Năm
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
***
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRỒNG
VÀ CHĂM SÓC ỔI LÊ ĐÀI LOAN
Đồng Nai, tháng 5 năm 2019
1
TÀI LIỆU MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC ỔI LÊ ĐÀI LOAN
I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng
Tài liệu này áp dụng cho cây ổi Lê Đài Loan được trồng trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh và các địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng
Các tổ chức, cá nhân trồng cây ổi Lê Đài Loan.
3. Đặc điểm, đặc tính
Cây ổi một tiểu mộc, thường xanh, cao khoảng 2-6m. Trong trồng trọt
do bị cắt tỉa, nhiều khi chỉ duy trì độ cao dưới 2 m. Cây phân nhánh khỏe thấp
nên trông giống dạng cây bụi. Nhánh non vuông 4 cạnh. Nhánh già mọc cong,
cành dẻo dai, trên thân cành lớn mày dầy. Đường kính gốc thể trên 30 cm.
Chiều cao bắt đầu phân cành khá thấp 13-16 cm.
Ổi mọc đối (song đính), bản mặt trên láng, mặt dưới lông, mép
nguyên, hình thuôn dài hay hình elip, dài độ 8-15 cm, vo lá có mùi nhựa thơm.
Ổi mau ra hoa, cây trồng bằng chiết cành bắt đầu ra hoa sau 3-4 tháng trồng.
Ổi thể ra hoa hầu hết các tháng trong năm. Những giống ổi khác nhau đáp ứng
với các xử ra hoa khác nhau thời gian bắt đầu ra hoa khi xử cũng hơi khác
nhau, thường biến động từ 30 tới 40 ngày. Hoa ổi mọc nách lá, trên cành đang
sinh trưởng, hoa độc hoặc từng chùm, số hoa/nách lá: 1-5, hoa có cạnh dài. Hoa
lưỡng tính, màu trắng; thường nở khoảng 5-7 giờ sáng, đường kính lúc nở: 3,3-3,8
cm; có 4-6 đài, dày, không đều, 4-6 cánh hoa trắng, mau rụng, tiểu nhị rất nhiều và
có cọng dài, noãn sào hạ. Hoa có thể tự thụ hay thụ phấn chéo nhờ ong mật. Từ khi
ra hoa tới khi thu hoạch thay đổi từ 120 ngày đến 140 ngày, thời gian này tùy thuộc
vào nhiệt độ nơi trồng.
Ổi Đài Loan được trồng nước ta trong vài năm gần đây. Cây sinh
trưởng phát triển khỏe. Quả hình quả lê, vỏ xanh nhạt, láng, nặng khoảng 250-
400 g, mẫu đẹp, phần cùi dày, thịt trắng, giòn, ngọt, mềm, mùi thơm đặc trưng
của ổi. Cây cho năng suất khá cao ngay từ năm thứ nhất, khi ổn định (khoảng 3
tuổi có thể đạt từ 25 đến 50 tấn/ha); đem lại hiệu quả kinh tế cao. Khuyết điểm quả
có hạt trung bình; tỉ lệ thịt quả độ 70-74%. Kinh nghiệm một số nhà vườn cho rằng
nên thu hoạch khi quả chín khoảng 70% lúc ấy ăn giòn nhất. Thời gian ra hoa
tới khi thu hoạch chỉ độ 2,5 tháng. Ở Nam bộ đã có công ty đầu tư vào giống trồng
này và bao tiêu sản phẩm.
Có hai kiểu nhân giống ổi thường làm ở nước ta là chiết cành và ghép cành:
1
Chiết cành: trồng bằng cành chiết cây sẽ cho hoa chỉ vài tháng sau trồng. Kỹ
thuật chiết cành tương tự như các cây ăn quả khác. Chọn cành chiết đường
kính cành độ 1 cm, khoanh lột vỏ rộng độ 3-4 cm. Sử dụng chất điều hòa sinh
trưởng NAA nồng độ 800 ppm làm cành chiết ra rễ mau nhiều hơn. Tương tự
có thể sử dụng Rootone. Cành chiết được cắt rời khỏi cây mẹ lúc 8 tuần sau chiết.
Ghép cành: thể thực hiện nhiều kiểu ghép khác nhau cho ổi như: 1) ghép
mắt hay ghép bo. 2) ghép ép cành giả (hay ghép đeo bàu), 3)ghép nêm ngọn. Cây
ghép tất cả các kiểu ghép khi đã ổn định đều mọc tốt như nhau. Gốc ghép
đường kính từ 1,2 cm đến 2 cm thì thích hợp cho kiểu ghép mắt. Gốc ghép nhỏ hơn
khi ghép đeo bàu.
4. Các yêu cầu của mô hình
4.1. Khí hậu
Ổi thể mọc được cả trong điều kiện khí hậu nhiệt đới cận nhiệt đới.
Mọc tốt khi đất đủ ẩm, tuy nhiên nó cũng cây chịu hạn khá. Mưa nhiều, nhiệt độ
cao, gió mạnh sẽ làm hoa quả non rụng nhiều. Ngược lại, mưa nhiều cũng làm
hoa quả rụng nhiều. Khô hạn trong thời kỳ quả đang lớn sẽ làm kích thước quả
giảm. Ổi có thể chịu được úng ngập nhất thời.
Ổi không chịu được giá lạnh, tuy thể mọc tới độ cao 1.500m nhiệt
đới, nếu vùng trồng không có sương giá thì nó có thể mọc ở độ cao hơn nữa, nhưng
những vườn thương mại chỉ từ độ cao 1.000 m trở xuống. Hawaii ổi mọc tốt khi
nhiệt độ từ 15,5 đến 320C. Vào mùa đông đảo Okinawa khi nhiệt độ về đêm
khoảng 5-70C đã làm ổi bị vàng làm cây ngừng sinh trưởng. Vào thời kỳ ra
hoa nhiệt độ tối ưu từ 23 đến 270C nếu cao hơn hay thấp hơn sẽ làm % quả thụ
giảm một cách có nghĩa. Tương tự tại Ấn Độ Bal (1997) cũng cho rằng nhiệt độ tối
ưu cho cây ổi là 23-280C. Nếu nhiệt độ lạnh thời gian nuôi quả sẽ kéo dài.
4.2. Đất đai
Ổi mọc tốt trên đất phù sa giàu chất hữu như Đồng bằng sông Cửu Long,
nó có thể mọc trên đất phèn đã được lên liếp và cải tạo. Đất không được úng nước.
Độ pH từ 4,5 đến 8,2, tốt nhất là 6-7. Nó có thể chịu được đất bị nhiễm mặn nhẹ.
5. Tổng quan về mô hình trên thế giới, ở Việt Nam và tại TPHCM
Giống ổi lê có nguồn gốc từ Đài Loan, được trồng ở Việt Nam mấy năm gần
đây, với đặc điểm sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao, quả mẫu đẹp,
chất lượng có thể ngon nhất trong các loại ổi hiện có.
Giống ổi Đài Loan năng suất cao ngay từ năm thứ nhất tiếp tục
cho hiệu quả cao hơn những năm tiếp theo, rất thích ứng với điều kiện sinh thái
của khu vực Nam Bộ. Cây sinh trưởng phát triển tốt, ra quả quanh năm, khả
năng chống chịu sâu bệnh, có thể trồng được ở nhiều loại đất khác nhau.
Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về cây ổi
- Nghiên cứu ở nước ngoài
2
Cây ổi cũng như các loại cây ăn quả khác được các nhà khoa học nghiên cứu
về kỹ thuật phát triển được tập trung trên các lĩnh vực: kỹ thuật về giống (chọn,
nhân, lai tạo giống); kỹ thuật canh tác; phòng trừ sâu bệnh, công nghệ bảo quản,
chế biến sau thu hoạch, kỹ thuật ghép cải tạo, thay thế giống.
- Về giống: đây là khâu kỹ thuật hàng đầu để nâng cao hiệu quả sản xuất. Xu
hướng chung là nghiên cứu tạo ra hoặc du nhập những giống mới được cải thiện về
chất lượng, phù hợp hơn với thị hiếu tiêu dùng và chế biến, có tính thích nghi rộng,
chống chịu điều kiện ngoại cảnh cao, cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả
năng rải vụ, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản để đưa vào sản xuất kinh doanh.
Theo Nakasone Paull (1998), chương trình nghn cứu cải thiện giống ổi
đưc bắt đầu từ m 1961 Columbia Brazin. Đến nay đã có nhiu giống ổi
ng sut cao, cht lượng ngon được đưa ra phục v th tng.
Bảng 1. Tổng hợp đặc điểm một số giống ổi được trồng trên thế giới
Tên giống Ngun
gc
Trọng lượng, dạng
quả, thịt và vỏ
Mùi vị Hạt Màu thịt
Redland Florida Tròn, lớn, vỏ mỏng Tm nhẹ Rất ít Trắng
Red Ấn độ Trung bình, tròn,
vỏ mỏng Tm mạnh Ít Trắng
Safeda Ấn độ Trung bình, v dày Tm nhẹ Rất ít Trắng
Smooth
Green Ấn độ Trung bình, thịt
chắc, vỏ mỏng Tm nhẹ Ít,
hạt Trắng
Red
Hybrid Pháp Trung bình, hình
trứng Ngọt chua Ít Đỏ
Acid
Speer'
Pháp Lớn, vỏ mỏng Chua ngọt
Giàu pectin,
acid
Ít
Vàng
nhạt
Seedless Ấn độ,
Indonesia
, Thái
Lan
Trung bình đến lớn,
dạng quả lê, đặc
ruột
Chua ngọt
Không
hạt
Trắng
n
(Nguồn: Nakasone và Paull, 1998)
- Về kỹ thuật: các nghiên cứu tập trung đến biện pháp kỹ thuật thâm canh
nhằm đảm bảo cho vườn cây đạt năng suất cao, ổn định, chất lượng ngon, rải vụ.
Bao gồm nghiên cứu về nhiều nội dung như:
+ Đặc điểm sinh trưởng, điều kiện ngoại cảnh, xác định bộ giống, thời vụ
trồng, thời vụ chín gắn liền điều kiện môi trường, khả năng tiêu thụ nhằm tránh rủi
ro từ tác động bất lợi của thời tiết và thị trường.
3
+ Kỹ thuật trồng, khoảng cách trồng: Xu hướng chung sử dụng giống
ghép, cây thấp, tán nhỏ, tăng mật độ trồng để sớm đạt năng suất cao, chu kỳ kinh
doanh ngắn. Với giống ổi Allahabab Safeda, Ravishankar ctv (2008) đã nghiên
cứu các khoảng cách trồng 6x3m; 6x4m; 6x6m; 8x4m 8x3m. Kết quả cho thấy
khi trồng với khoảng cách 6 x3m cho năng suất (16,64 tấn/ha) chất lượng quả
tốt nhất, kế đến trồng với khoảng cách 8x3m cho năng suất 16,08 tấn/ha. Năng
suất quả/cây thấp nhất nếu trồng với khoảng cách 8x4m (10,48 tấn/ha).
Theo khuyên cáo của Jonathan và Carlos (2009) cây ổi nên trồng với khoảng
cách thích hợp tùy giống để đảm bảo cây ổi nhận đầy đủ ánh sáng tạo điều kiện
thuận lợi cho cây ổi đạt năng suất cao nhất.
Theo Brar1 Bal (2010) cho rằng năng suất ổi Allahabad Safeda cao nhất
(từ 28,65 - 35,30 kg/cây) khi trồng với khoảng cách 6x5m nhưng khi trồng với
khoảng cách 6x2m thì cho năng suất thấp (9,45 - 18,56 kg/cây). Kết quả nghiên
cứu này cũng tương tự với nghiên cứu của Chundawat (1992), Kalra ctv (1994)
và Bal và Dhaliwal (2003). Tuy nhiên, theo Singh và ctv (2007) cho rằng năng suất
ổi cao nhất khi trồng với khoảng cách 3x1,5m.
+ Áp dụng kỹ thuật mới như cắt tỉa cành, tạo tán, cắt khoanh vỏ cây, cành lớn,
s dụng chất ch thích, phân bón vi ợng ... m ng kh ng ra hoa, đậu trái,
chống rụng quả, ra hoa trái a, tăng chất lượng qu cũng như rải vụ thu hoạch và
ng cao hiệu quả. Đối với y ổi, Singh ctv (2007) cho thấy cắt bỏ 15 30 cm
đầu nh sẽ m giảm số ợng hoa và giảm số cành mang quả nhưng lại ảnh ởng
ch cực đến khối lượng quả.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 đến ng suất chất ợng trái ổi,
Saravanan Amit (2008) đã nghiên cứu c nồng độ của GA3 25; 50; 75; 100;
125 và 150ppm phun vào buổi chiều t, được phun 2 lần trước và sau khi ra hoa 1
tháng. Kết quả cho thấy rằng phun GA3 nồng độ 100ppm cho năng suất ổi cao nhất
cải thiện được chất lượng trái.
Theo Brar1J.S. and Bal (2010) cho rằng phun Paclobutrazol nồng độ
1000ppm cho vườn ổi trồng với khoảng cách 6x4m đã làm tăng số hoa đậu trái.
Trong khi đó phun Ethephon nồng độ 500 1000ppm đều làm giảm số chồi hoa
và tỷ lệ đậu trái. Tuy nhiên khi phun Ethephon có thể bảo quản trái từ 1-2 tuần.
+ Kỹ thuật bón phân: Đây được coi khâu thén chốt quyết định đến năng
suất, chất lượng quả. Theo Farouk và Mudathir (1998) đã cho biết mức bón đạm tốt
nhất cho cây ổi 2 năm tuổi ở Paulo, Brazil là 131kg/ha, cây 2 năm tuổi là 199kg/ha.
Mức bón lân tốt nhất cho cây một năm tuổi là 600gam/cây. Bón Kaki làm tăng đáng
kể năng suất và chất lượng quả. Bose và ctv (2001) khuyến cáo bón phân cho cây ổi
năm thứ 2 với liều lượng (260gN + 320gP2O5 + 260gK2O)/cây/năm tại vùng đất phù
sa phía Tây Bengan, Ấn Độ. Lượng này được chia đều làm hai phần bón vào
tháng 2 tháng 8.
4