện mô hình phải có điện để vận hành hệ thống tưới phun
mưa.
Nhãn không cần nhiều công lao động và nước tưới như các cây trồng
khác. Lao động đơn giản chỉ cần 60 công/ha/năm.
5. Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam
Nhãn có nguồn gốc từ Bắc Myanmar tới phía nam Trung Quốc. Trung
Quốc là nước có lịch sử trồng nhãn hàng ngàn năm và có diện tích và sản
lượng trồng nhãn lớn nhất thế giới, sản lượng năm 2016 đạt 283,2 triệu tấn.
Tuy nhiên vẫn không đủ tiêu thụ trong nước. Tiếp đến là Thái Lan 706.000
tấn/năm, đây là nước dẫn đầu về xuất khẩu trái nhãn.
Ở Việt Nam, cả nước năm 2016 có 73.344 ha sản lượng đạt 504.079
tấn/năm, diện tích trồng nhãn ở miền Nam và miền Bắc tương đương nhau.
Thị trường tiêu thụ nhãn ngoài nội địa còn xuất khẩu chủ yếu sang 1 số
nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Canada,…
Phân bón cho nhãn xuồng cơm vàng
Theo tập quán nông dân trồng nhãn thì rất ít vườn nhãn được bón phân
hữu cơ. Một số vườn cá biệt được bón phân bò hoặc phân heo cho thấy tình
hình sinh trưởng và năng suất có cải thiện đáng kể so với không bón. Phân đa
lượng bón cho nhãn trên đất xám hầu như chưa có khuyến cáo cụ thể, chỉ có
một số khuyến cáo về phân bón áp dụng chung cho nhãn. Thí nghiệm trên đất
cát pha, Singh (1965) ghi nhận thiếu N cây sẽ cằn cỗi, ít cành, lá dựng đứng,
nhỏ và có màu hơi vàng; thiếu Kali làm giảm chiều cao cây và kích cỡ lá, gây
cháy ở mép và đỉnh lá; việc trổ hoa và đậu quả rất kém trong điều kiện thiếu
cả N và K. Ghost và ctv (1986) đề nghị liều lượng N-P2O5-K2O (g/cây/năm)
từ 400-200-400 đến 600-300-600 đối với cây 6 năm tuổi. Theo Vũ Công Hậu
(1999) nên bón hàng năm với liều lượng 500-1.000g Urê, 300-500g Super
lân, 500-1000g KCl cho nhãn (giai đoạn cho trái năm thứ 10) và 10-15 kg
phân chuồng. Theo Tôn Thất Trình (1995), thiếu lân thì năng suất chỉ bằng
1/2 hay 1/5 vườn có bón phân đầy đủ, trái nhỏ và tỷ lệ cơm ít đi; cây 5 tuổi
trở lên nên bón khoảng 600gN, 150gP2O5 và 800gK2O, sau đó tăng dần mỗi
năm 20-30% cho đến gấp đôi vào năm thứ 10.
Theo Bùi Xuân Khôi, 2011, lượng phân bón cho cây nhãn 8 năm tuổi ở
vùng đất cát pha BR-VT là 800g N-600gP2O -1.200gK2O, theo Nguyễn Văn
Kế, 2014, lượng phân bón cho đất cát ở miền Đông Nam bộ: 800g N-
600gP2O -1.000gK2O
Nhãn chủ yếu được trồng trên vùng đất cát giồng ở Bà Rịa Vũng Tàu
và TP Hồ Chí Minh và một số vùng đất xám phù sa cổ. Các nghiên cứu của
Công Doãn Sắt và Đỗ Trung Bình (1997) về thành phần khoáng sét của một
số loại đất chính ở miền Nam cho thấy sự biến động của hàm lượng Kali
trong các loại đất rất lớn, đất cát ven biển và đất xám phù sa cổ đã bị cạn kiệt
3

Kali, đây cũng là loại đất có thành phần khoáng 1:1 (Kaolinit) không những
có nguồn Kali dự trữ gần cạn kiệt mà khả năng cố định Kali cũng rất kém. Do
đó nhãn xuồng trồng trên các vùng đất này cần chú ý được bón tăng cường
Kali. Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, lượng bón cho nhãn năm
thứ 4 (g/cây/năm) là 300gN + 100gP2O5 + 200gK2O (tỷ lệ 3:1:2). Theo Trần
Thế Tục (2000): phân tích trong 1000kg quả tươi thì cây lấy đi của đất 4,01 –
4,80kgN; 1,46 – 1,58kg P2O5 và 7,54 – 8,96kgK2O và đề nghị bón phân cho
vườn nhãn cao sản là 2,7kgUrê + 3,5kg Super lân+ 3kgKCl tương đương
1242gN + 560gP2O5 + 1800gK2O (tỷ lệ 2:1:3). Tại Thái Lan, lượng phân bón
cho nhãn chia làm 4 lần như sau: lần 1 sau thu hoạch bón khoảng 1kg/cây
phân NPK có tỷ lệ 20-10-10 kết hợp 6-10kg phân hữu cơ; lần 2 bón đón hoa
khoảng 1 kg/cây NPK 16-11-14 hoặc 15-15-15; lần 3 bón sau đậu trái 2 tuần
với lượng bón như lần 2; lần 4 bón làm nhiều lần nuôi trái với lượng phân 2-
3kg/cây NPK 14-14-21.
Về tỷ lệ bón và mức bón phân cho nhãn xuồng giúp đạt năng suất cao
nhìn chung đã có nhiều khuyến cáo tuy nhiên với những công thức bón nêu
trên có ảnh hưởng đến dư lượng nitrate trong trái hay không vẫn chưa được
báo cáo do đó vấn đề này rất cần được nghiên cứu.
Xử lý ra hoa cho nhãn
Nhãn Xuồng là cây trồng của vùng nhiệt đới có đặc điểm ra hoa đầu
cành. Tổng đơn vị nhiệt mà cây hấp thu đóng vai trò quan trọng trong quá
trình thuần thục phân hóa mầm hoa và ra hoa. Từ đó cho thấy thời tiết là một
trong những yếu tố quan trọng giúp cho nhãn xuồng ra hoa thuận lợi.
Manochai và cộng sự (2005) cho biết khi gặp điều kiện mưa nhiều, ít nắng thì
nhãn xuồng rất khó ra hoa và cần có biện pháp kỹ thuật kích thích ra hoa.
Biện pháp khoanh cành đã được áp dụng xử lý ra hoa thành công trên
nhãn Tiêu Da bò tuy nhiên áp dụng trên nhãn xuồng thì không mang lại hiệu
quả. Bắt đầu từ năm 1999, việc sử dụng chlorat kali (KClO3) kích thích ra hoa
có hiệu quả trên cây nhãn DO (giống nhãn nổi tiếng của Thái Lan) trồng ở
Đồng Nai và những kết quả từ Thái Lan cho biết việc sử dụng chlorate kali để
kích thích cho nhãn ra hoa có hiệu quả tốt hơn so với biện pháp khoanh cành
thường không ổn định trước đây. Do đó, việc tìm ra một hóa chất kích thích ra
hoa có hiệu quả và ổn định rất có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như sản xuất.
Manochai và cộng sự (2005) cho biết có thể tưới chlorat kali vào đất với liều
lượng 4-8g/m2 tùy theo giống, phun lên lá ở nồng độ 1000ppm hoặc tiêm vào
thân với liều lượng 0,25 g/cm đường kính nhánh. Thời điểm xử lý là khi lá
40-45 ngày tuổi. Trong mùa khô xử lý có tỷ lệ ra hoa cao hơn so với mùa
mưa. Theo Lê Văn Bé và cộng sự (2008) nhận thấy xử lý chlorat kali bằng
cách phun lên lá ở nồng độ 2000 – 4000 ppm giúp cây nhãn tiêu da bò ra hoa
100% sau khi xử lý 30 ngày. Theo Wong (2000) nồng độ KClO3 tùy thuộc
vào một số yếu tố sau: tán cây, loại đất, nguồn nước, sức khỏe của cây, cách
quản lý vườn và giống. Khảo sát tác động của chlorate kali lên sự biến đổi
4

hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, Lê Văn Bé và cộng sự (2003) nhận
thấy 7 ngày sau khi xử lý hàm lượng kali trao đổi trong đất tăng lên so với đối
chứng.
Trong số các hóa chất xử lý ra hoa thì Paclobutrazol được coi là chất ức
chế tăng trưởng (Plant Growth Retardants) giúp cây hạn chế sinh trưởng sinh
dưỡng, thuần thục và chuyển sang sinh trưởng sinh thực phân hóa mầm hoa,
đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra hoa (Trần Văn Hâu và ctv., 2002).
Thiourea được coi là chất phá vỡ miên trạng ngủ nghỉ, kích thích cây ra hoa
(đối với những chồi đã phân hóa mầm hoa) hoặc đâm tượt non (đối với những
chồi chưa phân hóa mầm hoa), chất này có khả năng kích thích được 80,9%
mầm hoa và giúp cây măng cụt ra hoa sớm hơn so với sự ra hoa tự nhiên
(Poonnachit et. al., 1990). Charnvichit and Tongumpal (1991) ghi nhận rằng
phun Thiourea lúc 90 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol giúp xoài NamdokMai
ra hoa 100%, ngoài ra đạm dưới dạng NH4NO3 (2% và 4%) thúc đẩy xoài
Manila và Antaulfo ra hoa sớm hơn 37 và 22 ngày. Biện pháp phun Thiourea
sau khi xử lý Paclobutrazol cũng thúc đẩy các đỉnh sinh trưởng của xoài Cát
Hòa Lộc phân hóa mầm hoa đồng loạt (Võ Thế Truyền và Nguyễn Thành
Hiếu, 2004). Ngoài ra KNO3 cũng được xem là chất ức chế sự ra đọt non giúp
cho quá trình ra hoa thuận lợi (Trần Văn Hâu và ctv., 2002).
Tỉa cành cũng được xem là biện pháp giúp hổ trợ cho cây ra hoa. Đối
với đa số cây ăn quả lâu năm, tỉa cành giúp cho cây quang hợp, sinh trưởng
phát triển tốt, đọt non ra đồng loạt nên dễ kiểm soát sâu bệnh, dễ xử lý ra hoa
đồng loạt, tăng năng suất và chất lượng quả.
Với những kết quả trên cho thấy rằng việc thử nghiệm tìm ra biện pháp
phù hợp để xử lý ra hoa cho nhãn xuồng là cần thiết. Ngoài việc tỉa cành,
cung cấp dinh dưỡng và chế độ tưới phù hợp thì một số hóa chất hổ trợ ra hoa
cũng cần được quan tâm.
Sâu đục trái gây hại trên nhãn Xuồng cơm vàng
Sâu đục trái được xem là loài côn trùng gây hại quan trọng nhất. Theo
Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), trên nhãn có 2 loài sâu đục trái phổ biến là:
Sâu đục trái Conopomorpha sinensis Bradley, thành trùng phần trán ở
đầu có túm lông màu trắng. C. sinensis có chiều dài sải cánh khoảng 10,5-11
mm; chiều dài thân 6-7 mm, cơ thể màu trắng hơi trong, các đốt bụng đều có
kích thước tương tự nhau. Nhộng dài khoảng 1 cm, lúc đầu có màu vàng lợt,
khi sắp vũ hóa chuyển sang màu nâu, thời gian nhộng: 7-8 ngày. Sâu gây hại
trên trái bằng cách đục vào trái làm trái dễ bị thối và rụng sớm. Gây hại chủ
yếu từ giai đoạn trái lớn và sắp thu hoạch. Sâu đục vào trái nhãn nơi gần
cuống trái, ăn xung quanh phần cuống trái làm trái dễ bị rụng, sâu thường tấn
công và làm trái rụng rất nặng vào giai đoạn trái lớn (khi trái đã có cơm) và
trái bị thiệt hại nhiều nhất vào giai đoạn trái gần thu hoạch, vào mùa nhãn
tháng 6-7 dương lịch. Khi đến tuổi trưởng thành, sâu thường đục lỗ nhỏ gần
cuống trái bò lên trên phần lá gần chùm trái, kéo một lớp màng mỏng màu
trắng, hóa nhộng trong đó. Loài này đã được ghi nhận hiện diện phổ biến trên
5

