Câu 9.
CƠ SỞ CỦA CHẾ ĐỘ BẢO HIẾN
Bùi Ngọc Sơn
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
(Nguồn:http://www.na.gov.vn/Sach_QH/Ban%20ve%20lap%20hien/Chuong1/12.htm)
Mặc dù khẳng định tính tối cao của Hiến pháp, nhưng Hiến pháp Việt Nam lại chưa thiết lập được một
chế độ hoàn chỉnh để bảo vệ Hiến pháp. Cho đến nay, mặc lần sửa đổi Hiến pháp gần nhất vào năm
2001 đã thừa nhận việc xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng Việt Nam vẫn chưa có một chế độ bảo hiến
hoàn chỉnh[1]. Bài viết bàn về việc cần một chế độ bảo hiến hoàn chỉnh. Theo đó, quyền lập hiến thuộc
về nhân dân chứ không phải thuộc về Quốc hội.
Quyền lập hiến thuộc về nhân dân
Chế độ bảo hiến chỉ tồn tại khi Hiến pháp ưu thế hơn so với thường luật. Ưu thế đó dẫn đến hệ
quả sự phân biệt quyền lập hiến quyền lập pháp. Sự phân biệt này cũng dẫn đến việc phân cấp
hiệu lực pháp lý giữa Hiến pháp và thường luật: Hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao, thường luật phải hợp
hiến. Do đó, việc ban hành và sửa đổi Hiến pháp được tiến hành bởi những cơ quantheo những thủ tục
đặc biệt khác với quan thủ tục được áp dụng cho thường luật. Thường luật không thể sửa đổi được
Hiến pháp và cũng không thể mâu thuẫn với Hiến pháp. Một đạo luật đi ngược lại với những điều khoản của
Hiến pháp một đạo luật bất hợp hiến do đó không thể hiệu lực. Như vậy, các hành vi của chính
quyền bị giới hạn bởi Hiến pháp. Với đặc tính đó, vấn đề bảo hiến được phát sinh.
Tại sao Hiến pháp lại hiệu lực pháp tối cao? Câu trả lời nằm vấn đề chủ thể của quyền lập
hiến. GS. Nguyễn Văn Bông cho rằng, quyền lập hiến quyền nguyên thuỷ thể hiện một cách toàn diện
nhất chủ quyền quốc gia, quyền lập hiến chung quy là quốc gia tự ấn định cho mình quy tắc tổ chức
điều hành[2]. quyền lập hiến quyền nguyên thuỷ nên chỉ chủ thể của chủ quyền quốc gia mới
quyền lập hiến.
Nhưng aichủ thể của chủ quyền quốc gia? Hiến pháp khuôn mẫu của dân chủ, tồn tại trong một
chế đ dân chủ. Trong một chế độ dân chủ, nhân dân chủ thể tối cao của quyền lực, lực lượng nắm
chủ quyền. Nhà nước tổ chức do nhân dân thành lập ra đại diện cho nhân dân để hành xử chủ quyền
nhân dân. C.Mác viết: “Trong chế độ dân chủ, thì bản thân n nước chính trị, dưới hình thức mà nó hình
thành bên cạnh nội dung đó tự phân biệt với nội dung đó, chỉ nội dung đặc thù của nhân dân, chỉ
hình thức tồn tại đặc biệt của nhân dân mà thôi”[3].
nhân dân chủ thể của chquyền quốc gia, quyền lập hiến quyền nguyên thuỷ thể hiện
toàn diện chủ quyền quốc gia nên nhân dân chính chủ thể của quyền lập hiến. Thông qua việc hành xử
quyền lập hiến, nhân dân thành lập ra Nhà nước, uỷ quyền cho Nhà nước, ấn định những cung ch tổ
chức và điều hành Nhà nước.
Hiến pháp Mỹ tuyên bố trong lời nói đầu: “Chúng tôi, nhân dân Hoa Kỳ... quyết tâm chấp thuận
thiết lập bản Hiến pháp này của Hợp chủng quốc”. Hiến pháp Ireland 1937 mở đầu: “Chúng tôi, nhân dân
Ireland... chấp thuận chế định và thiết lập bản Hiến pháp sau đây"; Hiến pháp CHLB Đức: “Nhân dân Đức...
đã lập thành Hiến pháp này”; Hiến pháp Liên bang Nga: “Chúng tôi, nhân dân các dân tộc Liên bang Nga...
chấp nhận bản Hiến pháp dưới đây của Liên bang Nga”; Hiến pháp Hy Lạp: “Chúng tôi, nhân dân Cộng hoà
Hy Lạp, thông qua người đại diện quyền lực của chúng tôi chấp nhận bản Hiến pháp này”. Lời nói đầu của
Hiến pháp Việt Nam năm 1946 cũng ghi nhận: “Được quốc dân trao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng…”.
K.C.Wheare nhận định: “Sự tối thượng pháp của Hiến pháp được dựa trên ý nguyện của nhân
dân”[4]. Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, quyền lập hiến không bị giới hạn bởi luật lệ nào, khai sinh ra
các quyền khác. “Vì quyền lập hiến ấn định tổ chức các quyền khác, các quyền khác đi từ quyền lập
hiến, hậu quả đương nhiên là tính cách ưu tiên của quyền lập hiến”[5]. Quyền lập pháp, quyền hành pháp,
quyền pháp những quyền phái sinh từ quyền lập hiến. Các quyền đó phải được hành xử trong khuôn
khổ do quyền lập hiến ấn định.
Do đó, chủ quyền của Nhà nước phái sinh từ chủ quyền của nhân dân. Với ý nghĩa như vậy, C.Mác
nhấn mạnh: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua*, mà ngược lại,
chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền nhân dân[6]. Bởi vậy, ý chí của nhân dân phải được tôn trọng
hơn ý chí của Nhà nước. Ba ngành quyền lực nhà nước không được mâu thuẫn với quyền lập hiến.
Haminton lập luận: “Hoạt động của kẻ thừa nhiệm sẽ trthành hiệu nếu đi ngược lại sự uỷ thác, đó
quan điểm đặt trên những nguyên tắc hết sức minh bạch. Do đó, mọi hoạt động lập pháp đi ngược lại Hiến
pháp không thể hiệu lực”. “Hiến pháp phải được tôn trọng hơn quy pháp, hơn ý muốn của quan thừa
nhiệm nhân dân”[7].
Điều 146 của Hiến pháp Việt Nam hiện hành đã đặt Hiến pháp ở hệ cấp tối thượng: “Hiến pháp nước
Cộng h hội chủ nghĩa Việt Nam luật bản của Nhà nước, hiệu lực pháp cao nhất. Mọi văn
bản khác phải phù hợp với Hiến pháp”. Tuy nhiên, xét kỹ vấn đề chúng ta thấy điểm mâu thuẫn trong
duy lập hiến ở đây: mặc dù chúng ta đặt Hiến pháp ở hệ cấp pháp lý tối cao nhưng lại quy định Quốc hội có
quyền “làm Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp” (Điều 84). Như vậy, dường nchúng ta coi Quốc hội chủ
thể của quyền lập hiến và không có sự phân biệt chủ thể của quyền lập hiến và chủ thể của quyền lập pháp.
Trong khi đó, các Hiến pháp 1946, 1959 - những bản Hiến pháp được soạn thảo dưới sự chỉ đạo của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết vấn đề này rất thấu đáo. Theo các hiến pháp này, Quốc hội chỉ quyền lập
pháp: “Nghị viện nhân dân… đặt ra các pháp luật” (Hiến pháp 1946, Điều 23); “Quốc hội là cơ quan duy nhất
quyền lập pháp của nước Việt Nam dân chcộng hoà” (Hiến pháp 1959, Điều 44). Từ Hiến pháp 1980
đến Hiến pháp hiện hành, Quốc hội được quy định quyền lập hiến. Nếu chủ thể của quyền lập hiến
quyền lập pháp một thì tại sao Hiến pháp lại hiệu lực pháp tối cao? Nếu như không sự phân biệt
giữa chủ thể của quyền lập hiến chủ thcủa quyền lập pháp thì cũng không thể sự phân biệt hệ cấp
pháp lý giữa Hiến pháp và thường luật.
Hơn nữa, nếu như luật pháp là văn bản của Nhà nước thì Hiến pháp là văn bản của nhân dân. Cho
nên nhân dân phải quyền quyết định trong việc thiết lập cũng như việc sửa đổi Hiến pháp. Một trong
những hình thức để nhân dân thể hiện ý chí quyết định của mình là bỏ phiếu trưng cầu dân ý. Trong khi đó,
Hiến pháp hiện hành của chúng ta tại Điều 147 quy định “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp”
hoàn toàn không quy định việc sửa đổi Hiến pháp phải được đem trưng cầu dân ý.
ý kiến cho rằng, nhân dân người phân công quyền lực: “Nhân dân, thông qua bản Hiến pháp,
uỷ quyền cho Nhà nước, các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước”[8]. Điều này rất đúng ở nhiều
nước khi nhân dân được coi chủ thể của quyền lập hiến. Về nguyên tắc như vậy, nhưng theo Hiến
pháp Việt Nam, Quốc hội chứ không phải nhân dân là người nắm quyền lập hiến. Hiến pháp là một văn bản
phân công quyền lực nhà nước. Cho nên chỉ chủ thể của quyền lập hiến mới người phân công quyền
lực nhà nước. Nếu coi nhân dân chủ thcủa quyền lập hiến thì đúng nhân dân chủ thể phân công
quyền lực. Nhưng Việt Nam Quốc hội nắm quyền lập hiến nên chính Quốc hội người phân công thực
hiện quyền lực nhà nước. Như vậy, không thể một quan nào thể đứng trên Quốc hội để phân xử
hành vi của Quốc hội[9]. Lập luận này của tôi đã được phản biện rằng: “Cơ chế này xem xét, giải quyết tính
hợp hiến không phải chvới cách một quan nào đó, dựa trên Hiến pháp, nhân danh Hiến pháp
do nhân dân lập ra. đây không nên đặt vấn đề một cách phần cứng nhắc là ai đứng cao hơn ai,
Hiến pháp mới là đứng cao nhất, tối thượng, tất cả đều phải tuân thủ”[10]. Đúng vậy, nhưng hiến pháp chỉ tối
thượng khi hiến pháp được thiết lập bởi quyền lập hiến của nhân dân. Chỉ khi nào quyền lập hiến thuộc về
nhân dân thì mới đúng là không có sự “ai đứng cao hơn ai, mà hiến pháp mới là đứng cao nhất”. Nhưng nếu
quy định quyền lập hiến thuộc về Quốc hội thì không thể dung hợp được với chân này quyền lập hiến
thuộc về Quốc hội. Cho nên không thể một cơ quan nào có thể được đặt ra trong khung cảnh Hiến pháp
Việt Nam hiện hành để xem xét về hành vi của Quốc hội. Điều này giải thích cho thực tế là đến hiện nay,
Việt Nam vẫn chưa một quan chuyên kiểm tra tính hợp hiến của quyền lực nhà nước nói chung
quyền lập pháp của Quốc hội nói riêng, tức là chưa có một chế độ bảo hiến hoàn chỉnh.
Do đó, thiết nghĩ rằng, để thiết lập sở hiến pháp hoàn chỉnh cho chế độ bảo hiến Việt Nam,
chúng ta cần trở lại những giá trị của Hiến pháp 1946: trong lời nói đầu, Hiến pháp phải tuyên bố nhân dân
là chủ thể của quyền lập hiến, trong Hiến pháp cần quy định Quốc hội chỉ có quyền lập pháp; và việc sửa đổi
Hiến pháp phải được đem trưng cầu dân ý hoặc theo một thủ tục khác th hiện được rằng quyền lập hiến
thuộc về nhân dân.
Dân quyền trong hiến pháp
Sự vi phạm hiến pháp phổ biến nhất sự vi phạm của công quyền đến các quyền hiến định của
công dân. Định chế bảo hiến sinh ra để hạn chế chính quyền khỏi sự xâm phạm đến quyền của công dân.
Cho nên định chế bảo hiến chỉ có thể tồn tại trên cơ sở các quy định về quyền công dân trong hiến pháp.
Việc ghi nhận dân quyền tiền lệ Anh, nhưng việc ghi nhận dân quyền trong Hiến pháp lại khai
sinh ở Bắc Mỹ. Cuối thế kỷ 18, một số bang mới giành được độc lập tại Bắc Mỹ đã thiết lập những bản hiến
pháp thành văn, ở đầu hiến pháp đặt một bản tuyên ngôn dân quyền. Bản tuyên ngôn dân quyền đầu
tiên trong lịch sử lập hiến thế giới do Quốc hội của tiểu bang Virgina biểu quyết ngày 12/6/1776. Trong Hiến
pháp của Liên bang Hoa Kỳ 1787 không quy định về dân quyền (trừ quyền chính trị). Năm 1791, để bổ
khuyết điều đó, Quốc hội Mỹ đã thông qua 10 tu chính án thể coi tuyên ngôn dân quyền của Mỹ. Sau
khi được khai sinh Mỹ, làn sóng quy định dân quyền trong hiến pháp toả rộng ra các nước trên thế giới,
nhất là ở Pháp.
Đáng lưu ý đa số hiến pháp các nước ghi nhận dân quyền lời nói đầu của hiến pháp dưới hình
thức một bản tuyên ngôn nhân quyền. Điều này phản ánh tưởng nhân quyềntiền đề của hiến pháp
dân quyền phải được quy định trênsở nhân quyền; dân quyền là sự xác lập về mặt phápnhân quyền.
Tuyên ngôn nhân quyền trong lời nói đầu của nhiều hiến pháp có giá trị pháp lý như hiến pháp, thậm chí còn
cao hơn hiến pháp. Duguit, sống dưới thời Cộng hoà III của Pháp cho rằng, bản Tuyên ngôn 1789 một
giá trị riêng biệt, do những điều kiện xung quanh chấp thuận giá trị đó môt giá trị siêu hiến, khiến
cho còn sống khi Hiến pháp 1789 không còn gtrị nữa, vẫn còn được áp dụng mãi mãi[11]. Phần
mở đầu Hiến pháp đệ ngũ Cộng hoà Pháp 1958 viết: “Nhân dân Pháp long trọng tuyên bố trung thành với
bản Tuyên ngôn nhân quyền năm 1789”. Điều này phản ánh quan niệm về hiệu lực pháp trên hiến pháp
của tuyên ngôn nhân quyền Pháp.
Hiến pháp Việt Nam hiện hành một chương riêng quy định về quyềnnghĩa vụ bản của công
dân. Chúng ta cũng thể hiện quan niệm quyền công dân xuất phát từ nhân quyền: “Ở nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn h hội được tôn trọng,
thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” ( Điều 50).
Tuy nhiên, thể nói rằng, các quy định của Hiến pháp về các quyền bản của công dân chưa tạo
dựng được một cơ sở vững chắc cho việc thiết lập chế độ bảo hiến. Nếu như các quyền con người thể hiện
quyền công dân thì quyền công dân phải những quyền tự nhiên vốn của con người nhà nước
phải thừa nhận. Đọc các quy định của Hiến pháp 1992 về quyền công dân thể cảm tưởng rằng dân
quyền không phải là quyền vốn do Tạo hoá ban cho con người nhà nước phải thừa nhận do Nhà
nước ban cho người dân. Quy định về quyền công dân thì phải đặt công dân vị trí chủ thể. Nhưng nhiều
quy định về dân quyền trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành đa phần đặt nhà nước vị trí chủ thể, còn
công dân thì như là đối tượng được ban cho quyền chkhông phải được thừa nhận quyền. Trong 33 điều
của chương V của Hiến pháp Việt Nam hiện hành về các quyền nghĩa vụ bản của công dân, Nhà
nước - với cách chủ thể xuất hiện hơn 20 lần. Những công thức thường được áp dụng : “Nhà nước
bảo đảm...”; “Nhà nước... có kế hoạch...”; “Nhà nước ban hành...”; “Nhà nước quy định”; “Nhà nước giao...”;
“Nhà nước có chính sách...”; “Nhà nước tạo điều kiện...”; “Nhà nước bảo hộ...”.
Để thể làm sở cho chế độ bảo hiến, những quy định về dân quyền trong hiến pháp phải được
sử dụng bởi công dân quan áp dụng pháp luật. Nhưng các quy định về dân quyền trong Hiến pháp
Việt Nam không được toà án viện dẫn trong xét xử, và công dân cũng không viện dẫn đến Hiến pháp để bảo
vệ quyền của mình trước toà. Chính vậy, những quy định về dân quyền trong Hiến pháp mặc dù nhiều
nhưng còn xa lạ với người dân. Sở như vậy cách quy định dân quyền như trong Hiến pháp của
chúng ta rất khó thực hiện. Về nguyên tắc, các quyền công dân phải được xác định kèm theo nghĩa vụ,
trách nhiệm của Nhà nước. Nhưng điều chỉnh về dân quyền mà quy định “Nhà nước... có kế hoạch...", “Nhà
nước ban hành...”; “Nhà nước tạo điều kiện...”; ‘Nhà nước bảo hộ...” thì dường như không phải xác định
nghĩa vụ của nhà nước mà là quyền của nhà nước. Quy định như vậy đã đặt Nhà nước ở vị trí lợi thế so với
công dân: Hiến pháp đã Nhà nước chứ chưa thực sự người dân, nên những quy định về dân quyền
trong Hiến pháp mới chỉ dừng lại tuyên ngôn của Nhà nước ít được người dân sử dụng để bảo vệ
mình.
Muốn cho quyền hiến định của công dân thể thực hiện được trên thực tiễn, được công dân s
dụng để bảo vệ mình thì việc quy định về dân quyền phải theo nguyên tắc xác định dân quyền khu vực
cấm đối với công quyền, công quyền phải thừa nhận dân quyền chứ không phải ban cho công dân quyền cơ
bản. Chẳng hạn, Tu chính án thứ của Hiến pháp Mỹ quy định: “Quyền của người dân được an toàn về
thân thể, nhà ở, giấy tờ tai sản, chống lại mọi khám xét bắt giữ căn cứ, sẽ không bị vi phạm,
không được có một giấy phép khám xét nào, trừ phi có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác
nhận đặc biệt phải miêu tả địa điểm khám xét, những người vật sẽ bị bắt giữ”. Nhìn chung, tôi cho
rằng, trong số các quy định của Hiến pháp Việt Nam về dân quyền thì các quy định về quyền tự do nhân
khả thi vì được ấn định theo nguyên tắc xác định các quyền này như khu vực cấm đối với công quyền.
dụ: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” (Điều
71); “Công dân quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ của người khác nếu
người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép” (Điều 73)...
Trong khi các quy định về quyền tự do nhân khá hợp thì các quy định về quyền của công dân
trong các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội mặc dù rất nhiều nhưng khó thực hiện trên thực tiễn và
do đó cũng khó có làm cơ sở cho việc tồn tại một chế độ bảo hiến. Để có thể làm cơ sở cho chế độ bảo hiến
thì trước tiên chúng ta phải điều chỉnh lại các quy định nói trên theo nguyên tắc coi quyền công dân là quyền
nhà nước phải thừa nhận một khu vực cấm đối với công quyền chứ không phải những quyền
nhà nước ban phát cho công dân. Xin đưa một số điển hình: thay quy định "Nhà nước hội kế
hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" (Điều 55) chúng ta thể sửa thành “Quyền lao
động của công dân không thể bị xâm phạm”. Thay quy định “Nhà nước bảo hộ quyền shữu hợp pháp
quyền thừa kế của công dân” (Điều 58) chúng ta thể sửa thành “Không ai được xâm phạm quyền sở
hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân...”.
Tóm lại, trước khi đi tìm kiếm một mô hình bảo vệ hiến pháp phù hợp với Việt Nam thì việc trước tiên
phải làm nghiên cứu đhoàn thiện sở của chế độ bảo hiến: quyền lập hiến thuộc về nhân dân quy
định khả thi hơn về dân quyền trong Hiến pháp./.
Vài nét về cơ chế bảo hiến và việc tiếp tục
hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở Việt Nam
Đặng Văn Chiến
Phó Trưởng Ban công tác lập pháp
(Nguồn: http://www.na.gov.vn/Sach_QH/phathuygiatri/Phan2/13.htm)
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của
mỗi quốc gia. Bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong việc điều chỉnh các quan hệ hội nhu cầu
cần thiết, tất yếu tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Ý nghĩa quan trọnggiá trị pháp của Hiến pháp chính là nguồn gốc phát sinh vấn đề bảo vệ, giám
sát việc tuân thủ Hiến pháp là sở hình thành chế bảo hiến. Bởi lẽ, chế bảo hiến chỉ tồn tại khi
Hiến pháp ưu thế hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Trước đây, trong một số tài liệu
pháp lý, hoạt động bảo hiến được hiểu sự giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật.
Đến nay, khái niệm này được hiểu rộng hơn, theo đó hoạt động bảo hiến không chỉ sự kiểm tra tính hợp
hiến của các văn bản quy phạm pháp luật còn bao gồm nhiệm vụ bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp
như nền tảng của hệ thống pháp luật quốc gia, bảo đảm các quyền hiến định, mối quan hệ hữu giữa
các quan trong tổ chức bộ máy nhà nước. Khái niệm chế bảo hiến vậy cũng nội hàm rộng hơn,
bao gồm toàn bộ các thiết chế, nguyên tắc biện pháp tổ chức thực hiện các hoạt động giải thích Hiến
pháp; kiểm tra và giám sát hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; kiểm tra, giám sát tính
hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật điều ước quốc tế; kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân; phát hiện giải quyết các vấn đề
phát sinh về thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền,v.v...
tưởng về giám sát Hiến pháp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào đầu thế kỷ XVII gắn liền với hoạt
động của Hội đồng mật. Hội đồng này quyền tuyên bố văn bản do quan lập pháp của các nước
thuộc địa Anh ban hành trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung thì không thể có hiệu lực và phải
bị bãi bỏ. Giám sát Hiến pháp theo nghĩa hiện hành lần đầu tiên xuất hiện Mỹ, nhưng không phải trên
sở Hiến pháp mà từ án lệ. Năm 1803, Chánh án Toà án tối cao Mỹ đã phán quyết xác lập quyền của Toà án
tối cao được xem xét tính hợp hiến của bất kỳ đạo luật nào của Nghị viện liên bang hay của quan lập
pháp các tiểu bang bằng tuyên bố Hiến pháp liên bang là đạo luật cao nhất của đất nước, vì vậy bất cứ văn
bản luật nào do Nghị viện ban hành trái với Hiến pháp thể bị Toà án tuyên bố không hợp hiến[1].
châu Âu, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, xuất hiện một hình quan bảo hiến do học giả người Áo -
Hans Kelsen sáng tạo. Theo đó, hoạt động bảo hiến được tách khỏi hệ thống pháp do một quan