XÂY DỰNG KHUNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI-THÚ Y CHO VIỆT NAM HỘI THẢO VỀ CHĂN NUÔI – THÚ Y TÀI LIỆU VỀ THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU Những lĩnh vực cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (ARDOs)

Gia súc lớn Gia súc nhỏ Lợn Gia cầm Côn trùng có ích Thuốc thú y và vắc xin Chế biến và bảo quản thức ăn chăn nuôi

ARDO 1: ARDO 2: ARDO 3: ARDO 4: ARDO 5: ARDO 6: ARDO 7:

Tháng 12 năm 2007

2

ARDO 1:

GIA SÚC LỚN

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1 Mục tiêu quốc gia

Tăng mức đóng góp của ngành chăn nuôi trong nước cho tổng nhu cầu tiêu dùng nội điạ thông qua thâm canh chăn nuôi bò thịt, bò sữa và trâu ở các vùng có lợi thế so sánh nhằm cung cấp những sản phẩm, chất lượng cao, giá trị cao, tạo việc làm trong các ngành sản xuất, chế biến và cải thiện thu nhập và đời sống của người nông dân.

• Trâu: đến năm 2010 có khoảng 3,07 triệu con và năm 2015 khoảng 3,23 triệu con; số lượng thịt trâu vào khoảng 72.000 tấn năm 2010 và 88.000 tấn năm 2015.

• Bò thịt: năm 2010 có khoảng 7,1 triệu con và năm 2015 có khoảng 9 triệu

Các mục tiêu của sản xuất là:

• Sữa: năm 2010 có khoảng 200.000 con và năm 2015 có khoảng 350.000 con; số lượng sữa tươi vào khoảng 350.000 tấn năm 2010 và 670.000 tấn vào năm 2015. Sản xuất sữa đạt mục tiêu đáp ứng 33% nhu cầu thị trường vào năm 2010 và đến năm 2015 đáp ứng 42% nhu cầu thị trường.

con; số lượng thịt bò vào khoảng 210.000 tấn và 310.000 tấn năm 2015.

• Cải tiến di truyền thông qua nhân giống và các chương trình chọn lọc để tạo ra các

1.2 Phạm vi nghiên cứu và phát triển

• Nghiên cứu phát triển các công nghệ hữu ích trong nuôi dưỡng và quản lý bò thịt,

giống trâu bò có năng suất cao.

• Nghiên cứu phát triển các tiêu chuẩn dinh dưỡng và hình thành các khẩu phần bổ

bò sữa và trâu.

• Nghiên cứu và phát triển các chương trình quản lý chất thải động vật đối để hình

sung dinh dưỡng cân bằng cho bò thịt và bò sữa.

thành các hệ thống chăn nuôi bò bền vững về mặt môi trường.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đàn bò thịt, bò sữa và trâu trong nông hộ và trang trại.

2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH

2.1. Giới thiệu

Chăn nuôi gia súc nhai lại có vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp nói chung, đặc biệt trong ngành chăn nuôi nói riêng. Với cây lúa là cây trồng chính, con trâu đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp và trong đời sống của nông dân Việt Nam, người ta vẫn thường nói “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Con trâu là gia súc được nuôi với nhiều mục đích trong sản xuất nông nghiệp, chúng là nguồn sức kéo chính trong việc cày bừa chuẩn bị đất và trong vận chuyển ở các vùng nông thôn, đồng thời

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

3

cung cấp lượng phân bón hữu cơ khổng lồ cho trồng trọt. Chúng cũng thích nghi tốt với việc sử dụng các nguồn thức ăn địa phương, đóng vai trò như phương tiện để tiết kiệm tiền bạc và là nguồn tín dụng của người nông dân. Khi quá trình cơ khí hóa nông nghiệp nông thôn phát triển, thì vai trò của con trâu trong việc cày kéo giảm đi, một phần chúng được chuyển sang với mục sản xuất thịt.

Mặc dù chăn nuôi bò đã có từ rất lâu, nhưng phải đến tận những năm 1960, nhà nước mới có chính sách đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò. Để chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi để cày kéo sang ngành chăn nuôi bò chuyên dụng thịt sữa, hiện nay Việt Nam đang tiến hành một số các dự án và các chương trình nghiên cứu nhằm cải tiến chất lượng giống bò thịt, bò sữa. Tuy nhiên chất lượng giống bò thịt, bò sữa vẫn còn rất kém, hậu quả là ngành chăn nuôi bò thịt và bò sữa n ăng suất vẫn thấp, lợi nhuận không cao.

Trong hệ thống chăn nuôi, việc cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm thịt, sữa có liên quan chặt chẽ tới lợi nhuận và sự phát triển bền vững của hệ thống. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu sản xuất thực phẩm chất lượng cao, vệ sinh và an toàn trong chăn nuôi nông hộ đòi hỏi những đầu tư thích đáng về tài chính và kỹ thuật.

2.2. Đặc điểm ngành và triển vọng

2.2.1 Số lượng gia súc

Trâu

Bảng 1. Số lượng trâu (2001- 2006) Đơn vị: 1000 con

2001 2002 2003 2004 2005 2006 Vùng

2.807,8 2.814,4 2.834,9 2.869,8 2.922,1 2.921,1 Cả nước

Đồng bắng Sông Hồng 136,9 125,8 164,9 154,6 145,9 120,6

1.263,7 1.267,7 1.224,1 1.213,1 1.226,4 1.237,7 Đông Bắc

381,2 390,3 399,3 437,8 453,1 465,1 Tây Bắc

685,4 689,3 706,9 719,4 743,4 737,7 Bắc Trung Bộ

127,8 129,8 136,9 134,4 139,5 156,5 Nam Trung Bộ

47,4 47,6 65,9 68,7 71,9 79,0 DH Miền Trung

125,2 126,4 106 105,4 103,3 85,6 Đông Nam Bộ

35,8 37,8 40,2 37,2 36,4 38,8 Đồng bằng Sông Cửu Long

• Trong 6 năm qua, tổng số trâu đã tăng 4%, tuy nhiên có một số vùng có chiều hướng

Nguồn: Cục chăn nuôi -Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2006

• Tỷ lệ trâu tương ứng ở các vùng là Đông Bắc (42%), Bắc Trung Bộ (25%), Tây Bắc (16%), Nam Trung Bộ (5%), Đồng bằng Sông Hồng (4%), Đông Nam (3%), Duyên Hải Miền Trung (3%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (1%).

giảm nhẹ trong khi các vùng khác có chiều hướng tăng lên.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

4

Bò thịt

Bảng 2. Sự thay đổi số lượng bò thịt (2000- 2006) Đơn vị: 1000 con

Vùng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Cả nước 40127,9 3899,6 4063,1 4394,7 4907,9 5540,7 6510,8

Miền Bắc 2044,5 2029,9 2083,9 2212,9 2423,6 2696,4 3096,2

488,8 339,5 350,0 542,3 604,7 685,8 793,1

Đồng bằng Sông Hồng

Đông Bắc 507,4 667,4 696,0 578,0 618,8 675,5 782,9

Tây Bắc 158,2 173,6 182,0 193,6 209,8 224,2 272,1

Bắc Trung Bộ 890,6 849,4 855,9 899,0 990,3 1110,9 1248,1

Miền Nam 2083,4 1869,7 1979,2 1181,8 2484,3 2844,3 3414,6

Nam Trung Bộ 937,2 772,4 793,6 842,1 917,9 1007,4 1199,6

DH Miền Trung 524,9 397,9 391,0 476,0 547,1 616,9 747,9

Đông Nam Bộ 423,9 479,4 516,3 534,6 590,6 682,2 787,3

ĐB Sông Cửu Long 197,2 220,6 278,3 329,1 419,7 537,8 679,8

• So với năm 2000, số lượng bò thịt đã tăng lên khoảng 58%.

• Bò được nuôi ở tất cả 8 vùng kinh tế là Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Duyên Hải Miền Trung, Đông Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long. Số lượng bò thịt khác nhau giữa các vùng, các vùng miền trung (Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung) có số lượng đàn bò lớn nhất lên tới 2.488 triệu con chiếm 37,6% tổng số bò.

• Theo thống kê, số lượng bò thịt có sự giảm nhẹ vào giai đoạn 2001- 2002, tuy nhiên

Nguồn: Tổng cục thống kê

• Đồng Bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ gia tăng cao nhất (344%).

sau đó số lượng bò thịt lại ổn định và tăng lên nhanh chóng.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

5

Bò sữa

Bảng 3. Những thay đổi về số lượng bò sữa ( 2001-2006) Đơn vị: 1000 con

2002 Vùng 2001 2003 2004 2005 2006

8216 Miền Bắc 6170 17885 24151 26308 23335

5040 Đồng bằng Sông Hồng 3543 9033 11424 11975 10659

746 Đông Bắc 2613 2910 4832 5458 5325

2103 Tây Bắc 14 4044 5048 5058 4090

327 Bắc Trung Bộ 35071 1898 2847 3817 3261

Miền Nam 132 47632 61358 71643 77812 89880

848 Nam Trung Bộ 804 3532 5902 3014 1476

1007 DH Miền Trung 32298 1732 2119 2549 2901

Đông Nam Bộ 75066 1837 41937 50098 56098 63939

10437 ĐB Sông Cửu Long 41241 3840 4996 6823 8310

• Tổng số bò sữa là 113.215 con, tăng 3,78 lần so với năm 2001.

• Bò sữa đang được nuôi ở cả 8 khu vực sinh thái, nhưng một số vùng như Đông Bắc và Bắc Trung Bộ ngành bò sữa chỉ mới được thành lập vào năm 2001, song đến năm 2006 đàn bò sữa của hai khu vực này tương ứng là 5.325 con và 3.261 con.

• Số lượng bò sữa ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long đã tăng khoảng 5,7 lần trong

Cả nước 41.241 55.848 79.243 95.794 104.120 113.215

• Theo thống kê, số lượng bò sữa tăng nhanh nhất trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2004 do một số tỉnh, thành phố đã đưa ra các chính sách để đẩy mạnh chăn nuôi bò sữa. Tuy nhiên, điều này dẫn đến nhu cầu cao về giống bò sữa và vì vậy giá cả bò sữa giống đã bị đẩy lên cao, tạo nên một thị trường giống bò sữa ảo.

• Công tác lai giống được tiến hành ồ ạt giữa bò địa phương và bò HF nhằm cải thiện

thời gian từ năm 2001 đến năm 2006.

• Thêm vào đó, một số công ty nhập khẩu bò HF thuần và Jersey từ Mỹ, Úc và New Zealand để bán cho các tỉnh, thành phố mà không xem xét kỹ năng suất cá thể bò và thành tích và khả năng thích nghi của các chúng với điều kiện nước ta. Vì vậy, đàn bò sữa có năng suất sữa và tỷ lệ sinh sản thấp cho nên hiệu quả kinh tế thấp.

• Trong thời gian từ 2004 – 2006, số lượng bò sữa tăng khoảng 8,7% /1 năm và điều này đã phản ánh năng lực thực tế trong phát triển của ngành bò sữa Việt Nam. Tốc độ tăng của đàn bò sữa hiện nay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình chọn lọc s âu h ơn các bò cái giống sữa, do đó sẽ mang lại nhiều lợi nhuận và sự bền vững cho ngành chăn nuôi bò sữa.

• Hầu hết bò sữa tập trung ở các vùng Đông Nam Bộ (66%) và Đồng bằng Sông Hồng (21%), đây cũng là hai trung tâm kinh tế chính của Việt Nam và là những thị trường

giống bò địa phương đã dẫn đến hệ quả là đàn bò s ữa có năng suất thấp.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

6

• Chăn nuôi bò sữa có khuynh hướng phát triển ở những vùng có thị trường lớn và có c ác nhà máy chế biến sữa v à các sản phẩnm sữa, một số vùng có tiềm năng để phát triển sữa như Tây nguyên, vùng Tây Bắc và Đông Bắc chỉ có số lượng bò sữa nhỏ (2,6 – 4,7% trong tổng đàn cả nước) vì khá xa các thành phố lớn.

tiêu thụ sản phẩm sữa chủ yếu. Vì vậy các nhà máy chế biến sữa và các sản phẩm sữa chủ y u tập trung tại đây.

2.2.2. Giống

• Trâu địa phương là loại trâu Đầm lầy (các vùng khác nhau có tên khác nhau ví dụ: trâu Ngố (có kích thước lớn) và trâu Gié (có kích thước nhỏ)) với tổng số lượng 2 loại này xấp xỉ 3 triệu con. Thông thường, trâu Đầm lầy Việt Nam có kích thước cơ thể nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài và năng suất sữa kém, nhưng chúng thích nghi được rất tốt với điều kiện sinh thái của nước ta và chống chịu tốt với bệnh tật.

• Vào những năm 1970 trâu Murrah được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, Bulgaria và Ấn Độ nhằm cải thiện khả năng sản xuất của giống trâu địa phương. Trâu Murrah đã thích nghi tốt và được nuôi ở nhiều địa phương, đồng thời đã được lai tạo với giống trâu Đầm lầy. Nhưng số lượng trâu Murrah và các con lai vẫn còn ít, chúng được nuôi nhốt ở các trại nhà nước và chỉ mới sử dụng cho nghiên cứu. Các con lai F1 đã được cải thiện về tầm vóc, tốc độ sinh trưởng, sức kéo, năng suất sữa và thành tích sinh sản nhưng hiện nay số lượng các con lai là rất ít.

Trâu

• Bò địa phương hay bò vàng hiện nay chiếm khoảng 70% tổng số lượng bò thịt của cả nước. Đây là giống bò có tầm vóc nhỏ bé, thịt xẻ thấp nhưng thích ứng tốt trong các hệ thống sản xuất nông hộ với tỷ lệ sinh sản khá cao.

• Tổng số con lai trên 50% máu Zebu chiếm khoảng 30% tổng đàn. Các con lai có khối lượng cao hơn bò Vàng (cao hơn 35% khối lượng bò Vàng), tỷ lệ thịt xẻ cao hơn từ 3-5% và thích nghi tốt trong điều kiện nuôi nông hộ. Tuy nhiên, khoảng cách giữa lứa đẻ dài hơn so với bò Vàng.

• Các giống bò thuần kích thước lớn như Brahman và Drought Master đã, đang được nhập và nuôi ở một vài nơi từ năm 2002. Số lượng của chúng chỉ dưới 1% so với tổng số lượng bò thịt. Bò nhập khẩu có khối lượng cơ thể lớn hơn, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn nhưng chúng đòi hỏi các thức ăn có chất lượng tốt hơn và đòi hỏi kỹ thuật nuôi dưỡng tốt hơn so với bò địa phương. Vì thế, chúng tỏ ra không thích nghi với một số địa phương Việt Nam (ví dụ như Tuyên Quang).

Bò thịt

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

7

Bò sữa Bảng 5. Cấu trúc giống bò sữa

1/2HF 3/4HF >3/4HF Bò ngoại

Giống Vùng miền Tổng số cả nước (con) Tổng số cả nước (% tổng số) Miền Bắc (con) Miền Bắc (% tổng số) Miền Nam (con) Miền Nam (% tổng số) 25.826 24,2 10.231 33,7 15.631 20,4 27.948 26,1 6.061 20,0 21.887 28,5 36.798 34,4 2.963 9,8 33.835 44,1 16.437 15,4 11.116 36,6 5.321 6,9

• 85% tổng số bò sữa là bò lai Holstein Friesian (HF) lai, trong đó trên 60% là bò lai ¾

Nguồn: Dự án phát triển bò sữa quốc gia (2005)

• Các giống bò sữa thuần nhập khẩu về Việt Nam như HF và Jersey hầu hết được nuôi

HF.

• Tổng số lượng bò sữa nhập khẩu từ năm 2002 đến 2004 là 10.000 con.

• Ngoại trừ một số Tỉnh này có truyền thống nuôi bò sữa HF thuần, các Tỉnh có khí hậu tương đối nóng như Cần Thơ và Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đang nuôi bò HF thuần. Tuy nhiên, sản lượng sữa của bò HF thuần nuôi tại các Tỉnh này còn thấp, mức trung bình khoảng 80- 85% so với bò HF thuần được nuôi trong điều kiện khí hậu ôn hòa như ở Mộc Châu và Lâm Đồng.

• Các giống bò sữa có tỷ lệ máu HF thấp hơn có khả năng chịu đựng với điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng và chống chịu với stress nhiệt tốt hơn so với các giống có tỷ lệ máu HF cao hơn hoặc HF thuần.

ở các Tỉnh Mộc Châu, Lâm Đồng, Thanh Hóa và Tuyên Quang.

2.2.3. Tổng sản lượng

Sản lượng thịt

Bảng 6. Sản lượng thịt trâu, thịt bò và sự t ỷ l ệ trong tổng sản lượng thịt giai đoạn 2001 – 2006 (theo khối lượng thịt hơi)

2001 1.939,3 2002 2003 2.146,3 2.328,9 2006 3.073,2 2004 2005 2.505,7 2.812,1 51,380

2,6 51,811 53,061 2,4 2,3 0,8 2,4 57,457 59,800 64,317 7,5 2,1 4,1 2,1 8,3 2,3 97,78 104,45 107,54 119,78 142,16 159,46

Chỉ tiêu Tổng SL thịt (1,000 tấn) Trâu Tổng lượng thịt trâu (1000 tấn) Tốc độ tăng thịt trâu (%) Tỷ lệ thịt trâu trong tổng lượng thịt (%) Bò thịt Tổng lượng thịt bò (tính theo khối lượng hơi, 1000 tấn) Tốc độ tăng của thịt bò (%) Tỷ lệ thịt bò trong tổng lượng thịt (%) Dân số (Triệu người) Lượng thịt sản xuất/ người 4,3 5,03 78,7 1,24 6,9 4,64 79,7 1,28 2,9 4,59 80,9 1,33 18,7 5,05 83,1 1,71 12,16 5,19 84 1,90 11,4 4,75 82 1,45

Nguồn: Cục Chăn Nuôi (2006)

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Lượng thịt trâu chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng sản lượng thịt. Tốc độ tăng sản lượng thịt trâu hàng năm cũng thấp (0,8 – 8,3%). Điều này làm cho phần trăm thịt trâu trong tổng lượng thịt (%)giảm hàng năm.

• Tuy nhiên, theo FAO tổng sản lượng thịt trâu của Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới.

• Tốc độ tăng sản lượng thịt bò hàng năm cao từ 11- 18%. Tổng số lượng thịt bò trong năm 2006 cao hơn 70% so với năm 2000. Tuy nhiên, lượng thịt bò sản xuất hàng năm vẫn chỉ ở mức thấp, chiếm khoảng (4,6 – 5,2%) tổng lượng thịt. Tiềm năng cho thịt bò ở thị trường nội địa là rất lớn.

8

• Trâu phần lớn được sử dụng cho mục đích cày kéo, những trâu già hoặc trâu gầy được loại thải và giết thịt. Thông thường, chúng không được vỗ béo trước khi giết mổ nên tỷ lệ thịt thấp và chất lượng không tốt.

Trâu

Bảng 7. Sản lượng thịt trâu ở các vùng khác nhau (2002-2006) Đơn vị: 1.000kg

Vùng

2001 51.380 3.709 18.444 5.106 8.168 2.147 1.227 8.732 3.847 2002 51.811 4.107 19.101 5.230 8.816 2.016 2.288 8.720 1.533 2003 53.061 4.675 17.562 6.139 10.077 2.225 2.441 8.022 1.920 2004 57.457 5.223 19.028 6.284 11.675 2.380 2.211 8.829 1.826 2005 59.800 5.239 19.884 6.919 12.726 3.246 1.948 8.117 1.718 2006 64.317 5.990 19.449 7.554 13.794 3.377 1.899 10.478 1.724 Cả nước Đồng Bằng Sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Nam Trung Bộ Central Highlands Đông Nam Bộ Đồng Bằng Sông Cửu Long

• Số lượng thịt trâu đang tăng lên hàng năm, trong 6 năm gần đây tăng 25% (tương

Nguồn: Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn- 2006)

ứng 4%/năm)

Bảng 8. Tỷ lệ thịt của trâu Đầm lầy địa phương

Nội dung Đơn vị Trâu già (loại thải)

Khối lượng cơ thể (hơi) Khối lượng thịt xẻ Tỷ lệ thịt xẻ Khối lượng thịt nạc Tỷ lệ thịt nạc kg kg % kg % Trâu non (24 tháng tuổi) 194 85,8 44,3 67,9 35,0 327 127,8 39 93,6 28,6

Nguồn: Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1999

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Rõ ràng những trâu loại thải có khối lượng thịt xẻ rất thấp. Trâu trẻ có khối lượng thịt xẻ cao hơn và tỷ lệ thịt nạc cũng có thể được cải thỉện bởi một thời gian vỗ béo ngắn trước khi giết mổ.

9

Bảng 9. Tăng trọng và tỷ lệ thịt của trâu Đầm lầy non được vỗ béo

Nội dung Tăng trong trung bình Khối lượng giết thịt Khối lượng thịt xẻ Khối lượng thịt nạc Tỷ lệ thịt xẻ Tỷ lệ thịt nạc Đơn vị g/ngày Kg Kg Kg % % Trung bình 520 219 99.7 82.6 45.5 37.7

Nguồn: Nguyễn Công Định và cộng sự (2007)

Bò thịt

Bảng 10. Tăng trọng và tỷ lệ thịt xẻ (so với khối lượng hơi) của một số giống bò

Sahiwal x Bò Vàng

Brahman x Bò Vàng

Đơn vị Bò Vàng Bò lai Sind Zebu thuần Thông số

• Tốc độ tăng trọng và tỷ lệ thịt xẻ của các giống lai cao hơn so với bò Vàng. Khối lượng trưởng thành và tỷ lệ thịt xẻ của các nhóm này từ 38,8 – 61,1% và cao hơn 5,3 – 5,8% so với các thông số này của bò Vàng. Các bò cái lai đã được lai tiếp với các bò đực giống có tiềm năng cho khối lượng thịt xẻ cao đã góp phần làm cải thiện cả chất lượng và năng xuất của bò thịt ở Việt Nam.

Kg Kg Kg Kg Kg % 14 63,7 85 140 180 44,2 20,1 97,5 140 200 250 49,6 22 105 160 220 280 49,5 23 107,5 165 230 290 50 27 140 215 350 450 55 Khối lượng sơ sinh Khối lượng lúc 6 tháng tuổi Khối lượng lúc 12 tháng tuổi Khối lượng lúc 12 tháng tuổi Khối lượng trưởng thành Tỷ lệ thịt xẻ (trong khối lượng hơi)

Bò sữa

Bảng 11. Sự thay đổi số lượng và sản lượng của đàn bò sữa và sản lượng sữa tính theo đầu người (2000 – 2006)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Số lượng (1000 con) 55,9 79,2 95,8 104,1 113,2 35,0 41,2

Tổng sản lượng sữa (1000 tấn) 78,7 126,7 151,3 197,7 216,0 52,2 64,7

Dân số (Triệu người) 79,7 80,9 82 83,1 84 77,63 78,7

Lượng sữa/đầu người(kg) 0,98 1,57 1,84 2,38 2,57 0,67 0,82

Nguồn: Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007)

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Số lượng bò sữa và sản lượng sữa của đàn bò sữa tiếp tục tăng, số lượng bò tăng 3 lần và sản lượng sữa tăng lên 5 lần trong 6 năm qua. Sản lượng sữa tăng cao hơn so với tốc đọ tăng đàn là do con giống tốt hơn, dinh dưỡng và chế độ chăm sóc tốt hơn.

10

Bảng 12. Năng suất sữa trung bình (tấn/con/kỳ tiết sữa) của bò thuần và bò lai HF

Loại bò 2000 2002 2003 2004 2005

Lai HF 3,10 3,40 3,60 3,75 3,85

HF thuần 3,80 4,20 4,40 4,50 4,60

• Năng suất sữa trung bình của bò lai HF trong năm 2005 cao hơn 24,2% so với năm 2000 và năng suất sữa trung bình của bò HF trong năm 2005 cao hơn 21,1% đối với bò HF thuần n ăm 2000.

Nguồn: Cục chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006)

2.3. Giá trị và thị trường

• Thịt trâu, thịt bò, sữa và các sản phẩn sữa được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong

• Mức tiêu thụ thịt đã tăng l44,58% và tiêu thụ thịt bò đã tăng 53,23% trong giai đoạn 2001 – 2006. Tuy nhiên, tiêu thụ thịt bò vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng thịt tiêu dùng (khoảng 5-6%)

• Mức tiêu thụ thịt trâu thấp (0,6 – 0,7 kg/người/năm) và chỉ chiếm 2% trong tổng thịt

nước.

• Mức tiêu thụ thịt bò trên đầu người ở Việt Nam bằng 45,86% và 17,78% mức tiêu thụ thịt bò/người ở khu vực Đông Nam Á (2,95kg/người) và Châu Á (8,43 kg/ đầu người).

• Vì chất lượng của thịt bò ở Việt Nam tương đối thấp nên người tiêu dùng thịt này

tiêu dùng.

• Những thị trường cao cấp như khách sạn, nhà hàng và các siêu thị lớn thịt bò nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn m ặc dù giá thường cao hơn 2,5 – 3 lần giá của thịt bò địa phương.

• Sản lượng sữa từ ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu sữa của thị trường sữa, tiêu dùng sữa trung bình từ năm 2000 tính theo đấu người là 5,2 kg và năm 2005 là 7,9 kg/ năm trong khi lượng sữa sản xuất năm 2005 chỉ đạt được 2,38 kg/đầu người.

• Giá sữa thu mua tại trại đối với sữa tươi chất lượng cao là 4500 VNĐ/kg. Giá sữa hoàn nguyên nhập khẩu (bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế VAT) là 4760 VNĐ/kg (không bao gồm cước vận chuyển).

chủ yếu là những người có thu nhập thấp và trung bình.

2.4. Lợi thế so sánh • Theo đánh giá của FAO, xu hướng của ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới đến năm 2020 là các sản phẩm của ngành chăn nuôi sẽ chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Điều này có thể biến Châu Á thành đại lục lớn nhất của ngành chăn nuôi.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Do sản lượng thịt và sữa còn ở mức thấp so với nhu cầu của thị trường trong nước,

11

• Người nông dân Việt Nam có câu “lấy công làm lãi” vì thế giá cả của các sản phẩm

nên thị trường tiêu thụ trong nước còn rất lớn.

• Năng suất sữa của bò sữa Việt Nam tương đương với năng suất sữa của bò sữa của một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan (3,2 tấn/chu kỳ) và Indonesia (3,1 tấn/chu kỳ).

• Bò có thể sử dụng các phế phụ phẩm công nông nghiệp và các bãi cỏ nhỏ nghèo dinh dưỡng đồng thời người nông dân coi chăn nuôi đại bò như việc kinh doanh đầu tư hàng ngày tối thiểu, rủi do thấp hơn so với các gia súc khác.

• Với tư cách là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) nên có khả năng là cạnh tranh với thịt bò nhập khẩu và các sản phẩm sữa từ nhiều quốc gia có giá thành sản xuất 1kg sản phẩm thấp hơn và chất lượng sản phẩm cao hơn sẽ tăng mạnh.

chăn nuôi tương đối linh động và có sức cạnh tranh cao.

2.5. Chính sách của Nhà nước • Quyết định 167/2001/QĐ – TTg được Thủ tướng ban hành về các chính sách và biện pháp phát triển ngành chăn nuôi bò sữa giai đoạn từ 2001 – 2010. Quyết định này kết hợp với một số chính sách như cung cấp miễn phí trang thiết bị và vật liệu thụ tinh nhân tạo, cung cấp miễn phí vacxin ngăn ngừa một số bệnh truyền nhiễm, cho các hộ chăn nuôi bò sữa vay vốn không lãi suất hoặc lãi suất thấp, đào tạo tập huấn cho nông dân, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi bò sữa đã được ban hành.

• Nghị định 142/2005/NĐ – CP do Thủ tướng ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2005 về

• Nghị Quyết NQ 3/2000- NQ-CP, 09/2000-NQ-CP và Quyết định 167/2001/QĐ – TTg được Chính phủ ban hành khuyến khích các địa phương sử dụng một phần diện tích đất trồng trọt để trồng cỏ cho bò và cho phép những người sản xuất sữa có thời gian thuê đất lâu dài để xây dựng chuồng trại và phát triển đồng cỏ, bãi chăn cho gia súc.

hợp đồng cho thuê đất và nguồn nước phục vụ ngành chăn nuôi gia súc.

3. PHÂN TÍCH NGÀNH

3.1. Cơ cấu

Nông hộ và quy mô nông hộ

• Trâu vẫn đang được phân bố rộng rãi ở các nông hộ nhỏ, hầu hết chỉ có 1 hoặc 2 con.

Trâu

• Hàng năm, một số lượng lớn trâu từ miền núi được chuyển đến các nông hộ ở vùng

Tuy nhiên, ở miền núi nhiều gia đình nuôi từ 5 đến 10 con.

• Hai trang trại của Nhà nước nuôi một số lượng nhỏ trâu giống, chủ yếu phục vụ mục

đồng bằng.

• Một số nơi thương lái thu mua trâu gầy và trâu già để nuôi vỗ béo và giết thịt hoặc

đích nghiên cứu.

nuôi vỗ béo rồi bán, nhưng số lượng vẫn chưa có nhiều.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

12

• Chăn nuôi bò nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng phần lớn ở các nông hộ nhỏ,

Bò thịt và bò sữa

• Trong năm 2005, có 3404 trại chăn nuôi bò thịt thương mại trong cả nước, trong số đó 1064 trại ở phía Bắc (31,26%) và 2340 trại ở phía Nam (68,74%). Các trại chăn nuôi bò thịt thường trồng các cây khác để khai thác, tận dụng hiệu quả các sản phẩm từ các cây trồng này làm nguồn thức ăn thô cho gia súc.

• Tổng số trại chăn nuôi bò sữa là 19.639 (trung bình 5,3 con/hộ), trong số đó 12.626 trại (64,3%) thuộc miền Nam (6,3 con/hộ) và 7.013 trại (35,7%) thuộc miền Bắc (3,7 con/hộ). Số lượng các trại có từ 1 – 5 con là 17.676 (chiếm 90% tổng số), số lượng bò /trại đang thay đổi theo hướng tăng số lượng các nông hộ có quy mô từ 5 – 10 con và giảm các hộ có quy mô ít hơn 5 con.

qui mô từ 1 – 5 con/nông hộ.

Bảng 4. Phân bố số trại theo qui mô đ àn ở Việt Nam (số liệu năm 2006)

Bò thịt Bò sữa

Quy mô (con/trại) Quy mô (con/trại)

50-100 100-150 150-200 200-500 > 500 Tổng số Số lượng trang trại % 78,33 14,20 5,74 1,42 0,31 100 Số lượng 1269 230 93 23 5 1620 10-20 20-50 50-100 100-150 150-200 200-500 > 500 Số lượng trang trại % 15,56 80,75 2,58 0,50 0 0,55 0,06 100 Số lượng 313 1624 52 10 0 11 1 2011

• 92% số đàn bò thịt có quy mô dưới 200 con và 96% số đàn bò sữa có quy mô dưới

Nguồn: Cục Chăn nuôi – Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006)

• Số lượng các trang trại có trên 500 con rất ít (0,31% đối với bò thịt và 0,06% đối với bò sữa). Như vậy, quy mô của cả hai loại trang trại này vẫn còn khá nhỏ và cẩn phải mở rộng nếu ngành chăn nuôi bò trở thành một ngành sản xuất thịt bò và sản phẩm sữa có chất lượng cao theo hướng thị trường. Quy mô chăn nuôi ph ù hợp để sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường sẽ cho phép đầu tư áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào ngành này có hiệu quả kinh t ế.

50 con.

3.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng

• Trung tâm giống gia súc lớn Moncada: trung tâm được xây dựng năm 1972 và gần đây đã được cải tạo, nâng cấp (dự án JICA 2001 – 2005), hiện nay Trung tâm đang áp dụng công nghệ, phương pháp của Nhật Bản để sản xuất tinh đông lạnh bò.

• Hệ thống thụ tinh nhân tạo được thiết lập vào năm 1972 (do Cuba giúp đỡ) cung cấp dịch vụ thụ tinh nhân tạo cho bò sữa ở các tỉnh, các thành phố trên khắp đất nước.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

13

• Một số Công ty giống bò thịt ở Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Khánh Hòa, Sơn La và

Hiện nay, phương pháp thụ tinh nhân tạo được áp dụng cho hầu hết bò sữa nhưng ở bò thịt phương pháp thụ tinh nhân tạo được áp dụng ít hơn.

• 4 Công ty giống bò sữa ở các tỉnh Sơn La (Mộc Châu), Lâm Đồng, Thanh Hóa và

Tuyên Quang.

• Hai cơ sở giết mổ bò thịt với công suất lớn ở Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và

Tuyên Quang.

• Các Công ty chế biến sữa bao gồm Dutch Lady ở Bình Dương, Nestle ở Hà Tây, Hanoimilk ở Hà Nội, Vinamilk (có nhiều cơ sở chế biến với đầy đủ trang thiết bị ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Định, Nghệ An và Hà Nội), Nhà máy chế biến sữa của Công ty mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa và Công ty sữa Mộc Châu.

rất nhiều cơ sở giết mổ nhỏ ở các tỉnh thành khác.

3.3. Xu thế thị trường trong tương lai và những vấn đề cần quan tâm

• Toàn bộ thịt bò và các sản phẩm sữa được sản xuất ở Việt Nam để cung cấp cho thị trường trong nước, vì hiện nay Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn các sản phẩm này.

• Mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm sữa đang gia tăng do thu nhập tăng. Ước tính tiêu

• Hiện nay, Việt Nam vẫn nhập khẩu khoảng 470.000 tấn sữa hàng năm, sữa nhập khẩu có thể tăng đến 710.000 tấn vào năm 2010. Sữa được sản xuất ở Việt Nam cũng chỉ đáp ứng được 33% nhu cầu của thị trường. Như vậy, vẫn còn một thị trường khổng lồ cho sữa và các sản phẩm sữa.

• Theo FAO, tính trên toàn thế giới cứ 4,7 người có 1 bò và tiêu thụ thịt bò là 5,5 kg/ người. Ở Việt Nam, cứ 12,9 người mới có 1 bò và tiêu thụ thịt bò chỉ ở mức 1,9 kg/người. Thịt bò chỉ chiếm 5,19% tổng thịt tiêu dùng và giá thịt bò ổn định hơn so với giá thịt gia cầm và các động vật có vú khác.

• Chi phí sản xuất thịt bò và sữa phụ thuộc vào giá của thức ăn nhập khẩu có thể sẽ

dùng sữa sẽ tăng 8 – 9% mỗi năm nếu GDP tiếp tục tăng ở khoảng 7%.

• Nhu cầu về các sản phẩm thịt, sữa chất lượng cao và an toàn có khả năng tăng lên vì mức tiêu dùng tăng lên đi liền với tăng số lượng người có mức thu nhập cao hơn.

tăng lên đáng kể vì giá ngũ cốc tăng do tă ng việc sản xuất nhiên liệu sinh học.

4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

4.1. Những lĩnh vực nghiên cứu chính

• Thiết lập các bảng nhu cầu dinh dưỡng ở các độ tuổi khác nhau, khối lượng cơ thể và mức sản xuất khác nhau. Thống nhất các bảng thức ăn cho bò sữa, bò thịt và trâu.

• Phát triển và ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật mới hoặc cải tiến để có năng suất cao hơn, chế biến và sử dụng nguồn thức ăn thô và nguồn thức ăn bổ sung, cải tiến nuôi dưỡng, quản lý đàn và sức khoẻ gia súc.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Xây dựng các trang trại chăn nuôi trâu, bò thịt và bò sữa với quy mô lớn và vừa, để tăng sản xuất thịt cho thị trường tiêu thụ thịt trong nước và xuất khẩu trong tương lai.

• Các dự án nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn, chăn nuôi và thú y, và các dự án nhằm (1) nâng cao chất lượng giống bò thịt và bò sữa; (2) tăng cường thiết bị nghiên cứu; (3) tập huấn và đào tạo cho cán bộ khuyến nông và nông dân.

• Tiến hành các hoạt động nghiên cứu về thị trường và hệ thống bán hàng để phát triển các chiến lược thích hợp đối với sản xuất và buôn bán thịt bò và các sản phẩm sữa.

• Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến như cắt phôi, cấy chuyển phôi, kỹ thuật di truyền phân tử và các phương pháp truyền thống trong việc chọn lọc và tạo ra giống bò thịt, bò sữa mới với năng suất, chất lượng cao.

14

4.2. Những cơ quan nghiên cứu chính

• Viện thú y

• Viện Chăn nuôi (NIAH)

• Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi nuôi miền núi (NIAH)

• Các trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi Thành phố Hồ

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD)

• Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì (NIAH).

• Viện Khoa học kỹ thuật và nông nghiệp miền Nam.

• Viện Khoa học Nông Lâm Tây Nguyên – Tỉnh ĐăkLăk.

• Viện Nghiên cứu Nông – Lâm nghiệp khu vực Miền núi phía Bắc – Tỉnh Phú Thọ.

• Viện Thú y

Chí Minh và Duyên Hải miền Trung (NIAH)

• Đại học Nông nghiệp 1 Hà nội

• Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh

• Đại học Nông lâm Huế

• Đại học Nông lâm Thái Nguyên

• Đại học Nông lâm Tây Nguyên

Các trường Đại học nông nghiệp

• Cục Chăn nuôi

• Trung tâm giống vật nuôi ở các tỉnh/ thành phố.

• Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam

Cơ quan khác

4.3. Nguồn tài chính

• Trâu: Tổng số ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển năm 2006

• Bò thịt và bò sữa: Trong năm 2006, Trung ương và chính quyền địa phương khoảng

khoảng 3 tỷ đồng.

6 tỷ đồng, các Tổ chức quốc tế khoảng 3 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 9 tỷ đồng.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

15

4.4. Kết quả chính về nghiên cứu và phát triển

• Tăng số lượng và cải tiến chất lượng thịt trâu phù hợp với các nhu cầu của người tiêu

Trâu

• Sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có của địa phương như bột sắn, lá sắn, bột lá keo dậu, rỉ mật đường, rơm ủ urê và thân cây ngô ủ chua để vỗ béo trâu non (18 – 21 tháng tuổi).

• Chọn lọc những đực giống có ngoại hình lớn và những con mẹ tốt để cải thiện ngoại hình, khối lượng cơ thể của trâu địa phương. Trâu Đầm lầy Việt Nam có khối lượng cơ thể nhỏ, tốc độ tăng trọng thấp, thành thục chậm, khoảng cách hai lứa đẻ dài và năng suất sữa thấp nhưng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của Việt Nam đồng thời chúng có khả năng chống chịu tốt đối với bệnh tật. Việc sử dụng những trâu đực có khối lượng cơ thể lớn (500 – 600 kg) lai tạo với các trâu địa phương nhỏ đã làm tăng 10% khối lượng cơ thể của trâu địa phương ở tất cả các độ tuổi (từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi).

• Lai với trâu đực Murrah để cải thiện kích thước cơ thể và khả năng cho thịt. Lai trâu cái Đầm lầy với trâu đực Murrah tạo ra con lai F1 có khối lượng cơ thể cao hơn 20%. Sau khi vỗ béo, giết mổ ở 24 tháng tuổi khối lượng giết mổ cũng như tỷ lệ thịt của trâu lai F1 cao hơn so với trâu Đầm lầy địa phương. So với trâu Đầm lầy địa phương (trâu non), khối lượng thịt của trâu lai F1 cao hơn 50%.

• Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương như bột sắn, lá sắn, bột lá keo dậu, rỉ mật đường, rơm ủ urê và thân cây ngô ủ để vỗ béo trâu non (18 – 21 tháng tuổi). Đối với trâu, khối lượng cơ thể khoảng 200 kg, kh â ẩu ph â ần c ó 5,5 đến 6,0 kg vật chất khô, trong đó 20 -25% từ các thức ăn tinh và 75 – 80% thức ăn thô. Thức ăn được bổ sung có hàm lượng protein thô 500 – 600g và năng lượng trao đổi là 50 – 55MJ. Sau 2 tháng vỗ béo, tăng trọng trung bình 500 – 700 g/ngày và tỷ lệ thịt móc hàm và tỷ lệ thịt nạc cũng tăng lên.

dùng.

• Cải tiến khối lượng cơ thể và tỷ lệ thịt xẻ của bò Vàng. Con lai giữa bò cái địa phương và bò đực Zebu: con lai F1 có khối lượng cơ thể nặng hơn 35 – 40%, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn 5 – 8% và tỷ lệ nạc tăng nên 3 – 5%.

• Lai tạo bò thịt chuyên dụng thịt. Nghiên cứu về năng suất thịt và năng suất của các con lai giữa bò địa phương đã cải tạo và bò đực Bos indicus và Bos Taurus chuyên thịt. Kết quả cho thấy các con lai sinh ra từ việc lai giống giữa bò cái địa phương và Brahman, Brangus, Limousine, Santa Gertrudis, Charolais và Simental cho tốc độ tăng trọng cao, khối lượng sống (khối lượng cơ thể) cao hơn, khối lượng thịt sẻ và chất lượng thịt cao hơn so với bò Vàng hoặc bò Lai Sind. Kết quả cũng chỉ ra rằng F1 Charolais x LaiSind là con lai có thành tích cao nhất. Khối lượng trung bình của các con lai này là 360 kg ở 24 tháng tuổi với tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc tương ứng là 52% và 44%.

• Các con lai này cũng hiền lành và có khả năng thích nghi trong điều kiện thức ăn

Bò thịt và bò sữa

nghèo dinh dưỡng và điều kiện thời tiết nóng ẩm.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Lai tạo bò sữa chuyên dụng. Lai giữa bò cái Lai Sind với bò đực HF thuần, HF và Brown Swiss cho thấy lai giữa bò đực HF thuần với bò cái Lai Sind thích hợp nhất trong điều kiện Việt Nam. Những kết quả từ các chương trình nghiên cứu sau đó từ những năm 1980 chỉ ra rằng các con lai với 75% máu HF, đạt được năng suất sữa trung bình ≥ 4000 kg/ chu kỳ, chúng lại thích hợp nhất với điều kiện nuôi dưỡng ở nông hộ nhỏ ở tất cả các vùng miền, khu vực sinh thái của Việt Nam.

• Nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng sữa và khả năng sản xuất của đàn HF thuần nuôi trong nước bằng cách sử dụng các con đực và cái nhập từ Mỹ cho thấy chúng có năng suất sữa trung bình là 6036 kg trong kỳ tiết sữa đầu tiên, 6546 kg cho kỳ tiết sữa thứ 2, khoảng cách giữa hai lứa đẻ thứ nhất và thứ 2 là 14,3 tháng , giữa hai lứa đẻ thứ 3 là 12,9 tháng.

• Xây dựng các khẩu phần cân bằng dinh dưỡng cho bò thịt và bò sữa ở các thời kỳ phát triển khác nhau và các mức sản xuất khác nhau. Sắp xếp và cập nhật các bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gia súc, tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn cho động vật nhai lại và bảng khẩu phần ăn cho bò thịt và bò sữa.

• Phát triển các phương pháp chế biến, bảo quản và sử dụng các thức ăn thô, phụ phẩm công nông nghiệp và giới thiệu các chiến lược nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý bò thịt, bò sữa

• Công nghệ sinh học: Sản xuất tinh bò cọng rạ và các thủ tục cấy truyền phôi. Công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm, cắt phôi và chuẩn đoán giới tính của phôi sớm cũng đang được đầu tư và nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế.

16

5. PHÂN TÍCH SWOT (điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức)

• Khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cỏ và các cây thức ăn cho gia súc, đặc biệt trong mùa mưa.

• Thiếu thức ăn trầm trọng trong mùa khô • Thời tiết nóng và khí hậu ẩm ướt gây stress cho bò sữa có máu HF và năng suất cao, đặc biệt bò có máu HF cao > 75%.

• Nguồn phế phụ phẩm công nông nghiệp dồi dào và có thể là nguồn thức ăn có giá trị cho gia súc nhai lại.

• Quy mô nhỏ của các trang trại chăn nuôi bò đã tạo nên nhiều khó khăn trong việc cải tiến giống và kế hoạch sản xuất và bảo quản thức ăn thô trong mùa khô..

• Các giống gia súc địa phương, giống lai và trâu Đầm lầy đã thích nghi tốt với địa lý và điều kiện khí hậu.

• Các cây cỏ nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng thấp và tỷ lệ cây họ đậu trên đồng cỏ còn thấp, đặc biệt trong đồng cỏ tự nhiên.

• Nguồn lao động dồi dào có hiểu biết cao ở các vùng nông thôn sẽ góp phần vào việc đưa tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào ngành chăn nuôi bò

• Sở thích của nông dân về màu nâu sẫm của lông, u và yếm bò rộng (lớn) có thể tác động đến quá trình cải tiến khả năng sản xuất của đàn bò.

• Sự trợ giúp mạnh mẽ từ chính phủ cho phát triển ngành chăn nuôi bò thịt, bò sữa và tín dụng và các khoản vay để phát triển ngành chăn nuôi bò đã sẵn sàng và dễ tiếp nhận đối với người chăn nuôi.

• Các giống bò địa phương có kích thước nhỏ và do đó khối lượng cơ thể và năng suất thấp.

• Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra nhiều giúp đỡ

Điểm mạnh Điểm yếu

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

17

• nông hộ • Có thị trường khổng lồ và ổn định cho thịt bò và

• Hiểu biết và các kỹ năng của nông dân vẫn còn bị hạn chế. Nông dân vẫn chữa chuyên nghiệp trong chăn nuôi bò thịt và trong sản suất sữa.

tích cực cho các dự án phát triển chăn nuôi bò

• Mạng lưới (hệ thống) chuyển giao tiến bộ

các sản phẩm sữa.

• Các hệ thống quản lý chăn nuôi bò còn khá

kỹ thuật đến nông dân còn yếu.

• Con trâu là nguồn cung cấp sức kéo chính cho chồng trọt (chuẩn bị đất) và chuyên chở ở các vùng nông thôn, đồng thời cung cấp nguồn phân chuồng khổng lồ cho trồng trọt.

• Tiến trình cơ khí hóa đang phát triển và vai trò của con trâu trong cày kéo đã giảm đi, một số lượng trâu được chuyển sang nuôi lấy thịt.

• Hợp tác xã và hiệp hội bò thịt và bò sữa vẫn còn yếu và không đủ khả năng bảo hộ quyền và lợi ích cho người chăn nuôi chống lại những gian lận từ tư thương, những người thu mua và chế biến sữa.

• Không có cơ quan phân cấp và định loại chất lượng thịt bò vì vậy sự khác nhau về giá giữa thịt chất lượng cao, thịt chất lượng trung bình là rất nhỏ.

• Hệ thống quản lý chất lượng sữa và các sản phẩm từ bò sữa quốc gia còn tương đối nghèo nàn.

yếu.

• Tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi bò thịt và bò sữa ở Việt Nam còn thấp, một phần do qui mô nhỏ.

• Có tiềm năng khổng lồ để phát triển thị trường nội địa cho thịt bò, thịt trâu và các sản phẩm sữa. • Cơ hội lớn cho các nghiên cứu phát triển hệ thống quản lý và sản xuất thức ăn hiệu quả hơn gồm cả dự trữ thức ăn để vượt qua các vấn đề trong mùa khô.

• Cải tiến sản xuất thông qua phát triền các đàn

Cơ hội Thách thức

• Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và sự giảm thuế nhập khẩu đối với sản phẩm chăn nuôi sẽ làm tăng tính cạnh tranh ở thị trường nội địa do nhập khẩu.

• Bệnh tật, đặc biệt là Lở mồm nong móng sẽ có tác động đến sản xuất chăn nuôi và vận chuyển gia súc.

• Những cải tiến về thú y và hệ thống chăn nuôi thông qua sự phát triển hệ thống giám sát tại trại. • Cải tiến chất lượng thịt bò và các sản phẩm sữa thông qua cải tiến tốc độ tăng trọng, hệ thống thu gom, vận chuyển sữa và hệ thống giết mổ, và xử lý trước giết mổ.

• Cải tiến giá trị di truyền thông qua phương pháp nhân giống, chọn lọc v à phát triển h ệ thống ghi chép gia súc.

• Nhân nhanh các vật nuôi có tiềm năng di truyền ưu việt thông qua sử dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, sự phát triển của hệ thống kiểm tra đời sau và xa hơn nữa là kỹ thuật cấy chuyển phôi

• Hoạt động hợp tác để cải thiện sản xuất và tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn thô xanh và cây họ đậu.

bò thịt và bò sữa nuôi thâm canh hơn

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

18

ARDO 2: GIA SÚC NHỎ

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1. Mục tiêu quốc gia

Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm ngành chăn nuôi dê cừu và đa dạng hoá sản phẩm sữa, thịt dê cừu qua chế biến nhằm tăng khả năng cạnh tranh hướng tới thị trường xuất khẩu góp phần nâng cao GDP ngành chăn nuôi quốc gia.

Mục tiêu: Tính đến năm 2010, tổng đàn dê và cừu đạt được là 4,2 triệu con, cung cấp 1,26 triệu tấn sữa và 25,36 triệu tấn thịt dê/cừu. Sản phẩm thịt dê và cừu sẽ được xem như là sản phẩm sạch cho tiêu dùng.

1.2. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển:

Nghiên cứu: (i) Cải thiện giống dê thông qua công tác chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao năng suất sữa và thịt; (ii) Quản lý tốt hệ thống chăn nuôi phù hợp với điều kiện của từng khu vực; (iii) Xác định những loại dịch bệnh, phương pháp điều trị và phòng chống nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của dịch bệnh; (iv) Nâng cao sản lượng thức ăn chăn nuôi, bảo quản và sử dụng nguồn thức ăn địa phương nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt và sữa; (v) Cải thiện công tác chế biến thịt và sữa quy mô nhỏ từ đó đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và chuỗi cung ứng; (vi) Phát triển mô hình tài chính chăn nuôi nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Phát triển: (i) Ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp và (ii) tác động của các yếu tố xã hội đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi dê cừu vào hệ thống sản xuất nông nghiệp trong các vùng sinh thái khác nhau

1.3. Đối tượng nghiên cứu

- Nhóm giống dê cừu bản địa: Dê Cỏ (Co), Bách Thảo (BT), Cừu Phan Giang.

- Nhóm giống dê cừu nhập nội: Babary (Ba), Jumnapari (Jum), Beetal (Be), Boer (Bo), Alpine (Alp), Saanen (Sa).

- Nhóm dê lai hướng thịt: Bach Thao*Co (BTCo); Boer*Bachthao (Bo*BT); Boer*Jumnapari (Bo*Jum); Boer* Beetal (Bo*Be)

2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH

2.1 Giới thiệu chung

Ngành chăn nuôi dê cừu là ngành sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nông hộ

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

19

(chiếm 90%), là ngành sản xuất ra sản phẩm thịt và sữa trực tiếp phục vụ cho con người.

Phát triển chăn nuôi dê và cừu là định hướng phù hợp cho các hộ nông dân nghèo bởi lẽ chăn nuôi dê và cừu cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, tận dụng được lao động và điều kiện tự nhiên ở mọi vùng sinh thái và ít tiểm ẩn rủi ro kinh tế hơn so với ngành chăn nuôi gia súc lớn.

Tuy nhiên, hiên nay chăn nuôi dê cừu trong nước còn nhỏ lẻ, chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn sẵn có, do đó năng suất và chất lượng sản phẩm thấp. Hiện cả nước có 5 nơi cung cấp dê giống (sữa và thịt). Được biết, trong số dê giống có bao gồm dê được nhập từ Úc (giống Dorper và White Suffolk), song số lượng loại giống dê này còn ít.

2.2 Đặc điểm và triển vọng của ngành

Phân bố

Bảng 1. Phân bố đàn dê và cừu (2001-2006) Đơn vị tính: nghìn con

2001 44.023 173.613 81.579 108.102 36.591 35.666 67.671 25.203 572.448

2002 46.003 182.594 95.256 93.652 29.464 39.460 95.035 40.449 621.913

2003 58.500 214.495 112.614 124.342 32.308 47.599 120.558 69.978 780.354

2004 64.667 250.724 141.386 161.586 39.430 68.776 175.307 118.320 1.020.196

2005 70.803 290.189 169.825 200.500 61.924 98.579 247.741 174.628 1.314.189

2006 60.677 330.833 180.714 207.628 67.550 116.138 356.432 205.288 1.525.260

Khu vực Đồng bằng sông Hồng Tây Bắc bộ Đông Bắc Duyên hải Bắc trung bộ Duyên hải Nam trung bộ Tây nguyên Đông Nam bộ Đồng bằng sông Cửu long *Cả nước

Nguồn: Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2006)

• Năm 2005, tỷ trọng chăn nuôi dê, cừu chiếm 3,49% so với tổng đàn vật nuôi và

• Trong vòng 6 năm qua, tổng đàn dê và cừu tăng 116% (gấp 3,71 lần so với bò) với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 27,6. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (62,24%), vùng tăng trưởng chậm nhất là Đồng bằng Sông Hồng (12,61%)

• Gần 53% tổng đàn dê và cừu của cả nước tập trung ở 10 tỉnh (bao gồm Hà Giang, Ninh Thuận, Nghệ An, Sơn La, Thanh Hóa, Bình Thuận, Bến Tre, Tiền Giang, Bắc Cạn, và Đăklắk)

• Tỷ lệ dê và cứu hướng thịt chiếm 98,84% trong khi đó tỷ lệ lấy sữa chỉ chiếm 0,15%.

• Hiện tại đàn cừu chỉ tập trung ở 7 tỉnh và Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Hà Tây. Tổng đàn cừu đã tăng đáng kể từ 4000 con trong năm 1976 lên 56.827 con năm 2005. Trong đó, tỷ lệ đàn cừu lớn nhất là tỉnh Ninh Thuận (42.000 con)

13,29% so với tổng đàn gia súc lớn

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Mục tiêu phát triển đàn cừu đến năm 2010 là 2,48 triệu con và 4,18 triệu con trong năm 2015, tập trung chủ yếu ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam bộ và Bắc Trung Bộ. Tổng số cừu và dê lai chiếm 45% trên tổng đàn năm 2010 và 50% năm 2015

20

Giống

Tên giống

Tỷ lệ % trên tổng đàn

TT

Cỏ Bách Thảo Ấn độ Boer Saanen Alpine Giống lai

1 2 3 4 5 6 7 Tổng

49,21 13,12 1,59 0,12 0,08 0,08 35,79 100

Giống cừu Phan Rang Giống cừu Úc Giống cừu địa phương

1 2 3 Tổng

Số lượng con năm 2005 Giống dê 618.862 165.000 20.000 1500 1000 1000 450.000 1.257.362 Giống cừu 51.767 60 5.000 56.827

91,10 0,10 8,79 100

• Giống dê địa phương là giống Cỏ và Bách Thảo. Trong thập kỷ 90, giống nhập nội chủ yếu nhập từ Ấn Độ (Jumnapari, Barbari và Beetal). Những giống dê nhập này thích hợp với điều kiện địa phương và được dùng để lai với giống dê địa phương nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi

• Ba loại giống khác là Boer, Saanen, Alpine được nhập từ Mỹ. Những giống dê này thích hợp với điều kiện tự nhiên địa phương. Khi lai giống này với giống địa phương, giống mới đem lại năng suất sữa cũng như thịt tốt.

• Hiện tại có 5 vùng sản xuất giống dê lai: Hà Tây- Hoà Bình sản xuất giống dê thịt sữa; Thanh Hóa- Ninh Bình có giống dê hướng thịt; Ninh Thuận- Bình Định có giống dê hướng thịt và sữa; Sông Bé – Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh – Bình Phước có giống dê hướng thịt và sữa; Tiền Giang – Trà Vinh - Hậu Giang có giống dê lai hướng thịt và sữa.

Sản lượng thịt

Sản lượng thịt dê và cừu (2001-2005) 2001 1.939,3 3.686 0,19 572.448 160.285 0,046

Khu vực Tổng sản lượng thịt (1.000 tấn) Tổng sản lượng thịt dê và cừu (1.000 kg) Tốc độ phát triển đàn dê và cừu (%) Tỷ lệ thịt dê và cừu trên tổng lượng thịt (%) Tổng đàn dê và cừu (con) Số lượng lò giết mổ dê và cừu Mức độ tiêu thụ thịt trên đầu người (kg)

2002 2.146,3 4.179 13,4 0,19 621.913 174.136 0,052

2003 2.328,9 5.462 13,1 0,23 780.354 218.499 0,067

2004 2.505,7 7.427 13,6 0,29 1.020.196 285.655 0,090

2005 2.812,1 9.567 12,9 0,34 1.314.189 367.973 0,115

Nguồn: Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2006)

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng sản lượng thịt dê đáng kể. Sản lượng thịt dê

21

• Mặc dù vậy, trong năm 2005 tổng đàn dê và cừu cả nước cũng chỉ cung ứng khoảng 10 nghìn tấn thịt cho nhu cầu trong nước, với lượng thịt tính trên đầu người còn khiêm tốn là 0,115 kg/người/năm.

• Tốc độ tăng sản lượng thịt cừu và dê hàng năm trong những năm gần đây đạt ở mức

và cừu năm 2005 gần như gấp 3 lần so với năm 2001.

• Mô hình lai giống dê hướng thịt (BT*Cỏ*Ấn độ) tại tỉnh Hà Tây và huyện Lạc Thuỷ, Hoà Bình hàng năm đem lại 3-4,5 triệu đồng với số lượng dê cái là 10 con, 5-8,5 triệu đồng từ 10-20 con cái và 6-12 triệu đồng từ hơn 20 con dê cái.

• Mục tiêu đến năm 2010 sản lượng thịt đạt 25.360 tấn thịt và năm 2015 là 42.604 tấn.

cao 13%, cao hơn so với mức tăng sản lượng thịt nói chung của cả nước.

• Năm 2005, sản lượng sữa dê tăng gấp ba lần so với năm 2001. • Tuy nhiên, sản lượng sữa vấn xem là thấp. Năm 2001, tổng sản lượng sữa của cả

Sản lượng sữa

• Lượng sữa tính trên đầu người cũng thấp, chỉ 0,001 lít/ng/năm (trong 2001), và 0,004 lít/người/năm (năm 2005). Giá sữa còn cao bởi lẽ giá con giống cao. Hiện có 2 tỉnh cung ứng sữa dê là Hà Tây và TP HCM, song năng suất sữa của hai tỉnh này còn thấp.

• Thu nhập từ chăn nuôi dê sữa là 7-8 triệu đồng/năm, trung bình 3 con dê sữa/trang

nước đạt 115 tấn, năm 2005 con số này là 319 tấn.

trại.

Số lượng dê chuyên sữa và sản phẩm sữa dê

Tỉnh/Thành phố

2001

Hà Tây 2003

2005

TP Hồ Chí Minh 2003

2005

2001

Số lượng dê, con

5.900

6.704

9.754

9.384

2.476

1.026

2997

3405

4954

4766

1258

521

Số lượng dê sữa (thuần , lai),(con)

Số dê sữa sinh sản (con)

1199

1362

1982

1906

503

208

Số dê mang thai hàng năm (con)

1019

1158

1684

1620

428

144

Sản lượng sữa hàng năm (kg)

98.573

112.006

162.964

17.142

41.367

156.782

Tổng sản lượng sữa trong toàn quốc (Hà Tây và TP HCM)

2001

2003

2005

Năm

Tổng sản lượng sữa (kg)

115.715

153.374

319.746

Tiêu thụ bình quân/ người (lít)

0,001

0,002

0,004

Nguồn: Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2007)

• Mục tiêu sản lượng sữa đến năm 2010 là 1.259 tấn và 2.473 tấn năm 2015.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

22

• Năng suất gia súc nhỏ được tính bằng khối lượng cơ thể và khả năng sinh sản của vật

Năng suất gia súc nhỏ

nuôi so với tiềm năng sinh sản và số lượng con giống mới .

Năng suất hiện tại

Jum

Be

Bo

Sa

Alp

Giống dê

Ba

Bach Thao

F1 (BT*Co)

Chỉ tiêu

Co

Khối lượng (KL) cơ thể (kg)

(Cái- đực)

KL sơ sinh

2.49-

1.76-

2.08-

2.1-

2.9-

3.4-

2.8 - 3.1

2.99-

2.58

-

KL lúc 3 tháng tuổi

2.84

1.92

2.21

2.3

3.5

3.9

15.1

-

3.28

3.12

KL lúc 6 tháng tuổi

-

-

-

9.1-

10.7-

11.7-

16.3

12.7

-

11.6

-

KL lúc 12 tháng tuổi

18.3-

9.2-

15.0-

9.4

13.2

13.1

25.8

-

14.5

13.7

Trọng lượng giết thịt lúc 9

22.6

10.25

18.0

13.5-

17.4-

17.6-

28.1

17.5

-

15.2

-

tháng tuổi

29.2-

16.1-

23.2-

15.8

20.9

19.5

41.9

-

24.4

22.9

Tỷ lệ móc hànm (%)

40.0

19.1

25.5

19.3-

25.8-

24.2-

48.6

29.4

-

26.4

-

Tỷ lệ thịt xẻ (%)

24.3

35.6

34.2

35.8

32.5

Sản phẩm sữa (lít/ngày)

42.8

45.8

44.6

-

NS sữa trung bình

30.0

33.4

32.8

45.1

47.8

46.0

-

-

-

Chu kỳ tiết sữa (ngày)

29.0

30.6

28.7

-

-

Chỉ tiêu sinh sản

1.51

0.32

0.81

-

- Tuổi động đực lần đầu

148

105

115

1.3

2.1

1.9

-

2.8-3.0

2.4 - 2.7

(ngày)

155

179

186

275-300

250

-

- Khoảng cách lứa đẻ (ngày)

280

- Số con/lứa

346

330

300

618

- Tỷ lệ sinh một con (%)

217

257

213

250

401

435

325

476

- Tỷ lệ sinh 2 con trở lên

2.09

1.35

1.75

281

316

312

1.8

362

467

(%)

70.5

44.6

1.55

1.39

1.36

-

1.65

336

26.5

37.2

69.7

68.8

-

1.60

Tiêu

tốn

thức ăn VCK

73.5

29.5

55.4

-

-

(DM/kg) tăng trọng từ sơ sinh

62.8

30.3

31.2

-

đến 9 tháng tuổi

4.49

5.34

4.34

6.47

-

6.07

6.89

6.60

6.71

6.55

Giống cừu

Phan Rang

Cừu Phan Rang thuộc nhóm giống đuôi mỏng và ngắn, có tuổi động đực lần 7-8 tháng tuổi,

chu kỳ động dục: 18-21 ngày, thời gian chửa là 5 tháng, trong lượng con sơ sinh là 1,8-2,4 kg.

Con cái lúc trưởng thành đạt từa 39-41 kg và con đực có trọng lượng là 43-50 kg.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

23

• Thịt và sữa (dê, cừu) hiện đang được bán rộng rãi tại thị trường trong nước.

• Năm 1996, giá thịt dê hơi là 8000 đ/kg, nhưng năm 2003 con số này đã tăng lên 23.000 đ/kg, gần gấp đôi giá thịt lợn là 11.000-12.000 đ/kg. Giá thịt dê hơi năm 2005 là 35.000đ/kg.

• Giá dê (cừu) giống tương đối cao, thường dao động từ 4-5 triệu đ/con.

2.3. Giá cả và thị trường

• Sản phẩm từ dê và cừu có khả năng cạnh tranh so với sản phẩm thịt đỏ khác bởi lẽ chi phí đầu tư và chi phí duy trì hoạt động thấp. Hơn nữa, đối với chăn nuôi dê và cừu, có thể kiểm soát rủi ro và tạo thu nhập cao hơn so với chăn nuôi vật nuôi khác

• Theo đánh giá của FAO, Châu Á là châu lục có tỷ lệ chăn nuôi gia súc lớn nhất thế giới. Ngoài ra, thu nhập chăn nuôi tăng và nhu cầu tiêu dùng thịt đỏ và sữa hiện nay cũng gia tăng.

• Quốc gia cung cấp thịt dê lớn nhất là Trung Quốc (1,5 triệu tấn/năm), tiếp đến là Ấn Độ (0,48 triệu tấn/năm) và Pakistan (0,37 triệu tấn/năm). Việt Nam sản xuất khoảng 3000 tấn thịt dê mỗi năm.

• Sản xuất thịt dê và cừu ở Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế bởi lẽ Việt Nam có lợi thế về lao động. Hơn nữa, hiện nay thị trường nội địa của ngành hàng này vẫn có tiềm năng lớn.

2.4. Lợi thế cạnh tranh

• Nghị quyết 06 - NQ/TW, Nghị quyết 03/2000/NQ - CP, Nghị định 14 - CP, Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004; và 4 quyết định (Quyết định số 02/2001/QĐ - TTg, Quyết định 167/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 125 - CT ngày 18/4/1991, và Quyết định số 225/1999/QĐ - TTG ngày 10/12/1999) về việc phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 – 2005.

• Các Quyết định số 3166, số 4676, số 4677 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về các việc liên quan đến công nhận các giống vật nuôi, các biện pháp kỹ thuật mới cho phổ biến vào sản xuất nhằm giúp tăng nhanh số lượng giống, công nghệ được công bố và đưa vào sản xuất.

• Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đưa ra những quyết định liên quan về giống vật nuôi và công nghệ chăn nuôi mới (Quyết định số 64 -NN-TCCB ngày 12/12/1989 của Bộ NN và CNTP, Quyết định số 66-NN-TCCB-QĐ ngày 2/4/1993 của Bộ NN và PTNT, Quyết định số 2107/QQD/BNN/TCCB, và Quyết định số 83/QĐ/VCN - TCHC ngày 4/8/2004 của Viện trưởng Viện Chăn nuôi).

• Quyết định số 2903 QĐ/BNN-KH ngày 22/9/2004 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT về các việc liên quan đến thành lập Trạm nghiên cứu và thực nghiệm nhân giống dê,

2.5. Chính sách hỗ trợ

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

24

cừu Ninh Thuận, và việc thiết lập dự án phát triển giống dê, cừu thuộc chương trình giống vật nuôi giai đoạn 2006 - 2010.

3 PHÂN TÍCH NGÀNH

3.1 Cơ cấu

• Dê, cừu chủ yếu vẫn là các nông hộ nhỏ nuôi theo tập quán chăn thả quảng canh.

Hộ chăn nuôi và quy mô đàn gia súc

• Quy mô đàn dê ở hầu hết các nông trang miền Bắc là khoảng 10-20 con. Khoảng 10% tổng số các nông trang có số đàn dê lên đến 30-50 con ví dụ như ở Hà Giang, Nghệ An, Hoà Bình và Ninh Bình. Những nông trang có quy mô đàn lớn hơn (50-70 con) chủ yếu ở Ninh Thuận và Bình Thuận.

• Chăn nuôi dê và cừu ở Việt Nam chủ yếu theo tập quán chăn thả quảng canh. Ban ngày dê và cừu chủ yếu được chăn thả tại những gò đồi cỏ gần hoặc ven đường gần nhà và đến tối lại được lùa về chuồng. Trong những trường hợp này, chất lượng và số lượng thức ăn cho vật nuôi sẽ không ổn định, bởi lẽ phụ thuộc vào mùa mưa.

• Các hộ chăn nuôi dê cừu thường sử dụng một con đực giống để lai, với tỷ lệ lai: 1

Hiện chỉ có một số nông trang nhà nước nuôi dê và cừu.

• Những con dê/cừu con được giữ lại đề lai giống mà không lựa chọn nên chất lượng

con đực/50 con cái (đối với cừu) và 1 con đực/20 -60 con cái (đối với dê).

• Hiện vẫn chưa có chương trình cải tiến giống dê

còn yếu kém và dễ dẫn đến tình trạng lai gần.

• Dê rất dễ bị nhiễm nhiều dịch bệnh mang tính chất quốc gia và quốc tế như bệnh lở

Tình trạng sức khoẻ vật nuôi

• Nhóm bệnh thứ hai thuộc nhóm bệnh lây lan trong vùng, thường dẫn đến thiệt hại kinh tế và sản xuất cao do tỷ lệ chết cao ví dụ như bệnh Pleuropneumonia, Pasteurellosis, Caprine Arthritis Encephalitis (CAE).

• Nhóm dịch bệnh kế tiếp là nhóm bệnh mang tính chất địa phương. Nhóm bệnh này thường được kiểm soát tốt hơn và sử dụng thuốc cũng như chữa trị theo cách truyền thống. Những loại bệnh này là những bệnh dịch liên quan đến virút, hoặc vi khuẩn. • Loại nhóm bệnh thứ 4 mà đang được quan tâm là những loại bệnh có thể truyền sang

mồm long móng.

người ví dụ như bệnh trùng xoắn móc câu, sốt Q, bệnh ký sinh trùng. • Bệnh sán lá gan hiện là một vấn đề đáng lo ngại trong chăn nuôi cừu.

• Thức ăn cho dê và cừu chủ yếu lấy từ nguồn tự nhiên như cây hoặc cỏ, do đó dễ dẫn

Nguồn cung thức ăn

đến tình trạng thiếu hụt nguồn thức ăn vào mùa khô/đông.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Những người chăn nuôi dê (cừu) phải sử dụng những phụ phẩm nông nghiệp hoặc trồng một số cây thức ăn thô xanh đa tác dụng như mít, xoan, keo tai tượng… để phục vụ dê và cừu nhưng giá trị dinh dưỡng thấp.

• Công tác chế biến và bảo quản thức ăn cho mùa khô/đông chưa được áp dụng phổ

25

• Việc chăn thả dê trong rừng hoặc tại các vườn quốc gia đang là một vấn tranh cãi, bời lẽ lượng thức ăn thô bị hạn chế phải phụ thuộc vào nguồn cỏ khô và dẫn đến tình trạng mất giống cây trồng đặc biệt tại các vùng xa xôi hẻo lánh.

• Cần phải tăng cường sản xuất nguồn thức ăn cho dê và cừu nhằm đáp ứng nhu cầu

biến tại các nông hộ

ngày càng tăng của đàn gia súc phát triển trong tương lai.

• Chuồng trại cho dê và cừu phần lớn được làm từ các loại nguyên liệu của địa phương. Giá thành không cao trong đầu tư nhưng hiệu quả sử dụng và các chỉ tiêu kỹ thuật đều không đáp ứng và không đảm bảo cho đàn dê (cừu) có sức khoẻ tốt.

• Chuồng trại cho dê và cừu đa phần còn nhỏ và không đảm bảo vệ sinh phòng bệnh do thiếu vốn và đất đai. Do đó, những chỗ quây cừu thường bẩn và ẩm tạo điều kiện cho nhiều ký sinh trùng sinh sôi. Hơn nữa, thiếu khả năng cung ứng dinh dưỡng cho vật nuôi cũng góp phần làm tăng bệnh dịch ở vật nuôi cũng như tỷ lệ chết cao vào mùa lạnh hoặc mùa mưa.

Chuồng trại

3.2 Cơ sở hạ tầng hỗ trợ

• Mặc dù mạng lưới thú y đã hoạt động rộng rãi cả nước nhưng khả năng và mức độ

Dịch vụ thú y

• Nhìn chung, dịch vụ thú y còn hạn chế về số lượng và chất lượng, công tác quản lý

sẵn có vấn không đầy đủ để hoạt động tại các khu vực miền núi

• Quy trình tiêm phòng các loại vacxin cho dê và cừu chưa được trú trọng trong cả nước, chỉ có 30-35% con vật nuôi được tiêm phòng. Quan trọng hơn cả, gần đây, nạn bùng nổ bệnh dịch như bệnh đậu mùa ở dê diễn ra tại một số nông trang dê tại tỉnh miền Trung

• Chính do điều kiện tiêm phòng vacxin còn hạn chế dẫn đến công tác phòng dịch

dịch bệnh và vệ sinh chuồng trại còn yếu kém vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.

• Trong những năm gần đây, các bệnh viêm loát miệng truyền nhiễm, đau mắt đỏ, viêm vú, các bệnh ký sinh trùng trên dê và cừu cũng đã được nghiên cứu đưa ra các quy trình phòng trị đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, hầu hết các kết quả mới chỉ đạt được trong phạm vi cơ sở chăn nuôi được nhà nước hỗ trợ và một số mô hình khuyến nông.

bệnh cũng yếu kém

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

26

• Công nghệ chọn lọc, bảo quản và chế biến sữa dê thành pho mát đã được áp dụng ở Việt Nam. Hiện nay pho mát dê được xem là sản phẩm có chất lượng cao với mức giá cạnh tranh trên thị trường quốc tế

• Hiện có 80 trang trại thu gom sữa để chế biến sản phẩm được thiết lập ở Ba Vì và Sơn Tây, tỉnh Hà Tây. Hiện nay sữa dê tươi thanh trùng và sữa chua dê không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước

• Phụ phẩm trong quá trình làm pho mát là thức ăn hữu hiệu cho dê và lợn

• Hiện không có cơ sở hạ tầng đề chế biến thịt, da, lông dê và cừu. Hiện có rất nhiều lò giết mổ song công việc quản lý và kiểm soát hoạt động của các lò giết mổ này cũng như các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh vẫn còn kém, do đó ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, gây ra nhiều dịch bệnh và tác động tiêu cực đến môi trường.

Chế biến

3.3. Thị trường

• Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm dê và cừu trên thế giới tương đối cao, sản lượng thịt dê

Thị trường thế giới

• Hiện sản lượng thịt dê của các nước đang phát triển là 4 triệu tấn (chiếm 95% tổng

chiếm 1,6% trên tổng nhu cầu thịt là 249.851.017 tấn.

• Sản lượng sữa dê của cả thế giới chiếm 2% tổng sản lượng sữa các loại (600 triệu

lượng thịt dê thế giới), trong đó 75% là thuộc về các nước Châu Á.

• Gần 80% sản lượng sữa dê thế giới được cung cấp từ các quốc gia đang phát triển mà chủ yếu là Châu Á. Quốc gia đứng đầu và sản xuất sữa dê là Ấn Độ (2.610.000 tấn), tiếp đến là Băngladet (1.312.000 tấn) và Pakistan (1.312.000 tấn)

• Năm 2003, chăn nuôi dê thế giới cung cấp 824.654 tấn da (trong đó, Châu Á Thái

tấn)

• Theo dự báo của Uỷ ban Thịt và Gia súc Anh, tỷ lệ tiêu thụ thịt toàn cầu sẽ tăng 35% từ năm 2000 cho đến năm 2010 và tốc độ chủ yếu tập trung ở các quốc gia đang phát triển.

Bình Dương là 421.673 tấn , chiếm 51,13%) và 103.210 tấn lông (FAO, 2004).

• Thịt dê có giá trị dinh dưỡng cao và tỷ lệ cholesterol thấp, rất tốt cho sức khoẻ con

Thị trường trong nước

• Trong giai đoạn 1990-2005 giá thịt dê hơi đã tăng 8000 đ/kg lên mức 35.000 đ/kg,

người.

• Nhu cầu tiêu thụ sữa dê cũng gia tăng bởi lẽ sữa dê được khoa học và người tiêu

gần gấp đôi giá thịt lợn là 11.000 – 12.000 đ/kg.

dùng công nhận giá trị dinh dưỡng cao

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Giá sữa dê năm 2001 chỉ 7000 đ/lít nhưng hiện nay mức giá này đã tăng lên 16.000 đ/lít (tại Hà nội) và 20.000 lít (TP HCM). Trong khi đó, gía sữa bò là 10.000 đ/lít.

• Giá pho mát dê hiện nay là 170.000 đ/kg. Đế sản xuất ra một kilo pho mát đòi hoir

27

phải 4-5 lít sữa.

• Hiện nay, lượng tiêu thụ sản phẩm từ dê và cừu như thịt, pho mát và sữa đã tăng

3.4. Xu thế tương lai và các vấn đề chính về thị trường

• Tuy nhiên, hiện khâu chế biến vẫn còn hoàn toàn là thủ công, sản phẩm chưa đa dạng và chưa có thương hiệu. Do đó, cần cải tiến công nghệ chế biến theo hướng công nghiệp để tăng khả năng canh tranh

• Trong những năm qua, mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng đáng kể và lượng tiêu thụ thịt cũng tăng không kém phần, cụ thể tăng 30% từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, lượng tiêu thụ thịt dê và cừu tính trên đầu người vẫn còn thấp (chỉ 0,115 kg/người/năm) và tổng lượng tiêu thụ thịt dê và cừu của cả nước chỉ chiếm 0,2-0,3%.

đáng kể.

4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

• Chọn lọc, nhân thuần, nhập nội nguồn gen quý và lai tạo giống có nâng suất cao theo

4.1 Lĩnh vực nghiên cứu chính

• Nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê cừu dựa trên nguồn thức ăn địa phương thuộc nhiều vùng sinh thái (tạo nguồn, giá trị dinh dưỡng, phương thức nuôi dưỡng, tiêu chuẩn ăn tối ưu).

• Các biện pháp kỹ thuật phòng và trị các bệnh dê cừu, kỹ thuật làm chuồng trại và

2 hướng thịt và sữa

• Một số biện pháp chế biến sữa dê

chăm sóc sức khoẻ đàn gia súc

4.2 Những cơ quan nghiên cứu chính

• Viện Chăn nuôi • Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Hà Tây • Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất chăn nuôi TP HCM và

Bộ Nông nghiệp và PTNT

• Trung tâm nghiên cứu gia súc Sông Bé • Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam • Viện khoa học Nông lâm Tây Nguyên • Viện nghiên cứu nông lâm miền núi phía bắc tại tỉnh Phú Thọ

miền Trung.

Trường đại học

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Đại học Nông nghiệp Hà nội • Đại học Huế • Đại học Cần Thơ • Đại học Nông nghiệp Thủ Đức • Đại học Tây Nguyên • Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh • Đại học Nông lâm Thái Nguyên

28

• Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (tại 2 tỉnh Hà Tây và Bình Dương) • Viện Thú y • Sở Khoa học và Công nghệ của tỉnh • Tổng công ty Chăn nuôi gia súc Việt Nam.

Cơ quan khác

4.3 Nguồn vốn

Được hỗ trợ từ các nguồn vốn như: ngân sách nhà nước, các dự án trong và ngoài nước, dự án SIDA-SAREC, dự án Xoá đói Giảm nghèo do Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ.

Tổng nguồn vốn chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển năm 2006 xấp xỉ 3 tỷ đồng

• Nghiên cứu xác định giá trị dinh dưỡng của cây lâu năm thích hợp làm thức ăn thô như mía, cây họ đậu, cỏ stylo, cây đậu Flemingia Macrophilla, cây keo dậu (KX2, K636) với năng suất hàng năm là 65-75 tấn/ha (tương đương với 13 tấn vật chất khô với tỷ lệ protein thô là 1,5-2,6%)

• Xác định giá trị dinh dưỡng những loại cỏ khác nhau bằng những phương pháp in

4.4. Những thành tựu nghiên cứu và phát triển chính

• Chế biến và tận dụng những nguồn thức ăn sẵn có bao gồm khóm ure mật như là

vitro, in vivo và kiểm tra sinh học.

• Phát triển nguồn thức ăn địa phương như 25% sắn khô + 25% cỏ khô Flemingia macrophylla+11% gốc sắn + 11% gạo cám +28% dỉ mật để thay thế 80% lượng cỏ xanh trong khẩu phần anh của dê trưởng thành vào mùa khô.

• Sử dụng cây mía để thay thế cỏ Ghinê cho dê trưởng thành mà không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng. Dê và cừu được cho ăn bằng toàn bộ cây mía được chặt ra thành nhiều lát mỏng (1-3 cm/lát). Cách thức này được chứng minh là tốt hơn là cho dê ăn toàn bộ cây mía róc ra thành 4 cây nhỏ có chiều dài 20 cm.

• Phát triển nguồn thức ăn riêng dành cho dê có chửa bằng thức ăn hỗn hợp từ cỏ khô,

nguồn thức ăn bổ sung.

• Nghiên cứu phương pháp chế biến và bảo quản nguồn thức ăn địa phương cho dê và

mít, sắn và cỏ Flemingia

cừu

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Lai giống dê địa phương (Cỏ x Bách thảo) nhằm tăng năng suất chăn nuôi và sản lượng sữa. Tốc độ tăng trưởng của con giống lai F1 là 20%, cung cấp lượng sữa tăng 120%, và cỡ con giống tăng 12-15% so với giống thuần Cỏ.

• Xác định tính di chuyền về sản lượng sữa của giống lai Bách thảo với Ấn độ và lựa

29

• Thiết kế bảng nhu cầu dinh dưỡng cho dê và cừu ở những giai đoạn phát triển, độ tuổi và trọng lượng cơ thể khác nhau. Tổng hợp những bảng thức ăn cho dê và cừu.

• Phát triển và ứng dụng công nghệ mới nhằm chế biến và sản xuất ra thức ăn bổ sung

chọn chỉ tiêu đánh giá giống nhằm chọn ra giống hạt nhân làm giống lai quý.

• Thiết lập nông trang dê và cừu quy mô vừa và lớn nhằm tạo ra sản phẩm thịt có tính

cho dê và cừu, cũng như quản lý đàn gia súc và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn.

thương mại cao, đáp ứng được yếu cầu thị trường trong nước.

5. PHÂN TÍCH SWOT (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức)

• Hệ thống chăn nuôi còn nhỏ không

Những điểm mạnh Những điểm yếu

• Có truyền thống chăn nuôi dê rất lâu • Tốc độ phát triển rất nhanh (tốc độ tăng hàng năm trong giai đoạn 2001-2005 : 23,09%)

• Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn • Năng suất chăn nuôi thấp so với tiềm

hiệu quả

• Cơ thể nhỏ khả năng thích ứng và chống chịu với môi trường khác nghiệt khá cao

• Tận dụng đất đai và nguồn thức ăn tự

năng giống

• Hệ thống quản lý sức khoẻ vật nuôi còn yếu kém, khả năng tiếp cận dịch vụ thú y hạn chế

• Dễ dàng phù hợp với mọi hệ thống canh

• Độ sẵn có nguồn thức ăn trong mùa

nhiên hiệu quả cao

• Quản lý không phức tạp, ít rủi ro thích hợp

tác nông nghiệp khô hạn chế

• Thiếu khả năng cạnh tranh đối với sản phẩm thịt và sữa nhập khẩu về giá và chất lượng

• Sản phẩm đa dạng (thịt, sữa, pho mát, da,

• Giá thịt cừu và dê còn cao so với thịt

với những hộ ít đất canh tác hoặc rất nghèo

• Quy mô đàn nhỏ, sử dụng con giống

và lông) lợn và bò

• Tỷ lệ tái sản xuất cao, chu kỳ sản xuất ngắn, cung cấp thực phẩm dễ tiêu thụ • Có khả năng tận dụng sản phẩm phụ nông nghiệp và tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng.

• Sản phẩm da là nguồn thu nhập thêm • Phân và nước tiểu hàng ngày đóng vai trò

• Nguồn giống (gen quý) còn hạn chế và khó thực hiện chương trình quản lý giống trong điều kiện chăn nuôi quảng canh.

nhiều lần, dẫn đến tình trạng giao phối cùng huyết thống và năng suất chăn nuôi kém

• Cần có biện pháp quản lý nuôi dưỡng

hoàn thiện dinh dưỡng đất đai.

• Tận dụng hiệu quả lao động nông hộ với yêu cầu thích hợp với cả người già và trẻ em.

• Đầu tư con giống thấp (700.000 - 1 triệu

tránh sự phá hoại môi trường. • Chưa có cơ sở chế biến, thị trường chính thức.

• Kỹ thuật đơn giản và thích hợp với mọi

đồng/con so với bò 10-15 triệu/con), quay vòng nhanh và thu nhập cao

trình độ của nông dân (tại vùng nông thôn, thậm chí khu vực dân tộc thiểu số)

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

30

• Có cơ hội phát triển sản phẩm sạch và

• Chăn thả tự do nên ảnh hưởng rất

Cơ hội Thách thức

• Có cơ hội phát triển rộng hệ thống chăn

• Một số bệnh nguy hiểm có thể bùng

nâng cao chất lượng sản phẩm nặng môi trường

• Có điều kiện để phát triển thị trường sản

• Bão lụt, mưa lớn và hạn hán sẽ ảnh hưởng năng đến phát triển chăn nuôi

nuôi với lợi nhuận cao nổ

• Vật nuôi có thể bị mất cắp hoặc bị

phẩm thịt

• Có khả năng bảo quản nguồn thức ăn chăn nuôi, tận dụng những loại cỏ và nguồn phụ phẩm trong nông nghiệp.

• Có điều kiện để phát triển hệ thống nguồn

gia súc lớn khác tấn công

• Có khả năng cải thiện phương pháp quản

thức ăn chăn nuôi

• Hiện tại lĩnh vực nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê và cừu đang được quan tâm đặc biệt của Bộ NN&PTNT trong giai đoạn 2000-2010

• Có khả năng hợp tác quốc tế về nghiên cứu và phát triển (trong các chương trình như FAO, DED, ILRI, SAREC – SIDA, Hà Lan, Mỹ, và Ấn Độ)

lý và phòng dịch bệnh

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

31

ARDO 3: LỢN

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1. Mục tiêu quốc gia

Phát triển chăn nuôi lợn theo hướng tập trung, công nghiệp qui mô vừa và lớn; bảo đảm vệ sinh thú y, môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm; có năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao.

• Nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật về giống, công nghệ chăm sóc nuôi dưỡng, thú y gắn với tổ chức sản xuất và quy hoạch vùng chăn nuôi nhằm phát huy lợi thế so sánh vùng về điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái môi trường.

• Nghiên cứu phát triển chăn nuôi bền vững trên 8 vùng sinh thái khác nhau trong cả

1.2. Phạm vi nghiên cứu phát triển

nước.

1.3. Đối tượng nghiên cứu: Lợn ngoại, lợn lai và lợn nội

2. THỐNG KÊ NGÀNH

• Chăn nuôi lợn là nghề sản xuất nông nghiệp truyền thống và là nguồn thu nhập quan trọng của đa số các hộ gia đình nông dân Việt Nam. Trong những năm vừa qua, chăn nuôi lợn đã có bước phát triển đáng kể, số đầu lợn từ 21,7 triệu con năm 2001 tăng lên 26,9 triệu con năm 2006, tăng bình quân 4,3%/năm; sản lượng thịt hơi xuất chuồng từ 1,51 triệu tấn năm 2001 tăng lên 2,50 triệu tấn năm 2005, tăng bình quân 10,6%/năm.

• Chăn nuôi lợn luôn đóng góp chủ yếu về thịt xẻ sản xuất trong nước (năm 2006, thịt lợn xẻ sản xuất trong nước đạt 20,8kg/người, chiếm khoảng 74% tổng khối lượng thịt xẻ các loại), trong khi đó khoảng 98-99% sản lượng sản xuất được tiêu thụ nội địa, điều này khẳng định chăn nuôi lợn của Việt Nam đóng góp chính vào việc cung cấp về Protein trong bữa ăn của người dân.

2.1. Bối cảnh

2.2. Đặc điểm ngành a) Số đầu lợn và sự tăng trưởng giai đoạn 2001-2006 Tổng đàn Trong đó các vùng:

2001 (tr. con) 21.76 5.07 1.03 4.72 3.35 1.92 0.91 1.85 2.91 2006 (tr. con) 26.85 7.17 1.14 4.50 3.80 2.05 1.39 2.82 3.98 Tăng trưởng BQ/năm (%) 4,3 7,2 2,1 -1,0 2,6 1,3 8,8 8,8 6,5 ĐBSH Tây Bắc Đông Bắc Bắc trung Bộ DHNTB Tây Nguyên Đông NB ĐBSCL

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Đàn lợn nái từ 2,95 triệu con năm 2001 tăng lên 4,33 triệu con năm 2006, tăng trung bình 8,0%/năm, trong đó nái ngoại tăng bình quân 15,2%/năm (từ 218,1 ngàn con năm 2001 tăng lên 442,5 ngàn con năm 2006), nái lai và nái nội tăng bình quân 7,4%/năm.

32

• Trong thời gian qua sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước có sự tăng trưởng rất lớn,

b) Sản lượng thịt sản xuất qua các năm

• Vùng có sản lượng cao nhất là ĐBSH đạt 794,5 ngàn tấn, chiếm 31,7% tổng sản lượng cả nước; ĐBSCL tương ứng là 490,2 ngàn tấn, chiếm 19,6%; ĐNB là 295,5 ngàn tấn, chiếm 11,8%; BTB là 282,9 ngàn tấn, chiếm 11,3%.

• Chăn nuôi lợn trang trại những năm gần đây phát triển mạnh, từ 3.534 TT năm 2003 tăng lên 7.475 TT năm 2006 (tăng 28,4%/năm); công nghệ tiên tiến đã được áp dụng trong chăn nuôi lợn trang trại.

từ 1,51 triệu tấn năm 2001 tăng lên 2,50 triệu tấn năm 2006, tăng 10,6%/năm.

• Năng suất chăn nuôi còn thấp: hiện nay, đối với lợn ngoại, số lợn thịt sản xuất/nái/năm trung bình là 18,2 con, khối lượng lợn thịt xuất chuồng bình quân là 87,0 kg/con; đối với lợn lai (nội X ngoại), tương ứng là 9,5 con lợn thịt sản xuất/nái/năm và khối lượng lợn thịt xuất chuồng bình quân là 58,7 kg/con; lợn nội tương ứng là 6,7 con lợn thịt sản xuất/nái/năm và khối lượng lợn thịt xuất chuồng bình quân là 35,6 kg/con. Trong khi đó Trung Quốc, Mỹ, Canada, Hà Lan số lợn thịt sản xuất/nái/năm trung bình từ 20,0- 22,5 con và trọng lượng lợn thịt xuất chuồng bình quân trên 110 kg/con.

• Chất lượng thịt lợn còn thấp, giá thành cao, sức cạnh tranh trên thị trường kém: hiện nay, tỷ lệ thịt nạc bình quân của đàn lợn thịt là trên 46%, trong khi đó Canada, Mỹ là trên 63%; bình quân chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,8-3,1 kg, trong khi đó Canada và Mỹ là 2,3-2,5 kg; giá thức ăn chăn nuôi cho lợn tại Việt Nam là 20 euro/100 kg, trong khi đó tại Mỹ, Canada là 13-14 euro, tại Braxin là 17 euro, tại Hà Lan và Ba Lan là 19 euro.

c) Năng suất và chất lượng

• Sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước đạt khoảng 19,3Kg thịt hơi/người (15,3 kg thịt xẻ/người) năm 2001 tăng lên 29,8 kg thịt hơi/người (20,8 kg thịt xẻ/người) năm 2006. Tuy nhiên phần lớn khối lượng sản phẩm sản xuất vẫn chủ yếu được tiêu thụ trong thị trường nội địa (từ 98-99%).

• Sản phẩm thịt lợn xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua chủ yếu là thịt lợn sữa và thịt lợn choai, một số lượng nhỏ thịt lợn mảnh. Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu chưa nhiều và không ổn định (từ năm 2003-2006, khối lượng thịt xuất khẩu bình quân/năm đạt 14-18 ngàn tấn), thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hồng Kông, Đài Loan, Malaisia và Liên bang Nga.

d) Tiêu thụ sản phẩm

e) Các chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi lợn của Chính phủ

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg và Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010.

• Quyết định số 166/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển

33

• Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp.

chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 - 2010.

3. PHÂN TÍCH NGÀNH

3.1. Cấu trúc: Về phương thức chăn nuôi lợn, hiện nay đang tồn tại đồng thời 3 phương

thức cơ bản sau:

a) Chăn nuôi truyền thống, tận dụng

Đây là phương thức chăn nuôi đang tồn tại ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước; chiếm khoảng 75-76% về đầu con, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 60% tổng sản lượng thịt lợn sản xuất cả nước; quy mô chăn nuôi dao động từ 1-10 con; thức ăn đầu tư chủ yếu là tận dụng sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ hoặc tận dụng các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ (làm đậu, nấu rượu, làm mì, ...); con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao (F1: nội x ngoại); năng suất chăn nuôi thấp.

b) Chăn nuôi gia trại

Phương thức chăn nuôi nuôi này phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng (Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam, ...) và phát triển mạnh trong những năm gần đây; chiếm khoảng 10-11% đầu con, quy mô chăn nuôi phổ biến là từ 10-30 nái, hoặc từ 10-50 lợn thịt có mặt thường xuyên; ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì có khoảng 40% thức ăn công nghiệp được sử dụng cho lợn; con giống chủ yếu là con lai có từ 50-75% máu lợn ngoại; công tác thú y và chuồng trại chăn nuôi đã được coi trọng hơn chăn nuôi truyền thống; năng suất chăn nuôi đã có tiến bộ.

• Phương thức chăn nuôi này chiếm khoảng 13-14% về đầu con, 27-28% về sản lượng thịt; quy mô từ trên 20 nái hoặc trên 100 lợn thịt có mặt thường xuyên; hoàn toàn sử dụng thức ăn công nghiệp; con giống chủ yếu là lợn ngoại 2 máu hoặc 3 máu; các

c) Chăn nuôi trang trại • Đây là phương thức chăn nuôi được phát triển mạnh trong 5 năm gần đây, tính đến năm 2006, cả nước có 7.475 trang trại (TT) chăn nuôi lợn (trong đó 2.990 TT lợn nái và 4.485 TT lợn thịt) chiếm 42,2%/tổng số trang trại chăn nuôi các loại. Trong đó, miền Bắc 3.069 TT, chiếm 41,1%, miền Nam có 4.406 TT, chiếm 58,9%. Vùng có nhiều TT chăn nuôi lợn là ĐNB: 2.604 TT, chiếm 34,8%; tiếp đến là ĐBSH: 1.927 TT, chiếm 25,8%; ĐBSCL: 1.029 TT, chiếm 13,8%; Đông Bắc: 534 TT, chiếm 7,1%; BTB: 495 TT, chiếm 6,6%; Tây Nguyên 422 TT, chiếm 5,7%. Các vùng ít phát triển là Tây Bắc, chỉ có 113 TT, chiếm 1,5% tổng số trang trại chăn nuôi lợn trên toàn quốc.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

34

công nghệ chuồng trại như: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, máng uống vú tự động, ... đã được áp dụng; năng suất chăn nuôi cao, khối lượng xuất chuồng bình quân 85-90 kg/con.

3.2. Hạ tầng cơ sở

• Hiện nay trên địa bàn cả nước có khoảng 125 trại giống lợn cụ kỵ và lợn ông bà với tổng đàn nái khoảng 37,5 ngàn con, trong đó thuộc quản lý Nhà nước là 52 trại với khoảng 10,7 ngàn con nái (chiếm 41,6% số trại và 28,6% về số đầu nái); thuộc công ty cổ phần và công ty nước ngoài là 12 trại với khoảng 22,1 ngàn con nái (chiếm 9,6% số trại và 58,9% số nái); còn lại tư nhân quản lý là 61 trại với khoảng 4,7 ngàn con nái (chiếm 48,8% số trại và 12,5% số nái). Số đầu nái cụ kỵ, ông bà tại các vùng như sau: nhiều nhất là vùng ĐNB 27,0 ngàn con, chiếm 72,2% tổng đàn trong cả nước; tiếp theo ĐBSH 4,2 ngàn con, chiếm 11,2%; BTB 2,9 ngàn con, chiếm 7,7%; ĐBSCL 1,8 ngàn con, chiếm 4,8%; ĐB 1,0 ngàn con, chiếm 2,7%; DHMT 0,35 ngàn con, chiếm 0,9%; TN 0,17 ngàn con, chiếm 0,5% và vùng TB không có.

• Nhìn chung, cơ cấu và chất lượng giống lợn nái hiện nay đã được cải thiện tích cực, đàn nái ngoại từ năm 2001 đến năm 2006 tăng từ 10-17%/năm (trung bình là 15,2%/năm), hầu hết các giống lợn có năng suất và chất lượng cao trên thế giới đã được nhập vào nước ta như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc. Năm 2006, trong tổng đàn nái 4,3 triệu con, nái ngoại chiếm khoảng 10,2%, nái nội chiếm khoảng 12,6%, còn lại khoảng 77,2% là nái lai (kết quả điều tra giống lợn tại 8 vùng sinh thái). Các tỉnh có số đầu nái ngoại lớn là TP HCM khoảng 38,0 ngàn con, tiếp theo là Đồng Nai khoảng 26 ngàn con, Sóc Trăng khoảng 22 ngàn con, Bạc Liêu khoảng 21 ngàn con, Đắk Lắk khoảng 20 ngàn con, Hà Tây khoảng 14-15 ngàn con, Quảng ngãi 12-13 ngàn con, Hải Dương 11-12 ngàn con, Thanh Hoá khoảng trên 11 ngàn con, ...

• Đối với giống lợn nái ngoại, cơ bản là các giống Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc và các tổ hợp lai của chúng, tuy nhiên tại các tỉnh phía Bắc và phía Nam cũng có sự khác nhau về công thức lai, cụ thể như sau: các tỉnh phía Bắc như vùng ĐBSH, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ chủ yếu là lai 2 hoặc 3 máu giữa các giống Yorkshire- Landrace-Duroc; các tỉnh phía Nam như vùng ĐNB, ĐBSCL chủ yếu là lai 2, 3 hoặc 4 máu giữa các giống Yorkshire -Landrace-Duroc-Pietrain; một số tỉnh vùng ĐBSH, BTB như Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Thanh Hoá, do gần trại giống lợn GGP Tam Điệp của Viện Chăn nuôi đã tiếp cận và nuôi với tỷ lệ đáng kể tổ hợp lai 5 máu gồm các dòng L95-L11-L06-L19-L64.

• Đối với giống lợn nái lai (nội X ngoại), công thức lai phổ biến ở các tỉnh phía Bắc là nái Móng Cái, hoặc nhóm nái Lang (Lang Hồng) với đực Yorkshire hoặc Landrace. Còn ở các tỉnh phía Nam (ĐBSCL, Tây Nguyên) chủ yếu sử dụng lợn nái địa phương (Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu) lai với đực Yorkshire hoặc Landrace, Pietrain.

• Giống lợn nái địa phương, tại các tỉnh phía Bắc các giống như Móng Cái, Mường Khương, nhóm lợn Lang vẫn được sử dụng phổ biến trong sản xuất. Tuy nhiên, trong nhiều năm do chưa được chú ý chọn lọc và cải tiến năng suất nên năng suất, chất

a) Giống lợn

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

35

• Đàn lợn đực giống hiện nay chủ yếu là lợn ngoại và lợn lai, còn lợn nội hầu như rất ít (lợn ngoại 67,4%; lợn lai 32,6% - kết quả điều tra giống lợn 8 vùng sinh thái năm 2005-2006). Trong đó, về cơ cấu đàn đực giống giữa các miền cũng khác nhau: miền Nam lợn Pietrain và lai Pi X Du chiếm tỷ lệ cao (trên 68%), còn lại là các giống thuần Yo, La, Du, lai Yo X La, Pi X La và Master; miền Bắc chủ yếu là con lai La X Yo; sau đó là các giống thuần La, Yo, Du và một số giống của PIC.

lượng chưa cao. Tăng trọng dưới 300 g/ngày, khối lượng xuất chuồng bình quân 35,6 kg/con, tỷ lệ nạc từ 37-38%.

b) Hệ thống thụ tinh nhân tạo lợn

Tính đến tháng 6/2007, cả nước có khoảng 476 cơ sở nuôi lợn đực giống khai thác và thụ tinh nhân tạo với tổng số lợn đực là 3,8 ngàn con và năng lực sản xuất khoảng 5,3 triệu liều tinh/năm. Trong đó thuộc quản lý Nhà nước là 72 cơ sở với 1,1 ngàn đực giống và năng lực sản xuất khoảng 1,7 triệu liều tinh/năm (số cơ sở chiếm 15,1%, số đầu lợn đực chiếm 29,6% và số liều tinh SX chiếm 31,6%); Các Công ty cổ phần và CT nước ngoài là 25 cơ sở với 0,7 ngàn đực giống và năng lực sản xuất khoảng 1,7 triệu liều tinh/năm (số cơ sở chiếm 5,3%, số đầu lợn đực chiếm 19,1% và số liều tinh SX chiếm 32,3%).

• Tính đến năm 2005, cả nước có 249 cơ sở, nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, trong đó sự phân bố giữa các vùng có sự khác nhau rất lớn: vùng ĐBSH có 110 cơ sở, chiếm 44,2%; vùng ĐNB có 89 cơ sở, chiếm 35,7%; ĐBSCL 21 cơ sở, chiếm 8,4%; ĐB 16 cơ sở, chiếm 6,4%; BTB 8 cơ sở, chiếm 3,2%; Tây Bắc và Tây Nguyên 2 cơ sở, chiếm 0,8%.

• Trong 249 cơ sở trong cả nước có 213 cơ sở (chiếm 85,5%) là các doanh nghiệp trong nước, 26 cở sở là 100% vốn nước ngoài, 10 cơ sở liên doanh. Tuy hai hình thức sở hữu liên doanh và 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 14,5% về số lượng cơ sở, nhưng công suất thiết kế chiếm tới 64,3% tổng số.

• Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong giai đoạn 2000-2005 là 22,2 triệu tấn, tăng bình quân 15,3%/năm. Năm 2005, sản lượng đạt 5,34 triệu tấn (thức ăn chăn nuôi quy đổi), trong đó thức ăn cho chăn nuôi lợn chiếm khoảng 80%.

c. Sản xuất thức ăn chăn nuôi

• Hiện nay cả nước có khoảng 970 cơ sở giết mổ lợn tập trung, trong đó có 935 lò mổ thủ công và 35 nhà máy giết mổ lợn công nghiệp. Tuy nhiên sự khác biệt rất lớn về sự phân bố các nhà máy và các cơ sở giết mổ lợn tại các vùng trong cả nước, cụ thể như sau:

d. Các cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn

- Lò giết mổ lợn thủ công: vùng ĐNB có 447 lò, chiếm 47,8%; tiếp đến là ĐBSCL 280 lò, chiếm 30,0%; BTB 102 lò, chiếm 25,8%; Tây Nguyên 54 lò, chiếm 13,7%; DHMT 24 lò, chiếm 6,1%; ĐBSH 18 lò, chiếm 4,6%; ĐB 10 lò, chiếm 2,5%; Tây Bắc chưa có.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

36

• Hiện nay thịt lợn sản xuất trong nước chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa (chiếm 98-99%), trong đó thịt tiêu thụ dạng tươi sống chiếm khoảng 70-80%, thịt được chế biến thành các sản phẩm ăn liền chỉ chiếm khoảng 20-30%. Trong các sản phẩm thịt lợn chế biến chủ yếu là một số món ăn truyền thống như giò, chả, nem chua, thịt quay, thịt nướng, ..., còn các món ăn khác như dăm bông, xúc xích, thịt xông khói, thịt muối chưa nhiều.

- Nhà máy giết mổ lợn công nghiệp: vùng ĐBSH có 22 nhà máy, chiếm 62,8%; các vùng ĐNB, ĐBSCL, BTB và DHMT có 3 nhà máy, chiếm 8,6%; ĐB có 1 nhà máy, chiếm 2,8%; còn vùng Tây nguyên và Tây Bắc chưa có nhà máy nào. Trong 35 nhà máy giết mổ lợn công nghiệp chỉ có 12 nhà máy (chiếm 34,3%) được Cục Thú y Liên bang Nga và Cục Vệ sinh Hồng Kông chấp nhận đủ tiêu chuẩn sản xuất thịt lợn mảnh đông lạnh xuất khẩu vào thị trường họ. Đến năm 2005 có 2/35 nhà máy đang thực hiện quản lý chất lượng theo HACCP (Số liệu của TCTCN Việt Nam).

Tóm lại, tỷ lệ thịt lợn được chế biến, tiêu thụ trên thị trường của ta chưa nhiều;

số lượng mặt hàng còn ít, khó tham gia vào thị trường xuất khẩu.

3.3. Thị trường

• Thịt lợn là thực phẩm truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu bữa ăn của người dân Việt Nam; hiện tại trong nước có trên 83 triệu dân và dự kiến đến năm 2010 sẽ có khoảng 88,5 triệu dân, theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, trong thời gian tới nhu cầu tiêu thụ thịt của Việt Nam tăng 7,8%/năm.

• Sau khi ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, nếu sản phẩm thịt lợn sản xuất trong nước không có sự cải tiến về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và hạ giá thành sản xuất thì sẽ phải chịu sự cạnh tranh bởi nguồn ngoại nhập.

a) Tiêu thụ trong nước

• Thị trường truyền thống: Liên Bang Nga là thị trường tiêu thụ thịt lợn mảnh mà Việt Nam có thể cung ứng, tuy nhiên để nâng cao số lượng xuất khẩu qua thị trường này và duy trì tính ổn định thì sản phẩm thịt lợn của Việt Nam đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, tăng tỷ lệ nạc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và hạ giá thành sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh; Hồng Kông và Đài Loan là thị trường tiêu thụ lợn choai và lợn sữa mà Việt Nam có thể cung ứng, đòi hỏi về chất lượng sản phẩm cung ứng cho thị trường này là con giống có tỷ lệ máu nội cao và quy trình chăn nuôi rất chặt chẽ.

• Thị trường tiềm năng: Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới, sát biên giới với Việt Nam, mặc dù sản lượng thịt lợn đứng thứ nhất thế giới nhưng vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu tăng lên của người dân, vậy Việt Nam có thể chọn Trung Quốc là đối tác để xuất khẩu thịt lợn.

b) Xuất khẩu

4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN

4.1. Những kết quả nghiên cứu trong thời gian qua

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

37

• Áp dụng phương trình hồi quy trọn chọn lọc lợn đực giống;

• Áp dụng chỉ số chọn lọc để kiểm tra năng suất đối với lợn hậu bị giống Landrace và

a) Công nghệ về giống

• Chọn lọc lợn đực qua kiểm tra năng suất cá thể;

• Áp dụng chỉ số SPI của Harmon kết hợp với tiêu chuẩn TCVN 1280-85 để chọn lọc

Yorkshire;

• Phương pháp lai chéo giữa 2 giống Landrace và Yorkshire để nâng cao khả năng sinh

đàn lợn nái hạt nhân;

• Ưu thế lai thành phần và di truyền cộng gộp từ các tổ hợp lai để nâng cao năng suất

sản;

lợn thương phẩm;

• Phương pháp chế biến và sử dụng thức ăn hỗn hợp để nuôi lợn thịt công nghiệp;

• Xử lý ngô làm thức ăn cho lợn con bằng công nghệ ép đùn và đậu nành lên men thay

b) Công nghệ về thức ăn chăn nuôi

• Thức ăn đậm đặc LT1 để nuôi lợn thịt cao nạc;

bột sữa có bổ sung 0,65% axit formic và 4,2% plasma cho lợn con cai sữa;

• Sử dụng phương pháp ELISA để chẩn đoán lợn mang trùng dịch tả lợn;

• Chế phẩm S.cereviac với tỷ lệ 1% trong thức ăn cho lợn con theo mẹ và lợn sau cai

c) Công nghệ về thú y

• Thuốc Okazan với liều 15mg/1kg thể trọng và Levamizon 10mg/1kg thể trọng để tẩy

sữa để hạn chế bệnh tiêu chảy cho lợn con;

giun tròn và sán lá;

• Quy trình nuôi ăn hạn chế lợn cái ngoại hậu bị;

• Mức năng lượng và amino axit thích hợp cho lợn con cai sữa;

• Sử dụng các chất bổ sung có mùi thơm (pig krave super pig krave) và kháng sinh vào

d) Công nghệ về chăm sóc nuôi dưỡng

• Các mức lysin và năng lượng trong khẩu phần ăn cho lợn thịt giống Yorkshire và con

khẩu phần ăn cho lợn con;

• Lợn lai 2 máu ngoại F1(bố Landrace x mẹ Yorkshire) và 3 máu ngoại Duroc x (Landrace x Yorkshire) và Duroc x (Yorkshire x Landrace) và ăn hạn chế 20% đối với lợn ngoại nuôi thịt ở giai đoạn cuối kỳ vỗ béo (65-90 kg);

• Mức lysin 0,65-0,55/MJ/DE tương ứng trong khẩu phần ăn nuôi lợn thịt giống

lai với lợn Thuộc Nhiêu;

• Sử dụng Porzyme 9300 bổ sung trong khẩu phần cơ sở là ngô và cám trong chăn

Yorkshire;

nuôi lợn thịt;

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

38

• Phần mềm Viet Pig quản lý trong chăn nuôi lợn;

• Ngoài ra còn một số kết quả nghiên cứu khoa học từ các tiểu đề tài nghiên cứu thực tiễn sản xuất của các cơ sở chăn nuôi; các đề tài trong các dự án chung của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức đoàn thể như: nghiên cứu tổ chức nông dân liên kết hợp tác xã chăn nuôi lợn tại một số tỉnh vùng ĐBSH và Nghiên cứu ngành hành thịt lợn tại vùng ĐBSH (Tổ chức GRET); nghiên cứu công thức lai lợn thương phẩm trong điều kiện Việt Nam (Công ty CP); nghiên cứu thay đổi công thức phối trộn, thay đổi mặt hàng và mẫu mã thức ăn chăn nuôi lợn của các công ty, tổ chức sản xuất thức ăn chăn nuôi; ... tất cả đó đã góp phần tạo điều kiện cho chăn nuôi lợn Việt Nam thời gian qua tăng cao về sản lượng, chất lượng và hiệu quả.

e) Công nghệ về quản lý:

4.2. Nguồn lực nghiên cứu

Hiện nay các cơ quan tham gia nghiên cứu và có các đề tài hàng năm nghiên cứu trực tiếp hoặc nghiên cứu gián tiếp về chăn nuôi lợn là Viện chăn nuôi quốc gia, Viện KHKTNN miền Nam và một số bộ môn chăn nuôi thú y của 2 trường đại học nông nghiệp lớn là Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Đại học Nông lâm Thủ Đức. Tổng số các nhà nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về chăn nuôi lợn khoảng 200 người, trong đó Viện chăn nuôi quốc gia có khoảng 50%.

4.3. Kinh phí nghiên cứu

Thời gian qua, kinh phí hàng năm đầu tư nghiên cứu chăn nuôi lợn chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các đơn vị nghiên cứu thông qua Bộ NN và PTNT, phần do các tổ chức nước ngoài không đáng kể. Năm 2006, tổng kinh phí nhà nước đầu tư cho nghiên cứu chăn nuôi lợn là 7,6 tỷ đồng, trong đó:

- Nghiên cứu giống : 0,9 tỷ đồng; - Nghiên cứu thức ăn : 3,5 tỷ đồng; - Nghiên cứu công nghệ sinh học: 0,7 tỷ đồng; - Nghiên cứu khác : 2,5 tỷ đồng. (thú y, môi trường, vệ sinh, chất lượng và quản lý)

5. NHỮNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC

Điểm mạnh Điểm yếu

- Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống và thịt

lợn là thực phẩm chủ yếu của người dân

- Chăn nuôi nhỏ lẻ không có hiệu quả kinh tế, việc áp dụng công nghệ tiến tiến sẽ gặp nhiều khó khăn

- Chăn nuôi lợn có thể tận dụng được các phụ phẩm nông nghiệp, giá đầu vào thấp (chăn nuôi lợn trong các nông hộ)

- Công tác chọn lọc và lai tạo giống lợn đáp ứng cho những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau trong các vùng sinh thái khác nhau còn thiếu

- Chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng được Nhà nước quan tâm; việc đầu tư phát triển chăn nuôi lợn không chỉ tại các địa phương mà còn có cả nguồn đầu tư từ bên ngoài - Thịt lợn chủ yếu được tiêu thụ dạng tươi sống; hệ thống giết mổ lạc hậu, điều kiện về vệ sinh an toàn thực

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

39

phẩm còn nhiều hạn chế

- Thiếu các cơ sở giết mổ, chế biến đạt

chứng chỉ HACCP

- Giá thức ăn cao, đầu tư cho sản xuất - Dự đoán nhu cầu tiêu thụ thịt nói chung thị trường nội địa tiếp tục tăng cao những năm tới (ước tính 7%/năm), bên cạnh đó những cơ hội xuất khẩu thịt lợn cũng có nhiều triển vọng do tiêu chuẩn được đáp ứng cao làm hạn chế hiệu quả sản xuất

- Năng lực của hệ thống giết mổ và chế biến

lợn khá lớn

- Hiện nay nhiều lò mổ mới hình thành cùng - Chăn nuôi lợn nhỏ lẻ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp còn được áp dụng tại nhiều nông hộ

với những tiêu chuẩn được cải thiện

- Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo giống thời gian qua đã đem lại nhiều thành công trong việc nâng cao năng suất sinh sản và hiệu quả chăn nuôi lợn

- Khi gia nhập WTO, giá thành thức ăn cao, năng suất chăn nuôi lợn của ta thấp sẽ khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm thịt lợn tại các nước có chất lượng cao và giá rẻ, sản xuất theo công nghệ hiện đại

- Áp dụng vắc xin phòng bệnh và kiểm soát, quản lý kỹ thuật thú y đã có nhiều thành công

- Về quản lý giống lợn đã có phần mềm quản lý VIET PIG, cho phép ứng dụng tin hoạc hoá trong quản lý giống lợn

- Chăn nuôi lợn nhỏ lẻ ít quan tâm đến việc quản lý và phòng bệnh, điều này làm tăng sự rủi ro về bệnh truyền nhiễm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi

- Nguồn lực nghiên cứu khá dồi dào đó là Viện Chăn nuôi, Viện KHKTNN miền Nam, Đại học Nông nghiệp I và Đại học Nông lâm Thủ Đức, ...

- Hệ thống ghi chép tại các trang trại ít được quan tâm; dữ liệu quốc gia để sử dụng phân loại các lý do và hạn chế chưa được hoàn thiện

- Nhiều đơn vị sản xuất có thể tiếp cận, thực hiện các thành quả nghiên cứu chọn lọc giống trên thế giới, qua họ có thể chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho người khác

- Mặc dù năng suất chăn nuôi được cải thiện, nhưng hiệu quả còn thấp so với các nước trong khu vực do chất lượng con giống lợn, hệ thống quản lý chăn nuôi, vệ sinh thú y và hệ thống giết mổ, chế biến còn hạn chế

- Giá sản xuất của sản phẩm thịt lợn bình quân toàn quốc còn cao hơn so với các nước trong khu vực vì giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng bệnh cao, năng suất thấp

- Hệ thống giết mổ lợn, công nghệ chế biến còn lạc hậu, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Thách thức Cơ hội

- Những rủi ro về các bệnh truyền nhiễm

LMLM, tai xanh

- Phát triển chăn nuôi lợn trang trại thời gian tới sẽ áp dụng được các công nghệ tiên tiến cải thiện năng suất, tăng lợi nhuận chăn nuôi

- Năng suấ suất sinh sản, tỷ lệ sơ sinh còn sống - Phát triển chăn nuôi trang trại công nghiệp năng suất được cải thiện, giá

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

40

của lợn con và lợn trưởng thành thời gian tới tiếp tục được nâng cao

thành giảm và thực phẩm được an toàn hơn, điều này sẽ làm giảm hệ thống sản xuất truyền thống, ảnh hưởng đến các hộ nông dân nghèo

- Hệ thống tiêm phòng đang phát huy hiệu quả; ý thức của người dân về công tác tiêm phòng đã được nâng cao

- Khi ra nhập WTO, sự thiếu hiểu biết về cạnh tranh của người sản xuất; năng suất thấp và giá thành thịt lợn cao sẽ bị cạnh tranh ngay trong thị trường nội địa

- Nguồn thức ăn giá trị dinh dưỡng cao ở các địa phương được coi trọng; phẩu phần ăn cho chăn nuôi lợn được cải thiện thông qua hệ thống sản xuất thức ăn công nghiệp đang phát triển mạnh

- Phát triển chăn nuôi lợn trang trại thì cũng ảnh hưởng đến môi trường không khí, môi trường nước tại các vùng nhiều trang trại chăn nuôi lợn

- Áp dụng hệ thống giết mổ, chế biến đảm bảo chất lượng lợn thịt và sản phẩm lợn chế biến theo tiêu chuẩn quốc tế là cơ hội cho phát triển sản xuất

- Thiếu vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm sẽ là hạn chế lớn khi tham gia xuất khẩu và tham gia thị trường nội địa

- Công tác giống lợn đang tiếp tục được coi trọng cả về chọn lọc, lai tạo giống và công nghệ gen

- Hệ thống ghi chép, quản lý chăn nuôi có nhiều cải thiện, cho phép quản lý từ sơ sinh đến xuất bán sản phẩm

- Đã có những phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất chăn nuôi lợn theo các quy mô, điều kiện kinh tế xã hội tại các vùng sinh thái

- Có nhiều đầu tư nâng cấp nhà xưởng, cải thiện hệ thống vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm tại cả các cơ sở lớn và vừa

- Đã có nhiều nghiên cứu chọn lọc, bảo tồn các giống lợn địa phương góp phần đa dạng hoá nguồn gen quý

- Đáp ứng tiêu chuẩn của WTO, đã có nhiều nghiên cứu về hàng rào kinh tế kỹ thuật cho việc xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu thịt lợn

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

41

ARDO 4: GIA CẦM

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1. Mục tiêu quốc gia

Phát triển quy mô, năng suất và an toàn thực phẩm của những hệ thống sản xuất, chế biến và marketing. Nâng cao khả năng phát hiện, ngăn chặn và kiểm soát các loại bệnh gia cầm, đặc biệt là bệnh cúm.

Mục tiêu 2010 và 2015

• Phấn đấu đến năm 2010 số lượng gia cầm 281,8 triệu con, sản lượng trứng ăn 7.920 triệu quả, tổng sản lượng thịt sản xuất ra 1.427,5 nghìn tấn. Tương ứng năm 2015 số lượng gia cầm 397,3 triệu con, sản lượng trứng ăn 10.207 triệu quả, tổng sản lượng thịt sản xuất ra 2.256,7 nghìn tấn. Hy vọng số lượng vịt sẽ duy trì ổn định như mức gia tăng ở gà.

• Về chế biến giết mổ: Phấn đấu đến năm 2010, có các cơ sở giết mổ với công suất đạt 230 triệu con và đến năm 2015 có 170 cơ sở với công suất giết mổ đạt 385 triệu con.

1.2. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D)

Nghiên cứu nâng cao năng suất con giống thông qua các giống mới và chọn lọc trong giống. Nghiên cứu về dinh dưỡng, phát triển hệ thống chăn nuôi thâm canh, phòng, quản lý, kiểm soát bệnh và phát triển hệ thống giết mổ, chế biến hiện đại.

1.3. Đối tượng nghiên cứu

- Gà - Thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng)

2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH

2.1. Giới thiệu

Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển nhanh từ nhiều năm nay với những tiến bộ vượt bậc nhờ áp dụng công nghệ di truyền hiện đại. Chọn lọc lai tạo thành công nhiều dòng giống gia cầm năng suất chất lượng cao và phát triển hệ thống chăn nuôi gia cầm thương phẩm thâm canh. Ở Việt Nam trong quá trình hội nhập tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới, hơn một thập kỷ qua ngành chăn nuôi gia cầm đã có những kết quả đáng ghi nhận nhưng chăn nuôi vẫn ở mức nhỏ lẻ và thiếu tập trung. Số lượng gia cầm tăng từ 107,4 triệu con năm 1990 lên 254 triệu con vào năm 2003. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2000-2003 là 8,6% năm, trong đó đàn gà tăng 8,3%, đàn thuỷ cầm tăng 9,4%; Năm 2003 sản lượng thịt 377,72 ngàn tấn tăng 7,5%, sản lượng trứng 4,85 tỷ quả tăng 8%. Hàng năm sản xuất 350-380 ngàn tấn thịt hơi, chiếm khoảng 16-17% tổng khối lượng thịt hơi các loại. Đàn gia cầm đã cung cấp cho xã hội một khối lượng lớn về thịt và trứng. Từ cuối năm 2003, do ảnh

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

42

hưởng của dịch cúm gia cầm đã làm giảm tổng đàn gia cầm xuống còn 219 triệu con năm 2004 và 220 triệu con 2005.

Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại 4 phương thức chăn nuôi gia cầm chủ yếu: (1) chăn nuôi trong nông hộ (chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán và thả rông), (2) chăn nuôi vịt chạy đồng, (3) chăn nuôi bán công nghiệp (quy mô vừa, thả vườn), (4) chăn nuôi công nghiệp (quy mô lớn, tập trung).

2.2. Đặc điểm ngành và triển vọng

Số lượng, sản lượng (2001 – 2005)

2002 2003 2004 2005

Diễn giải

Số lượng

2001 Số lượng 218,1 158,0 Số lượng 233,3 169,6 Số lượng 254,1 185,2 TL (%) 218,2 86,9 159,2 86,0 Số lượng 219,9 160,0

60,1 63,7 68,9 89,5 59,9

Gia cầm (triệu con) - Gà - Vịt, ngan, ngỗng KL thịt (nghìn tấn) - Gà - Vịt, ngan, ngỗng 322,7 236,0 86,7 362,3 246,1 116,2 TL (%) 107,0 107,3 106,0 112,3 104,3 134,0 377,7 271,7 106,0 TL (%) 107,6 109,2 103,5 59,0 104,3 110,4 91,2 316,4 83,8 231,0 85,0 85,4 80,6 321,9 234,0 87,9 TL (%) 100,8 100,5 101,5 101,7 101,3 102,9

SL trứng (triệu quả) - Gà - Vịt, ngan 4022,5 3044,9 977,6 4122,1 3294,1 828,0 102,5 108,2 84,7 4852,3 3537,6 1314,7 117,7 107,4 158,8 3933,0 81,1 2875,2 81,3 1057,9 80,5 3948,5 2871,0 1077,5 100,4 99,9 101,9

Nguồn: Cục chăn nuôi -Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2006

Hệ thống sản xuất giống

• Giống gà: Ri, Mía, Hồ, Tre, Ác, H’Mông,..

• Giống vịt: Bầu Quỳ, vịt kỳ Lừa,..

• Giống ngan: dé, trâu,…

• Có phẩm chất trứng thịt thơm ngon, nhưng nhìn chung năng suất thấp. Gà có khối lượng 1,2-1,5 kg/con/6-7 tháng, sản lượng trứng 60-120 quả/mái/năm. Vịt: 1,2- 1,4kg/con/4-5 tháng. Việc sản xuất giống địa phương diễn ra tại các hộ gia đình chăn nuôi, chủ yếu theo hình thức tự sản, tự tiêu.

Giống gia cầm nội

• Giống chuyên thịt: Gà bao gồm: BE 88; AA; Avian; Ross 208, 308, 408 (năm 1993); ISA Vedette (năm 1994); Loh Mann meat (năm 1995); Cobb (năm 1997); ISA MPK năm (1998). Gà chuyên trứng như Goldline-54 (năm 1990); Brown Nick (năm 1993); Hisex brown (năm 1995); Hyline (năm 1996); ISA Brown (năm 1998); Babcobb- B380 (năm 1999); Loh Mann Brown (năm 2002).

Giống gia cầm nhập nội

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Giống kiêm dụng: Gà Tam Hoàng 882 (năm 1992); Jiangcun (năm 1995); Lương Phượng; ISA-JA 57; Kabir; Ai Cập (năm 1997); Sasso (năm 1998); ISA color; Thái Hoà (năm 1999); Hubbard Plex (năm 2000); Newhampshire; Yellow Godollo; Sao (năm 2002).

• Các giống vịt Super M; Super – Layer 2000; Khakicampbell (trước và sau năm

43

• Các dòng ngan R31; R51 (năm 1992); R71; Siêu nặng năm (1997). Năng suất của các giống nhập nuôi ở Việt Nam chỉ đạt 85-90% so với năng suất chuẩn của giống.

1990).

Giá trị và thị trường

Bình quân số lượng thịt, trứng gia cầm/người/năm

Số lượng Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005

Bình quân số lượng thịt, trứng gia cầm/người/năm

SL thịt (kg) 3,7 4,1 4,7 3,8 3,8

SL trứng (quả) 52,8 56,9 60,6 47,6 47,0

Sản lượng thịt trứng 2001 – 2005

KL thịt (nghìn tần) 322,7 362,3 377,7 316,4 321,9

SL trứng (triệu quả) 4022,5 4122,1 4852,3 3933,0 3948,5

• Số kg thịt/người/năm tăng dần đến năm 2003 (năm 2001: 3,7kg, năm 2003: 4,7kg); năm 2004, 2005 giảm còn 3,8 kg thịt/người/năm. Tương ứng số lượng trứng năm 2001: 52,8 quả, năm 2003: 60,6 quả, năm 2004: 47,6 quả, năm 2005: 47 quả/người/năm.

• Từ năm 1990 đến năm 1997 giá thịt hơi của gia cầm biến động mạnh. Sau năm 1998 giá thịt hơi của gia cầm có xu hướng tăng lên. Bên cạnh sự bất ổn định qua các năm thì giá còn dao động mạnh trong năm, mang tính chất thời vụ. Giá có xu hướng tăng nhanh vào thời điểm tháng 1, tháng 2 do nhu cầu tiêu thụ thịt tăng trong dịp tết. Hiện tại trung bình giá thịt gà hơi 25.000-35.000 đồng/kg.

• Trên 90% sản phẩm thịt gia cầm được tiêu thụ ở dạng tươi sống và hoàn toàn tiêu thụ

Nguồn: Cục chăn nuôi -Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2006

• Trong những năm qua nước ta nhập khẩu trên 1 triệu gà bố mẹ, khoảng 4000-5000 gà ông bà và 200-300 ngàn vịt bố mẹ mỗi năm để sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho chăn nuôi gia cầm trong nước.

• Trên 90% sản phẩm thịt gia cầm được tiêu thụ ở dạng tươi sống và hoàn toàn tiêu thụ

trong nước chỉ một số lượng nhỏ trứng muối xuất khẩu.

trong nước chỉ một số lượng nhỏ trứng muối xuất khẩu.

3. PHÂN TÍCH NGÀNH

3.1. Phương thức chăn nuôi gia cầm

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

44

• Là phương thức chăn nuôi truyền thống có từ lâu đời ở nông thôn Việt Nam. Gia cầm nuôi thả rông, tự tiềm kiếm thức ăn và tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, đồng thời tự ấp và nuôi con. Người nông dân sử dụng giống địa phương với chất lượng thịt trứng cao. Phương thức chăn nuôi này là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh, trong đó có cả bệnh cúm gia cầm.

• Theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê năm 2005 có tới 65% hộ gia đình nông thôn chăn nuôi gia cầm theo phương thức này (trong tổng số 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm) với tổng số gia cầm khoảng 110-115 triệu con (chiếm khoảng 50-52% tổng số gia cầm xuất chuồng của cả năm).

Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ

• Đây là tập quán, truyền thống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, là vùng có nhiều sông ngòi, kênh rạch, mương máng đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Thức ăn của đàn vịt phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thực phẩm sẵn có trên đồng ruộng hoặc kênh rạch. Cách chăn nuôi này có hiệu quả đối với dân nghèo vì đầu tư ít, song lại là nguy cơ tiềm tàng gieo rắc mầm bệnh trong phạm vi không gian rộng, bao gồm cả việc bùng phát dịch cúm gia cầm trong các tỉnh.

• Ước tính trong 60 triệu vịt nuôi hiện nay, có tới 70% số vịt được nuôi theo phương

Chăn nuôi vịt chạy đồng

thức chạy đồng.

• Đặc trưng của phương thức chăn nuôi này là chăn nuôi các giống kiêm dụng (gà

Chăn nuôi bán công nghiệp

• Ước tính có khoảng 10-15% số hộ nuôi theo phương thức này với số lượng gia cầm

Lương Phượng, Kabir, Sasso,…) với quy mô đàn từ 200-500con.

sản xuất hàng năm chiếm 20-25%.

• Là hình thức kết hợp giữa các trang trại - hộ chăn nuôi và các doanh nghiệp nước ngoài có đầu tư và chuyên môn lớn. Muốn thành công theo hình thức chăn nuôi này yêu cầu phải có đầu tư lớn, công nghệ cao, có quỹ đất và thị trường ổn định.

• Sử dụng giống có năng suất cao gà ISA, Ross, Hyline; vịt CV; ngan Pháp,… , thức ăn công nghiệp và ứng dụng công nghệ như chuồng kín, chuồng lồng, chủ động điều khiển nhiệt độ, hệ thống cho ăn uống tự động.

• Các giống này được nuôi giữ trong các cơ sở giống của nhà nước, các công ty nước ngoài và trong nước, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị nghiên cứu khoa học về chăn nuôi gia cầm, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài (C.P.group, Japfacomfeed, Topmill) và các trang trại gia cầm tư nhân.

• Các đơn vị này nhập giống bố mẹ và số lượng ít giống ông bà, chỉ nuôi giữ trong một

Chăn nuôi công nghiệp

chu kỳ sản xuất, nên hàng năm phải nhập giống mới thay thế.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Ngành chăn nuôi gia cầm còn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài về các giống gia cầm có năng suất cao. Các giống gia cầm địa phương chất lượng cao khó đáp ứng được yêu cầu của hệ thống chăn nuôi công nghiệp.

• Chỉ có 2.837 trang trại chiếm 16% so với tổng số trang trại toàn quốc, trong đó chăn nuôi gà là 1950 trang trại, vịt ngan là 668 trang trại, gia cầm giống 219 trang trại.

45

Quy mô và số lượng trang trại chăn nuôi gà

Quy mô: con/trang trại

Vùng Tổng 2000- 5000 5000- 8000 8000- 11000 11000- 15000 Trên 15000

Tổng Tỷ l ệ (%) Miền Bắc Tỷ l ệ (%) Đông Bắc Tây Bắc ĐB sông Hồng Bắc Trung Bộ Miền Nam Tỷ l ệ (%) DH Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐBSCL 1342 68,82 576 42,92 28 30 403 115 766 57,08 236 74 247 209 82 4,21 33 40,24 0 1 32 0 49 59,76 4 3 31 11 58 2,97 14 24,14 0 5 9 0 44 75,86 1 5 33 5 67 3,44 7 10,45 0 0 7 0 60 89,55 0 4 47 9 1950 100 859 44,05 72 42 590 155 1091 55,95 263 99 479 250

401 20,56 229 57,11 44 6 139 40 172 42,89 22 13 121 16 Quy mô và số lượng trang trại chăn nuôi vịt, ngan

Quy mô: con/trang trại

Vùng Tổng 2000- 5000 5000- 8000 Trên 15000

654 97,90 238 36,39 2 0 137 99 416 63,61 139 8000- 11000 2 0,30 0 0 0 0 0 0 2 100 1 11000- 15000 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 11 1,65 4 36,36 0 0 4 0 7 63,64 1 1 0,15 0 0 0 0 0 0 1 100 0 668 100 242 36,23 2 0 141 99 426 63,77 141

Tổng Tỷ l ệ (%) Miền Bắc Tỷ l ệ (%) Đông Bắc Tây Bắc ĐB sông Hồng Bắc Trung Bộ Miền Nam Tỷ l ệ (%) DH Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐBSCL 25 16 236 0 1 0 0 0 0 4 1 1 0 0 1 29 18 238

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

46

Quy mô và số lượng trang trại chăn nuôi gia cầm giống

TT Vùng Tổng 2000- 5000 5000- 8000

37 16,89 8000- 11000 10 4,57 Quy mô: con/trang trại 11000- 15000 3 1,37 Trên 15000 9 4,11 219 100 Tổng Tỷ l ệ (%) 160 73,06

Miền Bắc Tỷ l ệ (%)

28 75,68 1 0 27 0 10 100 0 0 10 0 3 100 0 0 3 0 3 33,33 0 1 2 0 173 79,00 2 1 169 1 Đông Bắc Tây Bắc ĐB sông Hồng Bắc Trung Bộ 129 80,63 1 0 127 1 1 2 3 4

Miền Nam

9 24,32 0 0 9 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 6 66,67 0 0 6 0 46 21,00 10 0 25 11 Tỷ l ệ (%) DH Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐB Sông Cửu Long 31 19,38 10 0 10 11 5 6 7 8

Nguồn: Cục chăn nuôi -Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2006

3.2. Cơ sở hạ tầng

Có 11 cơ sở giống gia cầm trực thuộc trung ương, có khả năng sản xuất 100-120 triệu con mỗi năm. Bên cạnh còn có 106 trại gia cầm thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (10 cơ sở của các công ty có vốn nước ngoài, 20 cơ sở của các doanh nghiệp địa phương, số còn lại là của trang trại tư nhân).

Các trại nuôi giữ giống gốc do Bộ Nông nghiệp & PTNT quản lý

Đơn vị Giống nuôi

Các giống gà Các giống gà Các giống gà Các giống gà Các giống gà

Các giống gà Các giống vịt Các giống gà TT I 1 2 3 4 5 II 6 7 8 9

Các giống gà,vịt 10

Các giống gà III 11 Tổng Công ty chăn nuôi Công ty giống gia cầm Lương Mỹ - Hà Tây Xí nghiệp gà giống Ba Vì – Hà Tây Xí nghiệp gà giống Tam Đảo – Vĩnh Phúc Xí nghiệp gà giống Hoà Bình – Kim Bôi – Hoà Bình Xí nghiệp giống gia cầm Châu Thành – Nam Định Viện Chăn nuôi Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương – Hà Nội Các giống gà, vịt, ngan Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc – Hà Tây Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên – Hà Tây Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền Trung Bình Định Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi miền Nam Viện Khoa học kỹ thuật chăn nuôi Miền Nam Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

47

• Ở Việt Nam, tại trung ương Cục Thú y là cơ quan có trách nhiệm phụ trách về các vấn đề kiểm soát dịch bệnh, kiểm tra các cơ sở giết mổ, vệ sinh dịch tễ, quản lý thuốc và vacxin. Ở tỉnh huyện cũng có các chi cục và các trạm thú y. Mặc dù có một mạng lưới thú y từ trung ương đến địa phương nhưng số lượng cán bộ thú y ở cấp xã vẫn còn rất thiếu và trình độ còn rất hạn chế. Trang thiết bị của các trạm thú y rất nghèo làn và lạc hậu. Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán giết mổ phân tán, không đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra. Như bệnh Niucatson, gumboro, tụ huyết trùng,…. Tỷ lệ chết tới trưởng thành của các đàn gà nuôi thả rông 30-40%. Thiệt hại do bệnh dịch gây ra làm tổn thất cho người nông dân và cũng làm cho giá thành chăn nuôi còn cao.

• Hiện nay thị trường thuốc thú y rất đa dạng được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau. Giá thuốc và vacxin tương đối cao. Việc quản lý thuốc và vacxin thú y rất khó. Do vậy trên thị trường vẫn còn tồn tại các loại thuốc kém chất lượng, thuốc nhập lậu,…

• Công tác vệ sinh thú y chưa được người chăn nuôi chú trọng. Việc kiểm tra kiểm dịch chưa thực sự được triển khai tại nông thôn. Chính sách thú y chưa thực sự tạo ra tính thống nhất từ trung ương đến địa phương.

• Mặc dù đã có pháp lệnh thú y, song việc thi hành văn bản này chưa nghiêm túc ở nhiều địa phương. Dịch cúm gia cầm đã bùng phát ở nước ta từ tháng 12/2003 làm tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ: 51 triệu con, thiệt hại ước tính gần 10.000 tỷ đồng. Tiếp tục cuối năm 2006 một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lại tái mắc dịch.

• Nguy cơ dịch bệnh đã làm cho người chăn nuôi chưa yên tâm tái đầu tư do sự nguy hiểm của bệnh cúm, giá cả bấp bênh và điều này ảnh hưởng đến sự bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm trong tương lai.

Dịch vụ thú y

• Tính đến 1/3 năm 2006, Việt Nam có 136 cơ sở giết mổ, chế biến gia cầm. Trong đó đồng bằng sông Cửu Long: 45 cơ sở, Đông Nam Bộ: 26 cơ sở, đồng bằng sông Hồng: 26 cơ sở, Nam Trung Bộ: 11 cơ sở, Tây nguyên 11 cơ sở, Đông Bắc: 9 cơ sở, Bắc Trung Bộ: 7 cơ sở và Tây Bắc: 1 cơ sở.

• Hầu hết gia cầm được bày bán ở các chợ cóc (tạm bợ). Hệ thống chế biến giết mổ gia

Giết mổ chế biến gia cầm

• Gần 80% số cơ sở giết mổ hoạt động ở các chợ địa phương, cấp làng, xã hoặc cấp thị trấn huyện. Khối lượng thịt gia cầm giết mổ hàng năm tại các cơ sở này ước tính khoảng 25-30 ngàn tấn/năm.

• Việc buôn bán tràn lan, giết mổ thủ công, phân tán làm lây lan phát tán bệnh dịch. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo yêu cầu. Hệ thống chế biến chưa phát triển.

cầm còn rất lạc hậu, hầu hết gia cầm được giết mổ thủ công và bày bán tràn lan.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Do yêu cầu của thị trường sử dụng sản phẩm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều địa phương, doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng các cơ sở dây truyền giết mổ, chế biến sản phẩm gia cầm.

48

3.3. Thị trường

Trong thời gian qua nhu cầu thịt, trứng trong nước tăng lên mạnh. Sự tăng cầu

trong nước là yếu tố quan trọng nhất đẩy mạnh sản xuất chăn nuôi gia cầm phát triển. Từ 107,4 triệu con năm 1990 tăng lên 254 triệu con vào năm 2003. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000-2003 là 8,6% năm; Năm 2003 sản lượng thịt 377,72 ngàn tấn tăng 7,5%, sản lượng trứng 4,85 tỷ quả tăng 8%.

Số kg thịt/người/năm 2001: 3,7kg, năm 2003: 4,7kg, Tương ứng số lượng trứng năm 2001: 52,8 quả, năm 2003: 60,6 quả/người/năm. Nhưng mức tiêu thụ cũng có sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm thu nhập. Sự chênh lệch này cho thấy, thị trường trong nước còn rất nhiều tiềm năng. Hơn nữa mức tiêu thụ bình quân trên người của VN còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nguyên nhân chủ yếu là giá thịt, trứng còn tương đối cao so với mức thu nhập nên sức tiêu thụ còn rất thấp. Khi thu nhập tăng người dân có xu hướng tiêu thụ thịt nhiều hơn và nếu giá sản phẩm giảm sẽ kích thích sự tiêu dùng thịt trong nước một cách đáng kể. Trong những năm qua do giá thành chăn nuôi cao và do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên còn chưa kích cầu trong nước.

Hiện nay chăn nuôi gia cầm chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Giá thực phẩm tăng cao gấp đôi so với thời kỳ trước, nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung hạn chế vì chăn nuôi bấp bênh và sản phẩm không được qua chế biến. Do vậy khi công nghiệp chế biến, giết mổ chưa phát triển thì cả chăn nuôi và thị trường đều không bền vững. Trước tình hình đó một số tỉnh, thành phố đã tăng cường quản lý và có chính sách hộ trợ, khuyến khích ổn định thị trường. Một số doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung cung cấp cho thị trường một lượng sản phẩm bảo đảm vệ sinh nhất định. Bước đầu tạo thói quen sử dụng sản phẩm qua chế biến, giết mổ cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên việc quản lý buôn bán sản phẩm nhiều nơi còn bị buông lỏng. Sự buôn bán và sử dụng gia cầm tươi sống nhất là vùng nông thôn vẫn còn tồn tại và phát triển. Do vậy các nhà đầu tư còn e ngại cho việc xây dựng các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung công nghiệp.

Mặt khác việc tiêu thụ sản phẩm gia cầm trong nước có nhiều các thành phần tham gia từ người chăn nuôi, người thu gom, buôn bán, giết mổ, bán lẻ, tiêu dùng. Kênh tiêu thụ dài, hạn chế sự kết nối liên lạc giữa hộ chăn nuôi và người tiêu dùng. Đây cũng là một lý do dẫn đến lợi nhuận của người chăn nuôi thu được thấp.

Khi có các giải pháp đồng bộ sản lượng gia cầm tăng thì giá thịt gia cầm sẽ ở

mức ổn định.

Như vậy chăn nuôi gia cầm còn rất nhiều tiềm năng về thị trường trong nước.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

49

• Hiện nay việc tiêu thụ thịt, trứng/người/năm còn thấp hơn so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Sản lượng thịt gia cầm: 4,7 kg/người/năm 2003; 3,8 kg/người/năm 2005. Sản lượng trứng: 60,6 quả trên người/năm 2003; 47 quả/người/năm 2005. Trên thế giới: Trung Quốc 5,7 kg thịt/người/năm 2004; Hoa kỳ 28 kg thịt/người/năm 2003; Thế giới 12,1 kg thịt/người/năm 2004 (FAO).

• Khi các vấn đề về dịch cúm gia cầm và an toàn thực phẩm ngày càng thiết yếu thì nhu cầu về hệ thống giết mổ, chế biến, đóng gói và marketing có chứng nhận về vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ tăng lên.

• Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn của các công ty, tập đoàn nuớc ngoài với trình độ công nghệ, kỹ thuật cao, ưu thế chủ động về con giống, nguồn nguyên liệu giá rẻ,..

• Chăn nuôi gia cầm có khả năng tăng lên nhờ vào sự phát triển của những hệ thống chăn nuôi thâm canh có đầu tư thông qua liên doanh liên kết với các công ty đa quốc gia lớn. Các công ty này có đủ tiềm lực và cung cấp hầu hết giống, thức ăn, dịch vụ thú y. Điều này có ảnh hưởng quan trọng về khả năng cạnh tranh của người chăn nuôi quy mô nhỏ trong thị trường thành thị.

3.4. Xu thế trong tương lai và các vấn đề chính của thị trường

4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (R&D)

• Chọn lọc giống gia cầm năng suất chất lượng cao, phát triển và duy trì nguồn gen gia

4.1. Lĩnh vực nghiên cứu chính

• Hệ thống chăn nuôi gia cầm bao gồm: ấp trứng, nuôi dưỡng và quản lý hệ thống chăn

cầm quý.

• Các yêu cầu về thức ăn và sử dụng thức ăn địa phương trong sản xuất.

• Nghiên cứu về tế bào gốc gia cầm.

• Chuẩn đoán, ngăn chặn, kiểm soát và quản lý bệnh gia cầm.

• Giết mổ chế biến gia cầm đảm bảo an toàn thực phẩm.

nuôi gia cầm sinh sản và nuôi thịt.

4.2. Những cơ quan nghiên cứu chính

• Viện Chăn nuôi (các giống gà, ngan, vịt)

• Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam (các giống gà)

• Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam (các giống gà)

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

• Đại học nông nghiệp I Hà Nội

• Đại học Thái Nguyên

• Đại học Hồng Đức

Trường Đại học

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Đại học Vinh

• Đại học nông lâm Huế

• Đại học nông lâm Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

• Đại học cần thơ

50

• Các cơ quan tại địa phương: sở KHCN, Sở NN và PTNT, các trung tâm khuyến nông

• Không có các cơ quan chính thức của lĩnh vực tư nhân tham gia nghiên cứu, nhưng

Cơ quan khác

• Các tổ chức hợp tác chính: FAO, CIRAD, ODA, …

có các công ty liên doanh cung cấp dịch vụ nghiên cứu và phát triển.

• Tài chính từ nhà nước, tổ chức thế giới (FAO, CIRD, ODA, ADB, WB,…)

• Dự kiến kinh phí đầu tư đổi mới ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến giết mổ

4.3. Những nguồn tài chính chủ yếu

• Tổng kinh phí Nhà nước cấp cho nghiên cứu Gia cầm của Viện Chăn nuôi quốc gia

gia cầm giai đoạn 2006-2015 khoảng 4.360 tỷ đồng

năm 2006 ước tính 10,6 tỷ đồng

4.4. Những kết quả R&D đạt được cho đến nay

• Đã có nhiều công trình nghiên cứu thích nghi, chọn lọc, nhân thuần một số giống gà nhập nội cho năng suất cao như gà Goldline, hyline, Ross- 208; 308; Cornish Plymouth, Hybro,…

• Đã chọn lọc nhân thuần và phát triển các giống gà lông màu thả vườn năng suất chất lượng cao như Tam hoàng 882, Jiangcun, Lương Phượng, ISA, Kabir, Sasso,.. có năng suất trứng đạt 145-190 quả/mái/năm, gà nuôi thịt đến 10-12 tuần tuổi đạt 1,7- 2,4 kg.

• Gà Ai Cập năng suất đạt 170-180 quả/mái/năm, chất lượng trứng thơm ngon, sức

Giống gà:

• Hàng chục công thức lai được áp dụng vào sản xuất. Chọn tạo một số dòng gà năng

kháng bệnh tốt đáp ứng được nhu cầu thị trường.

suất chất lượng cao như gà Rhode Ri, BT, LV,..

• Nghiên cứu chọn lọc vịt siêu thịt CV Super M cho năng suất thịt cao, năng suất trứng đạt tới 150-200 quả/mái/năm. Vịt thương phẩm nuôi đến 8 tuần tuổi đạt 3-3,4 kg.

• Chọn lọc tạo 2 dòng vịt T5 và T6 cho năng suất trứng cao 190-230 quả/mái/năm.

• Chọn lọc nhân thuần vịt Khaki Campbell có năng suất trứng 240-280 quả/mái/năm,

Giống vịt:

• Nhiều công thức lai đã được sản xuất chấp nhận từ các dòng vịt trên.

vịt CV layer 2000 có năng suất trứng 260-300 quả/mái/năm, vịt cỏ,….

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Nghiên cứu thụ tinh nhân tạo giữa ngan và vịt cho tỷ lệ phôi đạt trên 80%, con lai sau

51

khi nhồi khối lượng gan đạt 0,3-0,4 kg.

• Chọn lọc nhân thuần các dòng ngan R31, R51, R71, siêu nặng cho năng suất trứng 170-190 quả/mái/2 chu kỳ khai thác. Ngan thương phẩm nuôi thịt đến 12 tuần tuổi đạt 4,5-5,5kg. Công thức lai từ các dòng ngan trên. Chọn tạo một số dòng ngan giá trị kinh tế cao.

• Cùng với những thành công nghiên cứu di truyền chọn giống, nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật nuôi gia cầm sinh sản và thương phẩm, nghiên cứu phòng và trị bệnh, ấp trứng, xây dựng mô hình cho gia cầm cũng cho kết quả tốt.

Giống ngan:

5. PHÂN TÍCH SWOT (Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức)

Những điểm mạnh - Có nhiều cơ quan nghiên cứu và chuyển Những điểm yếu - Đa số các địa phương chưa có vùng chăn nuôi gia

giao tiến bộ kỹ thuật. cầm tập trung.

- Chăn nuôi chủ yếu phân tán trong nông hộ và chăn nuôi vịt theo phương thức chạy đồng nên khó kiểm soát được dịch bệnh.

- Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất truyền thống có từ lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Việt Nam. thịt, trứng gia cầm - Sản lượng

- Hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán làm cho việc kiểm soát quản lý dịch bệnh, đặc biệt là cúm gia cầm gặp rất nhiều khó khăn.

trên người/năm còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới nên chăn nuôi gia cầm còn rất nhiều tiềm năng về thị trường trong nước. - Chăn nuôi hàng hoá quy mô lớn tập trung chiếm tỷ trọng thấp, số lượng và quy mô trang trại chăn nuôi tập trung còn chưa nhiều.

- Người chăn nuôi tiếp thu công nghệ mới một cách nhanh chóng, luân mong muốn có giống gia cầm năng suất chất lượng cao. - Áp dụng công thức lai tạo, sử dụng các giống cải tiến và hệ thống chăn nuôi có quản lý chưa được hiệu quả nên tiềm năng về năng suất và chất lượng còn thấp.

- Gia cầm dễ quản lý, chi phí đầu vào thấp,

có hệ số quay vòng nhanh.

- Ngoài một số cơ sở của nhà nước thì các thành phần kinh tế tư nhân không tham gia đầu tư vào sản xuất giống ông bà.

- Dịch bệnh là vấn đề chính và nhận thức của người chăn nuôi về vệ sinh, phòng chống dịch còn yếu kém.

- Chăn nuôi gia cầm phát triển tạo công ăn việc làm cho người lao động và sẽ tạo ra các nghề mới khi ngành công nghiệp giết mổ và chế biến phát triển cao hơn nữa. - Chi phí lao động rẻ, thấp là những lợi thế - Việc tiêm phòng vaccin cho đàn gia cầm trong

cạnh tranh lớn. nông hộ còn thấp, chỉ đạt 25-30%.

- Hệ thống chăn nuôi thương phẩm quy mô

lớn có thể tăng cao được năng suất.

- Rất nhiều các tổ chức quốc tế lớn đầu tư - Giết mổ gia cầm diễn ra khắp mọi nơi, nhưng không được kiểm dịch và chưa đảm bảo vệ sinh thú y. Các cơ sở giết mổ gia cầm tập trung còn quá

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

52

ít. vào việc khống chế dịch cúm gia cầm.

- Thị trường tiêu thụ giống và sản phẩm gia cầm hình thành tự phát và rất manh mún. Sản phẩm gia cầm tiêu thụ trên thị trường chủ yếu ở dạng tươi sống.

- Chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi gia

cầm tập trung hàng hoá lớn còn hạn chế.

- Năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm không cao, đặc biệt là khả năng cạnh tranh rất thấp trên thị trường Quốc tế.

Những cơ hội - Quy hoạch cơ sở sản xuất giống, vùng chăn

nuôi gia cầm tập trung.

Những thách thức - Là thành viên của WTO có thể các chi phí sẽ tăng để đạt được các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. - Dịch bệnh chưa kiểm soát được ảnh hưởng đến sự - Phát triển mạnh chăn nuôi gia cầm theo

phương thức công nghiệp và hàng hoá. phát triển của ngành gia cầm.

- Sẽ phải cạnh tranh mạnh với các sản phẩm chăn nuôi khác trên trị trường trong nước cũng như quốc tế.

- Giải pháp về giống, thú y phòng bệnh, chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, thức ăn, ấp trứng cho gia cầm. Liên doanh để cải tiến trang thiết bị chăn nuôi gia cầm.

- Tăng cơ sở giết mổ tập trung, chế biến sản phẩm gia cầm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. - Việc giết mổ chế biến gia cầm còn lạc hậu, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo đang là mối lo ngại lớn của người tiêu dùng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm.

- Nâng cao nhận thức về quản lý dịch bệnh

và nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

53

ARDO 4. CÔN TRÙNG CÓ ÍCH

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1. Mục tiêu quốc gia: Tăng năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế và đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

• Đến năm 2010, đưa tổng đàn ong lên 900 ngàn, đạt sản lượng 24,6 ngàn tấn mật,

Mục tiêu cụ thể:

• Đưa tổng đàn ong lên khoảng một 1,1 triệu đàn với sản lượng đạt 33,0 ngàn tấn mật

xuất khẩu 85% sản lượng mật vào năm 2010.

• Đến năm 2010, đạt diện tích dâu 30.000ha, năng suất kén 1.200 kg/ha, sản lượng tơ 4.235 tấn. Trong đó cơ cấu sản phẩm hàng hoá là 50% tơ sống xuất khẩu; 30% tơ xe; 20% dệt lụa.

• Đưa tổng diện tích dâu đạt 38.000ha, năng suất kén 1.500 kg/ha, sản lượng tơ 6.700 tấn. Trong đó 30% sản lượng tơ sống xuất khẩu; 30% sản lượng tơ xe; 40% sản lượng tơ dệt lụa vào năm 2015.

vào năm 2015.

1.2. Phạm vi nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu chọn tạo các giống ong mật, tằm, dâu có năng suất cao, chất lượng tốt, có sức kháng bệnh tốt, phù hợp với các vùng sinh thái; phát triển công nghệ sản xuất thuốc thú y cho ong, tằm; tăng cường hệ thống khuyến nông và dịch vụ; phân tích và chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng cao; phát triển cây nguồn mật, xúc tiến thương mại và dịch vụ thụ phấn cây trồng. Nghiên cứu công nghệ bảo quản chế biến tơ, kén, dệt lụa. Nghiên cứu các giải pháp kinh tế, tổ chức quản lý, thị trường tiêu thụ sản phẩm và kiểm nghiệm chất lượng.

• Nhóm ong đã thuần hoá: gồm loài ong nội (Apis cerana) và ong ngoại (Apis

1.3. Đối tượng nghiên cứu

• Nhóm ong hoang dã: là các loài ong bản địa ong khoái gồm (Apis dorsata), ong đá (Apis laboriosa), ong ruồi (Apis florea) và ong muỗi (Apis andreniformis) và một số loài ong không ngòi đốt (thuộc giống Trigona).

• Nhóm giống tằm: gồm các giống đa hệ (polyvoltine); giống độc hệ (Univoltine);

mellifera)

• Nhóm giống dâu: gồm các giống đơn bội (haploid), nhị bội (diploid), tam bội

giống lưỡng hệ (multivoltine).

(Triploid), tứ bội (Tetraploid).

2. THỐNG KÊ NGÀNH

2.1. Giới thiệu

2.1.1. Ong

Ở nước ta, nuôi ong nội là một nghề cổ truyền, được hình thành sơ khai từ thế kỷ thứ XIII. Nuôi ong ngoại được đưa vào nước ta vào đầu những năm 60. Ong mật cho

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

54

con người những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, keo ong, sáp ong... Các sản phẩm này được sử dụng làm thực phẩm, thành phần không thể thiểu của nhiều loại thực phẩm, đồ uống, bài thuốc cổ truyền và là nguyên liệu của nhiều sản phẩm mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm của các ngành công nghiệp khác. Trong quá trình thăm hoa, ong mật đã tạo điều kiện thụ phấn chéo cho các loại cây trồng, góp phần tăng năng suất và chất lượng cây trồng, đặc biệt đối với các loại cây trồng cho hạt. Các nhà khoa học ở Hoa Kỳ đã ước tính rằng giá trị mà ong mật mang lại thông qua thụ phấn cho cây trồng gấp 70-140 giá trị của toàn bộ sản phẩm ong. Nuôi ong là một nghề đặc biệt trong ngành nông nghiệp vì không bóc lột tài nguyên thiên nhiên, không cần sử dụng đất đai, tạo công ăn việc làm cho nhiều lứa tuổi và là một trong những công cụ hữu hiệu để xoá đói giảm nghèo cho vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu vùng xa.

2.1.2. Dâu tằm

Tơ tằm là sợi tự nhiên do con tằm (Bombyx Mori L.) ăn lá dâu rồi nhả ra sợi tơ. Sợi tơ tằm và các sản phẩm được chế biến từ tơ tằm có nhiều đặc điểm quý hiếm mà không có loại sợi hoá học nào so sánh được.

Nghề trồng dâu - nuôi tằm – ươm tơ - dệt lụa là ngành sản xuất truyền thống có từ rất lâu đời trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia Châu Á và tơ đã được sx trên 4600 năm. Trong thời kỳ phong kiến, các sản phẩm tơ lụa được coi là những tặng vật thượng hạng làm cống phẩm cho các quốc gia lân cận. Đặc biệt từ khi con đường tơ lụa được thiết lập, người Châu Âu sử dụng các sản phẩm tơ lụa và nhận thấy giá trị của mặt hàng này. Từ đó các sản phẩm tơ lụa ngày càng được coi trọng và phổ biến trồng tại các nước. Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nên cây dâu sinh trưởng quanh năm, tằm có thể nuôi 8 – 10 lứa /năm. Đất trồng dâu chủ yếu là đất bãi, ven sông, suối, đất tận dụng. Quỹ đất có thể trồng dâu nuôi tằm ở nước ta còn nhiều. Cây dâu không tranh chấp đất với các cây trồng khác. Nuôi tằm cho thu nhập nhanh trong vòng 24 – 26 ngày. Thu nhập cao hơn các cây khác. Trước đây người dân nuôi giống tằm đa hệ cổ truyền kén vàng. Giống tằm lưỡng hệ kén trắng, chất lượng cao được đưa vào nước ta từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước.

Nghề trồng dâu, nuôi tằm gồm cả các khâu công nghiệp, thủ công và mỹ nghệ. Trồng dâu là tổng hợp các thao tác của nghề nông. Nuôi tằm là tổng hợp trình độ kỹ thuật cao được tạo nên bởi bàn tay người nông dân. Ươm tơ là ngành công nghiệp có lợi nhuận cao. Khoa học kỹ thuật về ngành dâu tằm tơ là sự hội ngộ của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và nghệ thuật; giữa nền văn hoá lâu đời và nền văn minh hiện đại, giữa cái giàu, cái nghèo và là sự phản ảnh tổng hợp giữa chúng.

Tơ tằm dùng để dệt các sản phẩm có giá trị sử dụng cao như lụa, gấm, vóc, the v.v... Ngoài sản phẩm chính là lụa, các sản phẩm phụ khác cũng được dùng trong một số ngành công nghiệp như gỗ ép, giấy cao cấp, bông nhân tạo. Gần đây các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã chế tạo ra trên 30 loại sản phẩm mới từ những sản phẩm phụ của ngành dâu tằm.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

55

2.2. Đặc điểm và triển vọng

• Từ năm 1985, nghề nuôi ong công nghiệp bắt đầu phát triển, số lượng đàn ong, sản lượng mật đã được tăng lên và đây là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu mật ong.

• Năm 2006, Việt Nam có 678.987 đàn ong, trong đó khoảng 500.000 đàn ong ngoại (Apis mellifera) và 179.987 đàn ong nội (Apis cerana), tăng trên 1,7 lần so với năm 2000.

• Năm 2006, miền Nam sản xuất 85,3% sản lượng mật, trong đó vùng Tây Nguyên nuôi 40% số đàn với năng suất bình quân 46 kg/đàn/năm và chiếm 65% tổng sản lượng mật của cả nước.

• Vùng Đông Nam Bộ đạt năng suất mật trung bình 46 kg/đàn/năm và chiếm 19,3%

2.2.1. Tình hình sản xuất ong

tổng sản lượng mật cả nước.

Cơ cấu sản lượng mật của các vùng sinh thái trong giai đoạn 2001-2006 (%)

Vùng sinh Thái 2005 2006

Cả nước 100,0 100,0

Miền Bắc Đ. B.Sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ 20,3 7,8 5,7 4,4 2,5 14,7 4,9 4,4 3,1 2,3

Miền Nam D.H. miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đ.B. Sông Cửu Long 79,7 0,2 57,7 20,6 1,2 85,3 0,1 64,9 19,4 0,9

• Trong giai đoạn 2001-2006, tốc độ tăng trưởng bình quân là khoảng 20%/năm về tổng đàn, 18%/ năm về tổng sản lượng mật, 29,7%/năm về lượng mật xuất khẩu .

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

• Xuất khẩu bình quân hàng năm tới 86,6% tổng sản lượng mật được sản xuất ra trong

Năm 2002, tổng sản lượng mật ong đạt khoảng 18.148 tấn tăng 248,5% so với với năm 2001 (7.303), đạt kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD.

giai đoạn 2001-2006.

• Thời kỳ trước năm 1986: cả nước có khoảng 5.000 ha dâu, hàng năm sản xuất 1.500 tấn kén tằm, 175 tấn tơ, gần 1 triệu mét lụa. Sản phẩm chủ yếu là tơ và lụa cấp thấp. Chế biến tơ chủ yếu là chế biến tơ cơ khí, xuất khẩu theo Nghị định thư cho các nước Đông Âu và Liên Xô cũ.

• Từ năm 1986 – 1993: Nhà nước chuyển đổi cơ chế hạch toán kinh doanh. Người dân chủ động trong việc sử dụng đất đai, đưa các giống mới có năng suất cao vào sản

2.2.2. Tình hình sản xuất dâu tằm

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

56

• Từ năm 1994 – 1997: đây là thời kỳ khó khăn của ngành. Giá tơ lụa trên thế giới giảm mạnh chỉ còn một nửa so với giá thời kỳ 1989-1991 đã làm cho diện tích dâu giảm trên 50%. Tuy nhiên trong giai đoạn khó khăn này, sản xuất có nhiều tiến bộ, chất lượng tơ được chú trọng, chi phí sản xuất giảm nhiều, thị trường trong nước được mở rộng, các làng nghề truyền thống được khôi phục lại, đồng thời ngành cũng đã mở rộng sản xuất kinh doanh tổng hợp theo hướng khai thác chiều sâu, lợi thế và đi vào sản xuất nhiều mặt hàng đa dạng từ thứ liệu tơ tằm (sợi nái, đũi, thổ cẩm v.v...). Doanh thu hàng năm của toàn ngành 567 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 5 triệu USD/năm.

• Từ năm 1998 - đến nay, thị trường tơ lụa thế giới đang phục hồi dần đã góp phần thúc đẩy sản xuất dâu tằm trong nước phát triển. Đặc biệt thị trường tiêu thụ tơ lụa trong nước đang tăng (khoảng 1,2 – 1,5 triệu mét/năm). Năm 2006, cả nước có 25.050ha.

xuất, áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến nên sản xuất dâu tằm tăng nhanh từ 5.000ha dâu (1986) lên 38.000ha dâu (1993). Kim ngạch xuất khẩu năm cao nhất đạt gần 10 triệu USD.

Diện tích dâu ở các vùng miền giai đoạn 2001 – 2006

Đơn vị tính : ha

Vùng sinh Thái 2001 2006

Trung du, miền núi phía Bắc 1.490 2.150

Đồng bằng Sông Hồng 6.800 7.800

Khu 4 cũ 2.750 3.400

Duyên hải miền Trung 1.593 2.500

Tây Nguyên 7.050 7.500

Đông Nam Bộ 1.500 1.700

Cả nước 21.183 25.050

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

• Mật ong Việt nam được xuất khẩu dưới dạng thô, trong thùng phi có khối lượng 300kg. Năm 1985, giá xuất khẩu rất thấp với 500 USD/tấn, rồi tăng dần lên 650USD, 850 USD/tấn and 1.300 USD/tấn.

2.2.3. Lợi thế so sánh

• Trung quốc là nước xuất khẩu mật ong lớn nhất trên thế giới, xuất khẩu mật của Trung Quốc chiếm 50% thị phần thế giới năm 2002, dẫn tới thị trường mật thế giới thiếu hụt đi khoảng 50.000 tấn mật, đẩy giá mật ong lên rất cao.

Năm 2002, giá mật ong xuất khẩu tăng từ 1.500 USD/tấn đến 2.000 USD /tấn do khan hiếm mật khi Hoa Kỳ phát hiện việc bán phá giá mật ong của Trung quốc và hiện tượng các mẫu mật ong tại thị trường Hoa Kỳ, Canada và châu Âu có chứa dư lượng thuộc kháng sinh Chloramphenicol, chất này bị cấm trong thực phẩm. Vì lý do này mật ong Trung Quốc có dự lượng Chloramphenicol đã bị cấm vận.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Các nước xuất khẩu mật ong chính là Achentina, Chi Lê, Việt Nam và Brazil.

• Giá mật xuất khẩu bình quân của Việt Nam cuối năm 2006 đầu năm 2007 khoảng

57

• Bệnh ong xẩy ra ở nhiều nơi trên thế giới là nguyên nhân chính dẫn đến giá mật ong tăng trong năm 2006. Hoa Kỳ và nhiều nước ở châu Âu bị thiệt hại lớn đối với ngành ong khi có tơi đến 80% tổng đàn của các nước này bị mất do một căn bệnh chưa rõ nguyên nhân được gọi là “Bệnh suy giảm đàn” “Colony Collapse Disorder”.

• Các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng một cơ chế đặc biệt cho phép nhập khẩu đường nguyên liệu cho ngành ong khi giá đường trong nước tăng là nguyên nhân dẫn tới chí phí sản xuất cao. Điều này là nguyên nhân làm giảm lợi thế so sánh của các sản phẩm ong Việt Nam so với các nước khác.

• Trên thị trường xuất khẩu tơ lụa hiện nay, các nước châu Á chiếm một thị phần chủ yếu do có truyền thống sản xuất tơ lụa lâu đời, có kinh nghiệm sản xuất phong phú, khí hậu phù hợp, cộng thêm giá nhân công rẻ nên các vùng khác chưa thể cạnh tranh được với vùng này.

• Nhóm nước sản xuất tơ, lụa chủ yếu để cung ứng cho thị trường Quốc tế là: Trung Quốc, Ấn độ, Braxin, Việt nam chiếm 70 – 80% sản lượng thế giới, nay đang giảm sút khoảng 45% sản lượng so với năm 1994 và khả năng phục hồi trở lại là rất khó. Đặc biệt là Trung Quốc có khối lượng tơ lụa lớn nhất thế giới, nay tốc độ giảm sút lại rất nhanh do công nghiệp hoá đang tăng mạnh.

• Trong khi thị trường xuất khẩu chỉ thuộc về một số nước ở châu Á, Thái bình dương thì thị trường nhập khẩu tơ lụa lại rất rộng lớn, hầu như trải dài khắp thế giới. Các nước phát triển là những nước nhập khẩu nhiều hơn cả mặt hàng này do người tiêu dùng rất chuộng hàng tơ dệt tự nhiên. Thị trường tơ lụa thế giới và khu vực tuy có những biến động về giá cả nhưng chưa bao giờ đáp ứng đủ nhu cầu.

• Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các giống mới được đưa vào nuôi, trồng, các tiến bộ khoa học được áp dụng vào sản xuất đã nâng cao năng suất tơ thô, mang lại lợi nhuận cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Đặc biệt nuôi tằm cho thu nhập nhanh, chỉ từ 24 – 26 ngày. Sản phẩm tơ, lụa Việt Nam được xuất sang nhiều nước như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Thái-lan, Ấn Ðộ, Bangladesh. Một số sản phẩm dệt của ngành đoạt giải "Sao vàng Ðất Việt" và "Cúp vàng APEC năm 2003".

1,400 USD/tấn.

• Chính phủ nói chung và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng cần ban hành các chính sách cụ đặc thù khuyến khích phát triển ngành ong và ngành dâu tằm

• Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cần đề ra các chính sách hỗ trợ phát triển nghề ong và nghề trồng dâu nuôi tằm: qui hoạch phát triển tổng thể ngành, đầu tư, tín dụng, kiểm tra thú y, kiểm dịch sản phẩm và giống ong, tằm nhập khẩu, khuyến nông, khoa học kỹ thuật và công nghệ; phát triển mạnh ngành dệt may trong nước để có những sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

2.3. Chính sách Nhà nước

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Nhà nước đánh thuế nhập khẩu tơ và lụa thành phẩm, không đánh thuế nhập khẩu đối

58

với kén khô và trứng giống tằm.

3. PHÂN TÍCH NGÀNH

3.1. Cấu trúc

3.1.1. Qui mô sản xuất ong

Giống ong sản xuất

• Loài ong nội Apis cerana có khoảng 8 phân loài và 34 dạng sinh thái sinh sống tự nhiên ở châu Á. Hiện nay, ong nội ở nước ta thuộc 2 phân loài là ong Apis cerana cerana và Apis cerana indica.

• Thuận lợi: loài ong này có lợi thế là phù hợp với chăn nuôi qui mô nhỏ, nguồn hoa phân tán và chịu được phổ khí hậu rộng. Chí chí cho sản xuất ong nội thấp, sản phẩm được người tiêu dùng nội địa yếu thích và chống chịu tốt đối với ve ký sinh.

• Khó khăn: tính tụ đàn thấp, dễ bốc nay chia đàn, năng suất mật thấp, khó quản lý và

Nhóm ong đã được thuần hoá gồm loài ong A. cerana và A. mellifera

• Loài ong ngoại Apis mellifera có 26 phân loài và dạng sinh thái sống và được nuôi ở nhiều vùng trái đất từ ôn đới tới nhiệt đới. Ong ngoại được nhập vào Việt Nam từ những năm 1960. Từ đó đến nay, 6 phân loài ong A. mellifera đã được nhập vào nước ta là A. m. ligustica, A. m. carnica, A. mellifera, A. m. mellifera, A.m. carpatic và A. m. caucasica từ châu Âu, Cuba và New Zealand.

• Sau 47 năm được nuôi ở nước ta chủng ong này đã thể hiện sự thoái hoá giống nhất định vì vậy cần có một chương trình chọn tạo giống mang tầm quốc gia để cải thiện phẩm giống của ong ngoại tại Việt Nam.

• Thuận lợi: ong ngoại phù hợp với chăn nuôi công nghiệp, có nguồn hoa tập trung và

tốn lao động.

• Khó khăn: Chống chịu kém với ve ký sinh, phổ thích nghi nhiệt độ hẹp, đầu tư cao

dồi dào, cho năng suất cao, dễ quản lý và dễ khai thác.

và lâu dài.

• Thường nuôi ong ngoại, với tổng đàn từ 150 đến 3.000 đàn. • Hình thức nuôi ong này phát triển phổ biến nhất ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam

Nuôi ong chuyên nghiệp

Bộ. Một số trại ong có qui mô sản xuất tới hàng ngàn đàn ong. Một số trại ong lớn đã trở thành chủ doanh nghiệp kinh doanh sản xuất, xuất khẩu và làm dịch vụ tất cả các sản phẩm ong, vật tư ong và trang thiết bị ong. Những doanh nghiệp này sản xuất mỗi năm hàng trăm tấn mật và hàng chục tấn sữa chúa.

• Qui mô từ 50-149 đàn ong/chủ trại. Họ tự quay mật và có các sản phẩm chính là mật

Nuôi ong bán chuyên nghiệp

ong, đàn ong giống và sáp ong.

Nuôi ong gia đình: Nuôi từ 10 đến 49 đàn/hộ; thường nuôi ong nội; sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình, hoặc được tiêu thụ này tại địa phương

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

59

• Có qui mô dưới 10 đàn

Nuôi ong theo sở thích

• Miền Bắc có một số nguồn mật chính có giá trị kinh tế cao bao gồm nhãn, vải, táo và mật rừng như mật càng cua và mật cỏ lào. Trong số các loại mật này thì mật nhãn và mật càng cua cho năng suất cao, chất lượng tốt, giá cao và được người tiêu dùng ưu thích. Hàng năm ngành ong có thể sản xuất khoảng 3.000 tấn mật từ các loại cây nguồn mật trên và được bán với giá cao trên thị trường nội địa. Các loại mật này không đủ để tiêu dùng trong nước.

• Vùng Tây Nguyên chủ yếu sản xuất mật cao su và cà phê. Các loại mật này có sản lượng cao nhưng chất lượng, mùi vị bình thường và được xuất khẩu tới 95%. Vùng này có tiềm năng sản xuất từ 10.000 đến 15.000 tấn mật/năm, phù hợp với nuôi ong công nghiệp để xuất khẩu.

• Mỗi năm vùng Đông Nam Bộ sản xuất khoảng 5.000 tấn mật từ 3 cây nguồn mật chính là mật cao su, điều và chôm chôm và các loại mật này chủ yếu để xuất khẩu.

Cây nguồn mật • Cây nguồn mật chính ở Việt Nam gồm cao su, cà phê, nhãn, vải, chôm chôm và các cây khác. Hiện nay nước ta chưa có qui hoạch tổng thể chính thức cho nghề ong; ngành ong phát triển dựa trên một số cây nguồn mật chính.

Các nguồn mật chính ở Việt Nam năm 2005 (sắp xếp theo tầm quan trọng)

Tên tiếng Việt

Tên Latin

Tên tiếng Anh

Vùng trồng

Thời vụ nở hoa

Diện tích (ha)

Khả năng cho mật/phấn

Rubber

Cao su

N + T

511.900

T2-T4

+++/+

Coffee

Cà phê

B+ T+N

488.700

T11-T1

++/++

Longan

Nhãn

B +T+N

111.900

T3-T6

+++/+

Hevea brasillensis Coffea robusta, arabica Euphoria longana

B +T+N

Eucalyptus

T5-T6, T4, T8-T9, T4.

Bạch đàn liễu, Bạch đàn trắng, Bạch đàn đỏ, Bạch đàn chanh

E.exserta, E. camadulensis E. robusta E. citriodora

+++/++, ++/++, ++/++, ++/++,

Jujube

Táo

T8-T10

B + N

+++/+

Litchi

Vải

B

22.000

T2 – T4.

+++/+

Rambutan

Chôm chôm

N

23.300

T3-T5

+++/+

Belbowrie

Tràm

B + N

T1-T4

+

Dừa Cây cúc cao (càng cua)

N B + T

132.100

cả năm cả năm

++/+ +/+

Cỏ Lào

B

T12-T1

++/+

Coconut White Snake Root

Ziziphus mauritiana Lichi sp. Nephellum lappaceum Melaleuca leucadenedron Cocus nucifera L. Bidens pilosa Eupatotium ordoratum

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và phát triển ong; Mật/phấn: +++ = cao, ++ = trung bình, + = ít; Vùng : N = Bắc, C=Trung, S = Nam

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

60

3.1.2. Qui mô sản xuất dâu tằm

• Ở nước ta, các nhà khoa học đã thu thập, lai tạo, chọn lọc được gần 200 giống dâu phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau. Năng suất lá dâu vùng nhiệt đới, nếu thâm canh tốt có thể đạt 50 tấn/ha. Hiện nay trên các cao nguyên, những nương dâu năng suất cao đạt 15 tấn/ha, ở đồng bằng bình quân khoảng 20 tấn/ha. Các giống dâu có thể chia thành bốn nhóm như sau :

• Nhóm giống dâu địa phương: Gồm 135 giống, là những giống dâu đã được trồng ở các địa phương từ rất lâu như : Dâu bầu, Hà Bắc, Quang Biểu, dâu đa, dâu gỗ…Các giống này có ưu điểm sinh trưởng khoẻ, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá, nhưng năng suất lá thấp, lá nhỏ, mỏng, hái dai, nhiều hoa quả. Nhóm giống dâu này phù hợp cho vùng khó khăn, đất nghèo dinh dưỡng.

• Nhóm giống dâu tam bội thể trồng bằng hom: 6 giống dâu lai do Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ TW nghiên cứu, lai tạo chọn lọc từ năm 1971, gồm có: tam bội thể số 7, số 12, số 11, số 28, số 35 và số 36. Ưu điểm lá to, dầy, sinh trưởng khoẻ. Năng suất lá đạt >35 tấn/ha/năm, chất lượng lá tôt (Hàm lượng Protein trong lá đạt 21 - 22%). Nhược điểm: do nhân giống bằng hom nên khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất lợi như chịu hạn, úng, mở rộng nhanh diện tích bị hạn chế. Nhóm giống dâu này phù hợp cho vùng đất bãi ven sông, vùng đất thâm canh cao ở vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc.

• Nhóm các giống dâu lai trồng hạt : là các giống dâu lai F1 trồng hạt, do Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ TW nghiên cứu, chọn tạo từ năm 1996 như: Dâu Lai F1-VH9, Dâu lai F1-VH13, phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung. Ưu điểm: Thời vụ trồng quanh năm, hệ số nhân giống cao (1kg hạt có thể trồng 4 – 5 ha), thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhiệm kỳ kinh tế dài hơn trồng hom, chống chịu sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất lợi như hạn, úng khá. Lá to, dày, mềm và bóng, năng suất lá 35 – 40 tấn/ ha/ năm, chất lượng lá tốt (Protein trong lá 22-23%). Nhược điểm: Do nhân giống bằng hạt nên phải qua giai đoạn trong vườn ươm (50 - 60 ngày). Nhóm giống dâu này phù hợp với vùng đất bãi ven sông, ven biển, đất đồi, vùng đất khó khăn nghèo dinh dưỡng ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung.

• Nhóm các giống dâu nhập nội : Chủ yếu là các giống nhập từ Trung Quốc như: Sha nhị luân, Hà số 7, Quế ưu, QĐ5. Các giống dâu trên đều nhập qua đường tiểu ngạch, chưa qua khảo nghiệm chính thức tại Việt Nam. Ưu điểm: Nhìn chung các giống dâu nhập từ Trung Quốc là những giống sinh trưởng khoẻ, lá to, năng suất lá khá (35 tấn/ha). Nhược điểm: Nhìn chung các giống dâu lai của Trung quốc hiện trồng ở Việt Nam không thuần, phân ly nhiều. Với giống Sha nhị luân lá mỏng, nháp, nhiễm bệnh bạc thau, rỉ sắt cao. Còn với giống Hà số 7 nẩy mầm vụ xuân rất muộn (từ 10 – 20/4), sâu đục thân phá hoại nhiều.

Giống dâu

• Theo tính hệ, giống tằm có 3 loại: tằm đa hệ, tằm lưỡng hệ và tằm độc hệ. • Giống tằm độc, lưỡng hệ có nguồn gốc ở vùng ôn đới, một năm thường chỉ nuôi được một, hai lứa. Tằm cho kén trắng, năng suất kén cao, chất lượng tơ tốt, giá bán và hiệu quả kinh tế cao, nhưng sức đề kháng tương đối kém, nuôi ở vùng nhiệt đới rất khó khăn. Ở nước ta, tằm lưỡng hệ thường được nuôi vào vụ Xuân và vụ Thu lúc thời tiết mát mẻ dễ nuôi. Hiện tại đang nuôi giữ 65 giống tằm nguyên chủng.

Giống tằm

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Giống tằm đa hệ là giống địa phương cổ truyền, vốn ở vùng nhiệt đới, một năm nuôi được nhiều lứa. Tằm cho kén vàng với sản lượng tơ thấp, chất lượng tơ kém, giá thấp, hiệu quả kinh tế kém, nhưng sức đề kháng mạnh nên thường được nuôi vào thời kỳ nóng ẩm (vụ hè) và vùng dâu tằm mà người dân có trình độ chăn tằm còn yếu. Tập đoàn đa hệ hiện đang nuôi giữ 20 giống nguyên chủng.

• Trên thực tế, các giống tằm nuôi trong sản xuất là các giống tằm lai nhị, lai tam hoặc tứ nguyên. Các giống tằm lưỡng hệ kén trắng của Việt nam phổ biến hiện nay là các giống tứ nguyên 1827, 6218, giống B42, B46. Các giống nhập của Trung quốc là Lưỡng quảng số 2 (cặp đầu 7 và cặp đầu 9). Các giống tằm lưỡng hệ sản xuất trong nước khá tốt, các chỉ tiêu kỹ thuật về sức sống cao hơn giống ngoại nhập, thấp hơn về các chỉ tiêu chất lượng tơ kén và mới chỉ chiếm khoảng 30% thị phần giống lưỡng hệ đang được sử dụng. Giống kén vàng chủ yếu hiện nay là đa hệ lai lưỡng hệ : VCxTQ hoặc VKxTQ.

• Sau hơn 40 năm được nuôi ở nước ta, các giống tằm lưỡng hệ, độc hệ có nguồn gốc ôn đới chất lượng tơ kén cao đã thể hiện sự thoái hoá nhất định, hơn nữa kén của các giống tằm Việt nam đưa vào ươm tơ có tỷ lệ tiêu hao quá lớn từ 9,5-11 kg kén mới được 1 kg tơ đã làm cho khâu chế biến tơ không còn có hiệu quả, vì vậy cần có một chương trình chọn tạo giống mang tầm quốc gia để cải thiện phẩm chất giống tằm tại Việt Nam.

• Trồng dâu, nuôi tằm: Hiện nay cả nước có 25.050ha dâu. Toàn bộ công việc trồng dâu, nuôi tằm kinh doanh được các hộ gia đình nông dân thực hiện. Quy mô sản xuất trung bình mỗi hộ 3-5 sào dâu. Ở nước ta, cũng như các nước khác, không có mô hình nuôi tằm tập trung kiểu các trang trại quy mô lớn. Việc nuôi tằm tập trung chỉ thực hiện đối với tằm con, khi tằm lớn (tuổi 4, 5) phân phát cho các hộ gia đình nông dân nuôi. Mô hình này là phương thức sản xuất tiên tiến hiện nay, đã được áp dụng ở một số nơi nhưng với quy mô chưa lớn lắm.

61

• Cả nước hiện có 5 đơn vị sản xuất trứng giống tằm dâu và một đơn vị sản xuất trứng tằm sắn. Sản lượng giống tằm mới đạt được 120 ngàn hộp/năm. Sản xuất trứng giống tằm chia làm ba cấp: giống gốc, giống cấp 1 và giống cấp 2 (thương phẩm). Do yêu cầu kỹ thuật của các giống nên tổ chức sản xuất có khác nhau: Giống gốc do các cơ sở nghiên cứu đảm nhiệm; giống cấp 1 do doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tổng công ty dâu tằm tơ Việt nam đảm nhiệm hoàn toàn; giống cấp 2 do doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác có đủ điều kiện kỹ thuật cùng làm.

Sản xuất giống tằm

• Hiện có 11 cơ sở ươm tơ thuộc Tổng công ty dâu tằm tơ Việt nam, 8 cơ sở thuộc các địa phương và hàng trăm cơ sở tư nhân với tổng công suất 1.597 tấn tơ/năm. Trong đó Tổng công ty có công suất 800 tấn/năm (450 tấn/năm ươm tự động); các địa phương và các thành phần khác có công suất ươm tơ cơ khí 797 tấn/năm. Tơ từ cấp A đến 5A chiếm khoảng 600 tấn/năm. 1000 tấn/năm còn lại chỉ đạt cấp B – E bán giá rẻ, tiêu thụ hạn chế.

Ươm tơ

• Công nghiệp dệt toàn ngành hiện nay đạt 5,5 triệu mét lụa mộc/năm. Trong đó Tổng công ty chiếm 1 triệu mét/năm, còn lại là các làng nghề và các cơ sở của các thành

Dệt lụa, nhuộm, in hoa và may mặc

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

62

• Cơ sở chuội, nhuộm in hoa 1,5 triệu mét/năm, trong đó Công ty Vikotex có công suất 1,2 triệu mét/năm và một xưởng chuội, nhuộm nhỏ của Tổng công ty công suất 0,3 triệu mét/năm.

• Công nghiệp may từ lụa tơ tằm mới được đầu tư, quy mô còn nhỏ. Mặc dù là công

phần kinh tế. Trình độ công nghệ dệt ở mức trung bình và thấp. Cơ cấu sản phẩm chủ yếu là dệt thoi, dệt Jarquard, dệt kim.

đoạn có hiệu quả nhưng đầu tư chưa tương xứng nên chưa phát huy được.

3.2 Thị trường

• Trong giai đoạn 2001-2006, tỉ lệ mật ong xuất khẩu đạt 76% tổng sản lượng mật.

• Xuất khẩu các sản phẩm ong là một động lực quan trọng đối với phát triển của ngành ong trong giai đoạn 2001-2006. Khoảng 24% tổng sản lượng mật ở nước ta được tiêu dùng trong nước.

• Mật ong là sản phẩm vật nuôi duy nhất được Cộng đồng châu Âu cấp hạn ngạch nhập khẩu mật vào thị trường EU từ năm 2001. Xuất khẩu mật ong chủ yếu do các công ty tư nhân thực hiện.

3.2.1. Ong

Tình hình sản xuất và xuất khẩu mật ong giai đoạn 2001 - 2006

Năm Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005 2006 TTTB (%/năm )

Đàn ong đàn 19,9 277.25 1 386.33 5 592.22 2 672.35 2 689.50 8 678.98 7

Số người nuôi ong 20,0 26,0 26,0 24,0 22,0 22,4 2,3 1.000n gười

tấn Sản lượng mật ong 7.303 18.148 12.758 10.701 13.591 16.747 18,06

Xuất khẩu tấn 4.000 14.000 13.200 12.000 11.500 14.700 29.7

4,7 20,0 25,0 13,3 10,4 20 33,5 Kim ngạch xuất khẩu triệu USD

kg 26,7 46,9 21,5 15,9 19,7 24,6 -1,55 Năng suất TB/đàn/năm

% Tỷ lệ mật xuất khẩu 54,8 77,1 103,5 112,1 84,6 87,8 9,89

Giá mật XK (1kg) USD 1,18 1,43 1,89 1,11 0,9 1,36 2,98

• Thị trường xuất khẩu chính cho các sản phẩm ong của Việt Nam là Hoa Kỳ, Đức,

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

• Việt Nam trở thành nước xuất khẩu mật ong lớn nhất vào thị trường Hoa Kỳ năm 2002, khoảng 12.485 tấn (theo Thống kê của Mỹ). Từ năm 1984 đến 1997 thị trường chủ yếu là các nước trong Cộng đồng Châu Âu như Đức, Hà Lan, Pháp và Nhật bản.

Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Nhật Bản, Astralia và một số nước châu Á khác.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực (năm 2001), kim ngạch xuất khẩu năm 2002 tăng 4 lần so với năm 1999. Năm 2002, Việt Nam không chỉ xuất khẩu mật ong, sáp ong, sữa ong chúa mà còn xuất khẩu chúa giống và dụng cụ nuôi ong sang Lào.

• Thị trường tiêu thụ mật ong nội địa còn thấp, bình quân khoảng 35g/người/ năm. Nhưng tiềm năng lớn của thị trường tiêu dùng nội địa đối với các sản phẩm ong còn chưa được quan tâm đúng mức.

63

• Ngành dâu tằm tơ Việt Nam sau nhiều năm hoạt động đã sớm đưa sản phẩm trở thành hàng hoá, hoà nhập với thị trường tơ lụa thế giới. Hiện nay tổng giá trị hàng hoá của toàn ngành ước đạt 600 tỷ đồng. Trong đó giá trị xuất khẩu đạt 26 triệu USD. Thị trường tơ cấp cao, thứ liệu tơ tằm chủ yếu là Nhật bản, một số khách hàng châu Âu. Thị trường sản phẩm tơ cấp trung bình và lụa chủ yếu là Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore. Thị trường tơ cấp thấp chủ yếu là Lào, Thái Lan, Ấn độ, Bangladesh... Ngoài ra còn một số lượng sản phẩm may, thêu khác được tiêu thụ cho nhiều nơi nhưng với khối lượng ít.

• Thị trường tiêu dùng các sản phẩm tơ lụa trong nước tăng nhanh hàng năm. Năm 1997 lụa tơ tằm tiêu thụ trong nước mới có 150.000 mét/năm, giai đoạn 2001 –2006 không ngừng tăng lên, tiêu thụ khoảng 1,2 – 1,5 triệu mét/năm.

• Những khó khăn, hạn chế đối với thị trường sản phẩm tơ lụa Việt nam là : mặt hàng tơ lụa chưa phong phú, chất lượng chưa ổn định, giá bán cạnh tranh kém so với sản phẩm cùng cấp loại của Trung quốc và một số nước do giá thành sản xuất của ta còn khá cao.

3.2.2. Dâu tằm

Tình hình sản xuất và xuất khẩu tơ lụa 2001 – 2006

Năm Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2006 TTTB (%)

21.183 25.050 ha 3,65 Diện tích dâu

kg/ha 800 900 2,5 Năng suất kén

kg 9 8,5 Tiêu hao kén/1kg tơ

tấn 1.883 2.652 8,2 Sản lượng tơ

tấn 1.035 1.450 8,0 Tơ sống xuất khẩu

tấn 566 710 5,0 Tơ xe

tấn 282 492 14,9 Dệt lụa

20 26 Giá trị xuất khẩu triệu USD

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

64

3.3. Tiềm năng sản xuất và những vấn đề quan trọng về thị trường (2010-2015)

• Hàng năm, Việt Nam có tiềm năng sản xuất tới 35.000-40.000 tấn mật ong, 30-35 tấn

Ong

• Nhu cầu sử dụng mật ong và các sản phẩm ong như là một loại thực phẩm bổ dưỡng

sữa ong chúa và 700 tấn sáp ong.

• Nhu cầu tiêu thụ chất ngọt tự nghiên và các sản phẩm ong khác có các hoạt chất sinh

ở các nước đang phát triển tăng.

• Tiêu dùng mật trong chế biến thực phẩm cao cấp tăng nhanh.

• Sản xuất, tiêu thụ mật ong và các sản phẩm ong hữu cơ tăng. Đa dạng hoá sản phẩm cần tập trung vào sản xuất các sản phẩm gia tăng giá trị như ong giống, mật ong đặc sản, thực phẩm bổ dưỡng.

học ngày càng tăng do nhận thức của cộng đồng và do thu nhập tăng.

• Nhu cầu sử dụng các sản phẩm tơ lụa cao cấp ở các nước phát triển trên thế giới không ngừng tăng cao. Theo dự báo của các cơ quan, tổ chức quốc tế như FAO, ESCAP... thì nhu cầu tơ tằm của toàn thế giới hiện nay ngày càng cao trong khi đó sản xuất chưa đáp ứng được.

• Hiện nay Việt nam cung cấp cho thị trường 2.652 tấn tơ/năm và trong những năm tới có tiềm năng sản xuất tới 3.200 tấn tơ các loại. Sản xuất, tiêu thụ tơ lụa cần đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất các sản phẩm gia tăng giá trị như tơ lụa cao cấp, các sản phẩm tơ lụa truyền thống phục vụ du lịch và xuất khẩu, các sản phẩm may mặc cao cấp.

• Vì tỷ trọng xuất khẩu vẫn chiếm ưu thế cho nên phải củng cố và khai thác có hiệu quả thị trường đã có. Tập trung chỉ đạo sản xuất để đảm bảo cung ứng hàng năm khoảng 450 – 500 tấn tơ xe cho thị trường Nhật Bản. Nối lại việc tiêu thu tơ cao cấp cho thị trường Pháp và Italia. Mở rộng thêm thị trường Mỹ và Bắc Âu khi có điều kiện.

• Đối với thị trường tơ lụa cấp trung bình gồm: Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore ...

Dâu tằm

• Thị trường truyền thống tiêu thụ tơ và lụa cấp thấp như Ấn độ, Lào, Thái Lan,

nhu cầu tơ lụa có thể tiêu thụ được khoảng 200 tấn/năm

• Vấn đề cần lưu tâm nhất về thị trường trong giai đoạn 2010-2015 là thị trường tiêu thụ nội địa. Trong khoảng vài năm gần đây nhu cầu tiêu thụ nội địa đã tăng lên hơn 10 lần. Sự tăng trưởng nhanh về nhu cầu lụa tơ tằm ở thị trường nội địa do một số nguyên nhân chủ yếu : đời sống nhân dân không ngừng tăng lên, chất lượng tơ lụa được cải thiện và nhu cầu khách nước ngoài ở Việt nam nhiều hơn. Có thể nói, với hơn 80 triệu người, Việt nam sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ tơ lụa nội địa rất lớn mà chiến lược phát triển sản xuất dâu tằm tơ của đất nước cần phải được chú trọng và định hướng.

Campuchia, Bangladesh... mỗi năm nhu cầu cung ứng khoảng 1.500 tấn.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

65

4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (R&D)

4.1. Lĩnh vực nghiên cứu chính

• Giống ong chất lượng cao, đi sâu nghiên cứu giống ong hướng mật và hướng sữa chất lượng cao; các giống ong phù hợp với vùng sinh thái; giống ong chuyên thụ phấn cây trồng trong nhà kính (ong mật, ong nghệ, ong không ngòi đốt).

• Bệnh ong và địch hại ong.

• Sản phẩm cao cấp, sản phẩm dinh dưỡng, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ ong;

4.1.1. Ong

• Chất lượng và kiểm soát tồn dư sản phẩm ong.

• Thức ăn nhân tạo cho ong.

• Cây nguồn mật.

• Thụ phấn cây trồng.

chế biến sản phẩm ong.

• Nghiên cứu chọn tạo giống, sâu bệnh hại, kỹ thuật thâm canh dâu

• Nghiên cứu chọn tạo giống tằm

• Nghiên cứu kỹ thuật nuôi tằm, kỹ thuật nhân giống

• Nghiên cứu bệnh hại tằm và các giải pháp phòng chống

• Nghiên cứu công nghệ bảo quản, chế biến tơ, kén, dệt lụa, chế biến sản phẩm phụ.

• Kiểm nghiệm chất lượng tơ, kén

• Nghiên cứu kinh tế và thị trường dâu tằm tơ

4.1.2. Dâu tằm

4.2. Những cơ quan nghiên cứu chính

• Trung tâm Nghiên cứu và phát triển ong: Trung tâm này có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ và kỹ sư. Trung tâm Nghiên cứu Ong là đơn vị nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và đạo tạo có uy tín trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, từ khi Trung tâm này đã được sát nhập lại vào Công ty Ong TW và sau khi cố phần hoá, Trung tâm gặp khó khăn về kinh phí có hạn để duy trì hoạt động nghiên cứu, khuyến nông và đào tạo.

• Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ: Trung tâm có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ và kỹ sư. Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ là đơn vị nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và đạo tạo có uy tín trong nước và quốc tế.

• Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm nông nghiệp Lâm đồng

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

• Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội. • Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) • Đại học Nông Lâm Thủ Đức ( Thành phố Hồ Chí Minh). • Đại học Tây Nguyên (khu vực Tây Nguyên)

Trường đại học

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Đại học Nông nghiệp Cần Thơ (Vùng Đồng bằng sông Cửu Long)

66

• Các cơ quan tại địa phương: Sở NN và PTNT, Sở Khoa học và công nghệ, Trung tâm

Các cơ quan khác

• Chưa có tổ chức tư nhân nào tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu ong, dâu tằm. • Các đối tác hợp tác chính: APIMONDIA, CIDSE, UNICEF, FAO, UNDP, Nhật Bản, Hà Lan, Israel, Đức, Úc..., các tổ chức phi chính phủ GTZ, KWT và Hiệp hội Nguời tiêu dùng VN.

khuyến nông tỉnh, Hội ong Việt Nam, Hội dâu tằm.

• Sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả của ngành ong Việt Nam đã được Hội nuôi ong Thế giới (APIMONDIA) quan tâm và công nhận. Hội nuôi ong Việt Nam đã trở thành một thành viên tích cực trong số 58 thành viên của Hội nuôi ong Thế giới.

• Năm 1996, dưới sự chỉ đạo của Bộ NN&PTNN, Công ty Ong TW và Hội ong Việt Nam đâ đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 3 của Hội ong châu á (AAA) tại Hà Nội với trên 400 đại biểu là cac nhà nghiên cứu khoa học, kinh doanh, tổ chức phi chính phủ và ngoại giao từ 26 quốc gia trên Thế giới.

• Hỗ trợ phát triển: Trung tâm nghiên cứu ong cũng cử các chuyên gia sang giúp Nepal phát triển nuôi ong. Tập huấn kỹ thuật ong cho 5 học viên của Ấn Độ và 3 của Nepal tại Việt Nam. Trung tâm cũng nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như APIMONDIA, CIDSE, UNICEF Nhật Bản, các đại sư quán Israel, Niu Di Lân, các tổ chức phi chính phủ như GTZ, UNICEF Nhật Bản, DED, WWF....để đào tạo cán bộ khuyến nông ong và phát triển ong nhân dân tại nhiều địa phương như Gia Lai, Quảng Bình, Lai Châu, Sơn La, Bến Tre,Bình Trị Thiên, Huế… Cộng đồng quốc tế cũng giúp Trung tâm đào tạo Cử thạc sĩ, tiến sĩ tại Australia, Hà Lan, Đức và Nhật Bản.

• Ngành ong cũng đã hợp tác với Nhật Bản đào tạo kỹ thuật sản xuất sữa chúa, hợp tác với Israel tập huấn kỹ thuật nuôi ong hiện đại, hợp tác với Thuỵ Sĩ tập huấn sản xuất mật ong sạch...

• Từ năm 1985, UNDP, FAO và uỷ ban khoa học nhà nước Liên xô đã có các chương trình giúp đỡ ngành dâu tằm Việt nam như cử chuyên gia giúp Việt nam các phương pháp lai tạo giống dâu, giống tằm mới, viện trợ trang thiết bị, cử cán bộ khảo sát học tập và tìm kiếm thị trường, bạn hàng.

• Năm 1992, Ngành dâu tằm Việt nam gia nhập Hội tơ tằm quốc tế và trở thành thành viên quốc gia thứ 17 của Hội. Năm 1995 được uỷ ban giải thưởng thương mại quốc tế tại Tây Ban Nha tặng thưởng cúp vàng “Uy tín thương mại quốc tế” về chất lượng tơ lụa và và dịch vụ xuất khẩu.

Hợp tác quốc tế

• Tổng kinh phí cho nghiên cứu đối với toàn ngành ong khoảng 2 tỷ đồng (tương

4.3. Kinh phí

• Tổng kinh phí cho nghiên cứu đối với toàn ngành dâu tằm khoảng 3 tỷ đồng (tương

đương 125.000 USD).

đương 185.000 USD).

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

67

• Nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp điều trị ve ký sinh Varroa ở ong

4.4. Các thành tựu đã đạt được

• Chọn tạo nhân giống được các giống ong có năng suất cao nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo cho chúa ong ngoại, nhập khẩu các giống ong chúa và tạo ra các tổ hợp lai có năng suất cao. Các dòng ong lai có năng suất cao hơn so với các dòng ong hiện có.

• Trung tâm Nghiên cứu và phát triển ong đã chủ động thử nghiệm đưa các ong chúa lai nhờ thụ tinh nhân tạo đến nuôi ở một số tỉnh và vùng sinh thái như Lâm Đồng và Gia Lai trong vụ mật cao su năm 2003. Kết quả thử nghiệm cho thấy các đàn ong có chúa lai cho năng suất mật cao hơn hẳn các đàn ong đối chứng.

• Thông qua chương trình khuyến nông của Bộ NN-PTNT, của các tỉnh và của các tổ chức quốc tế, 60 lớp học với trên 3.500 học viên đã được đào tạo về chuyển giao kỹ thuật nuôi ong trên cả nước.

• Lai tạo chọn lọc được 7 giống dâu có năng suất, chất lượng cao. Trong đó có 5 giống tam bội trồng bằng hom : Số.7 (HC bạc); Số 11 (bông lúa vàng); Số 12 (HC vàng); Số 28; Số 36 và 2 giống dâu lai F1 trồng bằng hạt: VH9 (giải 3 VIFOTEX); VH13 (Cúp vàng NN).

• Lai tạo chọn lọc 15 giống tằm chất lượng cao: 3 giống tằm vụ hè 4792; BL (HC vàng); A7 ; 1 cặp lai kén vàng ĐSK x TQ; 10 giống tằm lưỡng hệ XV; LNB, NC (HC vàng); N12; N16 (bông lúa vàng); J71; B42; B46; Đ2; E38 và 1 giống tằm tứ nguyên TN1827. Năng suất 14 – 16 kg/vòng trứng, trên 1500 kg kén/ha, chất lượng ươm tơ cấp 2A trở lên.

• Nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ như: xác định cơ cấu giống dâu, giống tằm, công nghệ nhân giống dâu F1 trồng hạt, bón phân phối hợp N-P-K, phòng trừ bệnh tổng hợp, nuôi tằm 2 giai đoạn ...đưa năng suất kén đạt 1,5-2 tấn kén/ha.

• Nghiên cứu qui luật phát sinh phát triển của bệnh, mức độ gây hại với các hệ giống tằm. Xác định được thuốc KS4; KS12 có tác dụng phòng và trị bệnh vi khuẩn, hạn chế bệnh virus và một số bệnh khác. Xây dựng quy trình ướp lạnh trứng tằm ngắn, dài ngày, quy trình bảo quản kén, công nghệ ươm tơ cơ khí và tự động đạt tiêu chuẩn 2A.

• Thông qua chương trình khuyến nông của Bộ NN-PTNT, của các tỉnh và của các tổ chức quốc tế, 60 lớp học với trên 3.500 học viên đã được đào tạo về chuyển giao kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm trên cả nước.

ngoại và điều trị bệnh thối ấu trùng túi Sacbrood ở ong nội trong 10 năm qua.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

68

5. PH(cid:31)N T(cid:31)CH SWOT

• Chi phí ban đầu để thiết lập nghề nuôi ong, tằm

Những điểm mạnh • Tạo cơ hội lựa chọn phù hợp cho nông dân không có đất canh tác hoặc có ít đất canh tác. Những điểm yếu • Chưa có qui hoạch và định hướng phát triển tổng thể ngành ong, dâu tằm trong cả nước.

• Mức độ đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm ong để có giá trị kinh tế cao hơn còn thấp.

• Có nguồn mật tự nhiên và nông nghiệp phong phù, đa dạng và thời gian tiết mật dài; Điều kiện khí hậu thuận tiện cho phát triển trồng dâu, nuôi tằm.

• Thiếu cán bộ thú y chuyên chuyên về ong,

bán chuyên nghiệp không cao.

• Có truyền thống nuôi ong mật, trồng dâu nuôi tằm

tằm.

• Thiếu đối ngũ kỹ thuật có tay nghề và trang thiết bị hiện đại để kiểm soát chất lượng và chất tồn dư.

• Có nhiều giống ong mật, dâu tằm và các loài này có tính đa dang di truyền cao là vật liệu tốt cho chọn lọc và nhân giống.

• Mạng lưới dịch vụ phục vụ sản xuất như giống, vật tư công cụ sản xuất thức ăn, thú y còn yếu kém.

• Công tác tăng cường xúc tiến thương mại

lâu đời.

• Thuế xuất nhập khẩu giảm sau khi gia nhập WTO. • Thị trường xuất khẩu sản phẩm ong, tằm đã được xây dựng tốt và ngày càng mở rộng cho thị trường cho các sản phẩm ong, tằm khác.

• Thị trường nội địa có tiềm năng tăng nhanh mặc dù tiêu dùng mật ong, lụa tơ tằm tính trên đầu người còn tương đối thấp.

• Giá đường nguyên liệu cho ngành cao dẫn đến chi phí sx cao, giảm tình cạnh tranh. • Nông dân chưa nhận thấy hết được vai trò

cho và sản phẩm của ngành còn yếu.

• Mật ong chưa được coi là thực phẩm, tiêu

của ong trong thụ phấn cây trồng.

• Có truyền thống xuất khẩu lâu đời. • Có tiềm năng sản xuất các sản phẩm lớn. • Người chăn nuôi, chế biến và xuất khẩu có kinh

dùng mật tính theo đầu người quá thấp.

• Chỉ có một số nhà sản xuất gắn liền với xuất khẩu chú ý tới thực hành tốt trong nuôi ong, an toàn thực phẩm và xây dựng tiêu chuẩn chất lượng.

• Người chăn nuôi có thể nhanh chóng tiếp cận với công nghệ mới, giống mới để cho năng suất cao hơn

• Chất lượng sản phẩm xuất khẩu thấp dẫn

• Có hạ tầng cơ sở cho chế biến các sản phẩm xuất

nghiệm trên thương trường.

• Sản phẩm Việt Nam đã có vị trí nhất định trên thị

đến giá xuất khẩu thấp. khẩu tương đối hiện đại.

• Chất lượng sản phẩm ong tương đối thấp do các hộ nuôi ong chưa sử dụng phương pháp chế biến hiện đại.

• Điều kiện khí hậu thuận tiện cho phát triển nuôi

trường thế giới.

• Chưa xây dựng được nhãn hiệu và thương hiệu đối với các sản phẩm ong trên thị trường quốc tế.

• Tăng thu nhập và lợi nhuận cho nông dân. • Nhiều thành tựu khoa học được chuyển giao thành

ong, trồng dâu nuôi tằm.

• Đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng cho chế biến và thị

• Phối hợp chưa tốt giữa nhà quản lý, các công ty, các nhà sản xuất và giữa các viện nghiên cứu trong Bộ.

công trong sản xuất.

• Hệ thống chuyển giao công nghệ vào sản

• Ngành ong, ngành dâu tằm phát triển tạo nhiều

trường xuất khẩu.

• Chí phí lao động thấp cũng làm tăng giá trị cạnh

xuất yếu. công ăn việc làm.

• Hệ thống sản xuất trứng giống cấp 2 chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất. Thiếu đội ngũ kỹ thuật có tay nghề và trang thiết bị để kiểm soát dịch bệnh

• Giảm thuế sau khi ra nhập AFTA và WTO (Thuế xuất khẩu mật ong tại thời điểm ra nhập WTO là 10%).

tranh.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

69

• Canh tranh với các sản phẩm nông nghiệp rẻ hơn và chất lượng cao hơn trên thị trường xuất khẩu và nội địa.

• Đa dạng hoá sản phẩm dựa vào mở rộng thị trường trong và ngoài nước cho các sản phẩm ong hàng hoá.

• Lây nhiễm dịch bệnh từ ngoài và không

• Liên doanh để tăng cường chế biến và kiểm soát

Những thách thức • Sau khi gia nhập WTO có thể sẽ tăng chi phí để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Những cơ hội • Kiểm soát chất lượng, thực hành sản xuất tốt và an toàn thực phẩm sẽ được đầu tư thêm sau khi gia nhập AFTA và WTO.

• Tiếp tục cải tiến giống ong, dâu, tằm và quản lý

chất lượng và chất tồn dư.

• Các hàng rào thương mại kỹ thuật: đòi hỏi nghiêm ngắt về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

• Tăng cường đóng gói và xây dựng sản phẩm. • Xây dựng chiến lược kiểm soát dịch bệnh ong, tằm có tác động lớn đến mật ong, sản phẩm tơ lựa và các sản phẩm khác của ong, tằm.

• Sản phẩm giả, kém chất lượng. • Tồn dư hoá chất và kháng sinh trong các

kiểm soát được dịch bệnh đang tồn tại. • Cạnh tranh khốc liệt với các nước khác. • Biến động giá do có sự thay đổi về khả trang trại để nâng cao năng suất. năng cung cầu của thế giới.

• Phát triển dịch vụ thụ phấn cho cây trồng để tăng năng suất và sản lượng các loại cây trồng có giá trị cao.

• Gian lận trong xuất khẩu của ngành có nguồn gốc từ nước khác vào nước ta để xuất đi nước thứ ba với nhãn hiệu của VN. • Nhập khẩu lậu ong chúa sống là nguy cơ lây nhiễm bệnh dịch cao như bệnh Nosemosis, bệnh sụt giảm đàn…

• Nhập khẩu lậu trứng giống tằm từ Trung

qui trình sản xuất.

quốc, không kiểm soát được dịch bệnh

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

70

ARDO 6. THUỐC THÚ Y VÀ VẮC XIN

1. XÁC ĐỊNH ARDO

1.1 Mục tiêu Quốc gia

Cải thiện năng suất chăn nuôi thông qua viêc tăng chất luợng, an toàn, hiệu quả và hiệu quả kinh tế của các loại Vắc xin và thuốc thú y.

1.2 Phạm vi nghiên cứu

• Nghiên cứu và phát triển các loại vắc xin và qui trình sản xuất vacxin, phát triển và sử dụng hàng loạt thuốc tổng hợp, thuốc từ thiên nhiên và thuốc chữa bệnh động vật và cải tiến trong quản lý và và qui trình sử dụng.

• Phát triển các sản phẩm thuốc thú y khác và dịch vụ thú y như kháng huyết thanh,

kháng thể, các kít chuẩn đoán,âcsc chế phẩm sinh học cho sử lý môi trường

1.3 Lĩnh vực nghiên cứu

Các loại Vắc xin và thuốc thú y cho trâu, bò sữa và bò thịt, lợn, dê, cừu, gà và vit.

2. THỐNG KÊ NGÀNH

2.1. Giới thiệu chung

Trước năm 1993 việc sx các sản phẩm vắc xin trong nước và dược phẩm như Vitamin còn ít. Việc phòng trừ và quản lý dịch bệnh lây nhiễm nghèo nàn, dựa chủ yếu vào nguồn vắc xin nhập nội, thường là giá thành cao và phần lớn các cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ không không thích ứng được. Dây chuyền lạnh và hệ thống phân phối chưa được phát triển và phạm vi, chất lượng tư vấn thú y còn thấp. Từ những năm 1990 sự phát triển và giá trị của các sản phẩm chăn nuôi đã vượt trên giá trị phát triển trung bình trong lĩnh vực nông nghiệp (chỉ trong vòng 5 năm tính đến năm 2004 giá trị phát triển của các sản phẩm chăn nuôi đã tăng 9.9%/năm so với giá trị phát triển trung bình trong nông nghiệp là 8,7%/năm và các lĩnh vực trồng trọt khác là 6.0%/năm). Mặc dù sản lượng chăn nuôi đã tăng, nhưng năng suất chăn nuôi vẫn chịu ảnh hưởng của các bệnh dịch như bùng phát như lở mồm long móng (FMD), nhiệt thán (AI), lợn tai xanh, cúm gia cầm... là nguyên nhân gây chết và dịch bệnh lâm sàng dẫn đến giảm hiệu quả chăn nuôi.

2.2 Đặc điểm ngành và triển vọng

• Vào năm 1993, thuốc thú y sản xuất trong nước chỉ chiếm 5% so với yêu cầu cho phòng trừ dịch bệnh. Chỉ có 3 loại vắc xin được sản xuất trong nước theo phương pháp truyền thống trên các hệ thống sản xuất vắc xin sẵn có.

• Trong năm 1993 một công ty (Rhone- Poulene) của Pháp đã đăng ký 31 loại vắc xin sử

Trước 1993, khi Pháp lênh thú y được ban hành, khi đó mới chỉ có 14 cơ sở thuốc thú y được thành lập, sản xuất 155 loại thuốc thú y, chủ yếu là thuốc thú y đơn giản như các loại vitamin (B1, C)

• Trước năm 1993 hầu hết các sản phẩm được sản xuất trong nước là các loại kháng sinh như Penicillin, Streptomycin, và Sulphamides, và quy mô sản xuất chủ yếu cũng giống

dụng cho gia cầm, lợn, mèo và chó.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

71

như sản xuất thuốc cho con người. Hầu hết thuốc sử dụng cho đại gia súc được nhập khẩu từ Trung quốc.

Sự tăng trưởng của thuốc thú y sản xuất trong nước (từ năm 1993 đến 2007)

Năm 8/2007 1993 1995 1997 1998 2000 2001 2002 2003 Chỉ tiêu theo dõi

Tổng số cơ cở sản 15 41 53 57 68 76 81 83 85

xuất thuốc thú y

Trong đó:

Tốt 18% 16% 18,8% 23,6%

Khá 47% 35% 33,4% 38,9%

Trung bình 35% 59% 47,8% 35,5%

• Vào năm 2006 có 1637 loại vắc xin là sản phẩm của 130 công ty (từ 29 nước trên thế giới) được đăng ký sử dụng ở Việt nam và các xí nghiệp sản xuất trong nước có khả năng cung cấp khoảng 75% yêu cầu thuốc cho phòng ngừa dịch bệnh.

Tổng số sản phẩm 189 1.066 1.996 2.042 3.246 3.636 4.263 4.471 4.078

• Thuốc thú y sản xuất trong nước hiện đang được xuất khẩu sang 20 nước trong khu vực

Giá trị và thị trường

• Đến nay, đã có hơn 100 loại thuốc thú y được xuất khẩu sang hơn 20 nước ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả một số thị trường khó tính như Hà Lan và Bỉ. Theo thống kê trong năm 2006 kim nghạch xuất khẩu đã lên đến một triệu USD.

và trên thế giới.

• Trong nhiều năm qua các thuốc sản xuất trong nước nhái lại các sản phẩm nhập khẩu, có tên tương tự, giá thành thấp hơn nhưng chất lượng thấp. Tình trạng này đã giảm dần, do có các quy định và quản lý mới được đưa ra, nhưng một vài sản phẩm nhái vẫn còn tồn tại, thường chất lượng thấp và lại bán với giá thành cao.

• Có tính cạnh tranh giữa thị trường trong nước và quốc tế. Giá thành của các sản phẩm sản xuất trong nước thường thấp hơn so với các sản phẩm nhập khẩu và chất lượng khác nhau giữa các sản phẩm nhập khẩu (tốt) và các sản xuất trong nước đã giảm được khoảng cách này làm cho sản phẩm sản xuất trong nước có tính cạnh tranh hơn.

• Sự cân bằng giữa “nhập nhiều hơn xuất” hiện đã được cải thiên.

Lợi thế cạnh tranh

Các chính sách của Nhà nước:

- Pháp lệnh Thú y 2004 và Nghị định 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 hướng dẫn thực thi

Pháp lệnh Thú y

- Quyết định của Chính phủ về hỗ trợ tiêm phòng và cho vắc xin cúm gia cầm và lở mồm

long móng

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

72

3. PHÂN TÍCH NGÀNH

• Nhà nước ban hành quy định về thuốc thú y (Cục Thú y) bao gồm trách quản lý sản xuất thuốc thú y trên cả nước, quản lý xuất nhập khẩu, cung ứng và phân phối nhằm ngăn ngừa sự phát tán dịch bệnh.

• Các quy định của địa phương (Các Chi cục thú y) chịu trách nhiệm trong quản lý thuốc thú y ở địa phương, mạng lưới thú y, hướng dẫn và phân phát các thuốc đơn giản cho phòng ngừa dịch bệnh

3.1 Cấu trúc

3.2 Cơ sở hạ tầng

Tổng quát các loại hình sản xuất và kinh doanh thuốc thú y

Thị Các sản phẩm chính Số lượng

Các dạng doanh nghiệp phần sản phẩm Vai trò và sử dụng

(%) chính

Các doanh nghiệp nhà 5% Vắc xin trừ bệnh dại, 30-80 Sản xuất, dự

nước (Công ty Navetco, thuốc sát trùng dùng trữ và phân

Xí nghiệp sản xuất thuốc cho các chương trình phát

thú y Trung ương quốc gia

thuộcViện Thú y)

Các cơ sở sản xuất theo 30% Các loại kháng sinh, >50-400 Sử dụng trong

hướng công nghiệp hóa chất sát trùng, tiêu nước.

độc, các loại vitamin và

khoáng.

Cơ sở sản xuất thuốc thú 15% Các loại kháng thông 10-50 Sử dụng trong

y nhỏ lẻ dụng, vitamin, và nước.

khoáng chất

Các cơ sở sản xuất liên 25% Các loại kháng sinh, >50-400 Sử dụng trong

doanh với nước ngoài hóa chất, và khoáng nước và xuất

chất khẩu

25% 20-200

Các cơ sở đăng ký xuất nhập khẩu thuốc thú y

Vắc xin, thuốc kháng sinh, vitamin và khoáng chất.

Các loại thuốc mà Viêt nam hiện chưa sản xuất được

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

73

Phân bố của các cơ sở sản xuất thuốc thú y

Số lượng cơ sở Khu vực Thị phần

Miền Bắc 30% 40

Miền Trung 2% 3

Miền Nam 35% 34

Miền Tây Nam bộ 8% 8

130/ 29 nước Nhập khẩu 25%

Sản phẩm thuốc thú y

Loại mặt hàng Số loại sản phẩm Chiếm thị phần trong

tổng sản lượng

Vitamin 30% 1212

Khoáng chất 13% 530

Kháng sinh 25% 1020

Vắc xin 10% 410

Chế phẩm sinh học 7% 290

Các loại khác 15% 620

• Các doanh nghiệp nhà nước (NAVETCO) và Xí nghiệp thuốc Thú y Trung ương thuộc Viện thú y (AHI) có trách nhiệm dự trữ các thuốc thú y quan trọng cho dự phòng Quốc gia như chương trình vắc xin chống lở mồm long móng, vắc xin phòng chống bệnh dại, vắc xin thế hệ mới, vắc xin phòng chống ký sinh trùng. Số lượng thuốc thú y còn ít, nhưng phần lớn chúng lại rất cần thiết. Tổng số là 175 loại sản phẩm. Trong số đó công ty Navetco sản xuất 76 loại bao gồm 18 loại vắc xin quan trọng và các loại hóa chất cần thiết khác cho chương trình phòng chống quốc gia.

• Hiện có 25 công ty sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp sản xuất khoảng 1220 sản phẩm (chiếm khoảng 30% thị phần). Trong 25 công ty này, hiện có 7 công ty (3 ở miền Bắc và 4 ở miền Nam) đang triển khai sản xuất và áp dụng các tiêu chuẩn Quốc tế về sản xuất thuốc thú y như GMP (của ASEAN, WHO) và ISO.

• Nhiều công ty có đầu tư các cơ sở sản xuất mới với các thiết bị tự động và bán tự động dẫn đến việc cải tiến chất lượng làm cho chất lượng thuốc sản xuất trong nước ngang bằng với chất lượng thuốc nhập khẩu.

• Trong số 85 công ty sản xuất thuốc thú y, hiện có 6 công ty (7%) đã áp dụng hệ thống ISO và GMP đã được cấp chứng chỉ ISO và GMP (khoảng 7%); 15 công ty (chiếm 17%) đạt chứng chỉ ISO 9001-2000 và có 8 công ty đầu tư nhà máy mới, với thiết bị

Tổng số 4078

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

74

• Các chứng nhận từ GMP-ASIAN lên GMP- WHO gồm: công ty liên doanh Bio-

và quy trình sản xuất nhằn có được chứng nhận GMP. Việt nam đã là thành viên của các tổ chức Quốc tế đang nỗ lực đạt được những quy định quốc tế về GMP và chứng nhận quốc tế.

• Tuy nhiên, hầu hết các công ty sản xuất thuốc thú y ở Việt Nam theo phương thức đầu tư ở quy mô trung bình và nhỏ. Điều này dẫn đến hiệu suất và chất lượng thấp do kỹ thuât lạc hậu, trình độ của người sản xuất thấp và thiếu kiểm tra và giám sát về chất lượng.

• Các công ty sản xuất thuốc thú y của Việt nam đang phát triển tương tự các công ty

Pharmachimie, Cty VEMEDIM Cần thơ và liên doanh ANOVA

− Cải tiến dần các sản phẩm thuốc thú y, tăng cường chất lượng thuốc

của các nước đã phát triển (cách đây 30-50 năm) thông qua việc:

− Tạo thêm việc làm mới và có thu nhập ổn định cho hàng nghìn lao động − Thực hiện chính sách "Mở cửa và hội nhập thương mại quốc tế" tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân nước ngoài đăng ký nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuoc thú y vào VN

thông qua các danh mục, nhãn mác, thương hiệu

4. THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (R&D)

• Nghiên cứu các vắc xin thông thường (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng)

• Nghiên cứu các vắc xin mới (mức độ phân tử, mức độ gen)

• Nghiên cứu chế phẩm sinh học (kháng huyết thanh, kit chẩn đoán)

• Nghiên cứu về các loại thuốc điều trị và chất phụ trợ

4.1. Các lĩnh vực nghiên cứu chính

4.2 Các Cơ sở nghiên cứu chính

• Viện nghiên cứu Thú y Quốc gia

• Xí nghiệp thuốc thú y TW

• Phòng nghiên cứu chăn nuôi, Viện KHKTNN Miền Nam

• Xưởng sx thuốc thú y

Bộ Nông nghiệp và PTNT

• HANVET, NAVETCO và các công ty trách nhiệm hữu hạn

• Khoa chăn nuôi thú y của Đại học NNI Hà Nội, Đại học Nông nghiệp 2, Đại học

Cơ sở khác

Nông nghiệp 3, Đại học Cần Thơ, Đại học Tây nguyên

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

75

4.3 Nguồn lực

• Số CB của Viện Thú y: 151

• Số CB, nhân viên của Xí nghiệp thuốc thú y TW: 400

Đội ngũ cán bộ và kinh nghiệm

Kinh phí: Kinh phí từ Nhà nước cho nghiên cứu về thuốc thú y và vắc xin năm 2006

khoảng 2 tỷ đồng.

• Phát triển và sản xuất một số loại thuốc vắc xin:

4.4. Những thành tựu chủ yếu cho đến nay

- Vắc xin tụ huyết trùng lợn, tụ huyết trùng trâu bò, tụ huyết trùng dê, tụ huyết trùng gia cầm

• Sản xuất các chế phẩm sinh học: một vài loại kháng huyết thanh, kít chẩn đoán, dẫn

- Vắc xin phù đầu lợn - Vắc xin bại huyết, xuất huyết thỏ - Vắc xin Newcastle. - Vắc xin viêm gan vịt - Vắc xin đậu dê cừu - Vắc xin dịch tả lợn

xuất thực vật, tiền vitamin

5. PHÂN TÍCH SWOT

Điểm mạnh

Điểm yếu

• Đã có kinh nghiệm trong phát triển các loại vắc xin, thuốc thú y và về hệ thống sản xuất..

• Mạng lưới phân phối còn phát triển, chưa tiếp cận được chuỗi đánh giá sản phẩm và chất lượng của các sản phẩm thuốc thú y

• Có khả năng xác định một số chủng tại địa phương (ví dụ như. FMD) và đảm bảo loại vắc xin được sản xuất đúng với yêu cầu của địa phương.

• Có khả năng đáp ứng được nhu cầu trong nước trong phòng trừ và quản lý với các bệnh dịch xuất hiện tại Việt Nam trong vài năm qua (ví dụ như FMD, Newcastle)

• Hệ thống điều tra và thông tin còn yếu • Nhiều hệ thống sản xuất thuốc thú y sử dụng công nghệ nhập khẩu và hơn 90% nguyên liệu sản xuất được nhập khẩu • Khả năng thích ứng và phát triển vắc xin đối với các bệnh dich mới (ví dụ như AI, bệnh tai xanh, BSE ) vẫn dựa vào vắc xin nhập khẩu và các hỗ trợ kỹ thuật của nước ngoài trong việc phát triển vắc xin thế hệ mới.

• Phát triển thị trường sản xuất thuốc thú y đồng bộ với phát triển chăn nuôi gia súc và tiêu thụ sản phẩm từ gia súc và việc tăng thu nhập

• Các cơ sở sản xuất thuốc thú y được xây dựng bắt đầu triển khai áp dụng các tiêu chuẩn Quốc tế (như GMP và ISO).

• Tập trung vào nghiên cứu vắc xin và sản xuất xắc xin có xu hướng đánh giá không đúng mức vai trò của nghiên cứu trong việc ngăn chặn dịch bệnh

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Giá cả thấp hơn của sản phẩm sản xuất trong nước đã tạo ra ưu thế cạnh tranh với thị trường nội địa.

• Sản phẩm trong nước đã đáp ứng 75% nhu

76

• Một số sản phẩm của các công ty trong nước được sản xuất và xuất khẩu sang 18 nước trên thế giới.

• Cạnh tranh về chất lượng và áp dụng tiêu chuẩn Quốc tế sẽ đầu tư yêu cầu đầu tư thích hợp về hạ tầng sản xuất và có thể làm giảm khả năng cạnh tranh về giá cả. • Ảnh hưởng của các loại vắc xin và thuốc thú y trong chăn nuôi do người nông dân thiếu kiến thức, không đánh giá thực chất, thiếu tư vấn về chất lượng và rất yếu về kỹ thuật quản lý..

• Phát triển thủy sản ở Việt nam dựa trên hệ thống thâm canh cao, sử dụng nhiều kháng sinh trị bệnh và phần lớn được nhập khẩu. các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm qua việc lạm dụng chúng đã được minh chứng. Giám sát chất lượng sản phẩm, độ an toàn thực phẩm và hiệu quả thuốc thú y còn yếu và cần được quan tâm hơn

cầu thuốc thú y.

• Mối liên hệ giữa công nghiệp chăn nuôi và thủy sản trong phát triển các biện pháp mới và cải tiến trong chữa trị, phòng trừ và quản lý dịch bệnh.

• Nguy cơ của các dịch bệnh rất lớn (AI) nếu chúng xảy sẽ làm giảm mối quan tâm của cộng đồng đến chuyển hướng sang các lĩnh vực nghiên cứu khác.

• Tăng hiệu quả và chất lượng thuốc kháng sinh thông qua việc cải tiến kỹ thuất mới về sản xuất thuốc thu y

• Sử dụng chiết xuất từ thực vật nhằm thay

Thuận lợi Khó khăn

• Hệ thống chăn nuôi gia súc quy mô nhỏ khó áp dụng cho chương trình quốc gia về quản lý và phòng chống dịch bệnh • Các công đa quốc gia sẽ cạnh tranh mạnh mẽ và cố gắng mở rộng sự độc quyền của họ lĩnh vực thuốc thú y về giá cả và không chia sẻ về cải tiến kỹ thuật và nghiên cứu sản xuất tại Việt nam.

• Là thành viên của tổ chức WTO đưa đến chính sách giảm trợ cấp trong nước cho sản xuất vắc xin, dẫn đến những hạn chế cạnh tranh về giá cả.

• Xây dựng và thực thi biện pháp kỹ thuật trong điều tra dịch bệnh, mạng lưới các phòng thí nghiệm và các dịch vụ chẩn đoán • Hợp tác tác nghiên cứu giữa trong nước với quốc tế và với các công ty sản xuất nhằm cải tiến tốt việc sx vắc xin và thuốc thú y và tạo ra các cơ hội với thị trường trong nước cũng như ưu thế cạnh tranh

• Khả năng ứng phó nhanh với việc bùng phát dịch bệnh nguy hiểm còn yếu và khả năng ngăn chặn lây lan tác động mạnh đến kinh tế còn hạn chế.

• Nghiên cứu ảnh hưởng kinh tế kinh tế dịch bệnh và dịch bệnh lâm sàng đến thu nhập quốc dân (GDP), hiệu suất sản xuất của người chăn nuôi và các mức thu nhập.

• Phát triển quá trình sinh học sẽ mở rộng cơ

thế thuốc trong quản lý dịch bệnh

sở cho việc sx các loại thuốc thú y

Phát triển các loại thuốc mới, cải tiến quy trình ứng dụng và phân phối thuốc thú y nhằm đưa

lại hiệu quả kinh tế cho người sử dụng.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

77

ARDO7: CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN THỨC ĂN CHĂN NUÔI

1. XÁC ĐỊNH ARDO7

1.1. Mục tiêu quốc gia

Nhằm tăng cường các nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc gia cầm và cải thiện chất lượng thức ăn chăn nuôi, qua đó đóng góp vào công cuộc đảm bảo an ninh lương thực và tăng cường khả năng cạnh tranh của thức ăn chăn nuôi trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

1.2. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D)

Các lĩnh vực nghiên cứu gồm (i) nâng cao tính bền vững cho ngành chăn nuôi thông qua việc sử dụng tốt hơn các nguồn thức ăn sẵn có; (ii) tăng nguồn cung cấp và giảm giá thành thông qua chế biến và bảo quản nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡng của các phụ phẩm công nông nghiệp dùng làm thức ăn chăn nuôi; (iii) đảm bảo chất lượng thức ăn công nghiệp bao gồm cả việc cải tiến mức độ an toàn của thức ăn; (iv) sử dụng các chất bổ sung để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của các phụ phẩm nông nghiệp được chế biến bảo quản; sử dụng công nghệ để cải thiện khả năng chế biến và bảo quản thức ăn chăn nuôi; (vi) nghiên cứu thị trường thức ăn chăn nuôi.

1.3. Đối tượng nghiên cứu

Thức ăn truyền thống và thức ăn công nghiệp: Thức ăn đậm đặc (bột cá, bột đậu tương và khô dầu đậu tương, bột ngô, bột sắn), thức ăn thô xanh và thức ăn bổ sung (khoáng đa vi lượng, vitamin, chế phẩm sinh học như enzyme và axit amin thiết yếu).

Thức ăn phi truyền thống: phụ phẩm công nông nghiệp (bột lá sắn, thân lá lạc, dây khoai lang, ngọn lá mía, bột và khô dầu hạt cao su, bột hạt bông, bột đầu tôm, cám gạo, bã bia và rỉ mật vv…)

2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH CÔNG NGHIỆP THỨC ĂN CHĂN NUÔI

2.1. Giới thiệu

Nguồn cung cấp thức ăn nhất là cung cấp protein là một trong những trở ngại chính đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi của Việt nam. Chi phí thức ăn thường chiếm đến 60-65% giá thành nhất là đối với gia cầm và lợn trong đó chi phí thức ăn chiếm đến 70- 75% giá thành thịt và trứng gia cầm. Sự khan hiếm thức ăn nhất là trong mùa khô đã làm hạn chế khả năng chăn nuôi và năng suất của gia súc nhai lại.

Các nguyên liệu thức ăn chủ yếu cho gia súc gia cầm ở Việt nam là lúa gạo, cám gạo và tấm, ngô, khoai lang, sắn, đậu tương và bột cá. Thức ăn công nghiệp đang được sử dụng ngày càng nhiều trong chăn nuôi kể cả trong các trang trại qui mô nhỏ. Tuy nhiên loại thức ăn này thường có giá cao, nhất là đối với người chăn nuôi ở khu vực nông thôn hẻo lánh. Mặc dù Việt nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phải nhập khẩu các nguyên liệu như cám mì, đậu tương và khô đậu tương, ngô và thức ăn bổ sung. Năm 2004 Việt nam nhập khoảng 300.000 tấn ngô với giá cao hơn 1,5 lần so với giá ở Mỹ (FAOSTAT, 2005). Đậu tương và các sản phẩm từ đậu tương là nguồn protein chính cho thức ăn chăn nuôi và chủ yếu được nhập khẩu (620.000 tấn trong năm 2005) nên giá rất cao. Bột cá và các nguồn protein khác thường hiếm và rất đắt nhất là đối với

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

78

người chăn nuôi ở các khu vực nông thôn xa trung tâm. Các phụ phẩm nông công ngiệp tương đối sẵn có với khoảng 35 triệu tấn rơm (tỷ lệ rơm/thóc là 1 /1) có thể sử dụng cho gia súc nhai lại và riêng năm 2005 đã có khoảng 5,4 triệu tấn cám gạo dùng cho chăn nuôi (15% thóc). Trở ngại lớn nhất đối với việc nâng cao hiệu quả chăn nuôi ở Việt nam là giá thức ăn cao.

2.2. Đặc điểm ngành và triển vọng.

• Việt nam có rất ít diện tích đồng cỏ tự nhiên (39.000 ha) và chất lượng cỏ thấp • Đất đồi thường quá dốc nên khó canh tác, đất khô và kém màu mỡ, phần lớn ở dạng

Đồng cỏ tự nhiên

• Mật độ chăn thả quá cao dẫn đến xói mòn đất • Việc nâng cao năng suất và chất lượng đồng cỏ tự nhiên tốn kém và có hiệu quả thấp

đồi trọc.

• Cỏ trồng và cây họ đậu • Có ba loại cỏ trồng chính là cỏ voi, cỏ guinea và cỏ pangola • Cỏ lông para có thể sinh trưởng tốt ở khu vực đồng bằng của Miền Trung • Cây cỏ họ đậu chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn xanh. Keo dậu và cỏ Stylo

(do thiếu nước và phân bón)

là những loại có triển vọng với năng suất khoảng 40 tấn/ha

• Rơm là nguồn thức ăn quan trọng cho trâu bò. Sản lượng rơm hàng năm là khoảng 35

Phụ phẩm nông công nghiệp

• Cám gạo cũng là một nguồn thức ăn quan trọng (5,4 triệu tấn) • Thân cây ngô (10 triệu tấn) chủ yếu được dùng để đun nấu và rất ít khi được dùng

triệu tấn

• Thân lá lạc và dây khoai lang chủ yếu được dùng làm thức ăn nuôi lợn chứ không

làm thức ăn cho trâu bò

• Các cây công nghiệp đặc biệt của Việt nam là mía và dứa. Rỉ mật là nguồn thức ăn giàu năng lượng trong khi ngọn lá mía thường được sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại (1,6 triệu tấn rỉ mật và 1,6 triệu tấn ngoạn lá mía)

• Mặc dù hầu hết các phụ phẩm nông nghiệp có chất lượng dinh dưỡng thấp nhưng do

cho trâu bò (2,4-2,6 triệu tấn)

có số lượng lớn nên chúng rất quan trọng đối với chăn nuôi gia súc nhai lại.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

79

Bảng 1: Diện tích và năng suất của các cây trồng chính và phụ phẩm nông công nghiệp ở Việt nam (2000-2005)

Diện tích (1000 ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Cây trồng và phụ phẩm

2000

2005

2000

2005

7.666

7.326

32.530

35.790

Lúa

30-32.000

32-35.000

- Rơm (ước tính)

4.950

5.400

- Cám gạo (ước tính)

730

1.043

2.006

3.756

Ngô

7-7.300

10.000

- Thân cây ngô

124

203

149

291

Đậu tương

254

188

1.611

1.460

Khoai lang

2.600

2.400

- Dây khoai lang

238

424

1.986

6.646

Sắn

1.500

2.800

- Ngọn lá sắn

302

266

15.044

14.730

Mía

1.600

1.500

- Ngọa lá mía

1.600

1.500

- Rỉ mật (10 % sản lượng

412

480

290

468

Cao su

- Hạt cao su

245

270

355

485

Lạc

1.560

1.900

- Thân lá lạc

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2005)

Nguyên liệu cho thức ăn công nghiệp

Bột cá: Bột cá sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 10% tổng nhu cầu tiêu thụ vì hàng năm Việt nam chỉ sản xuất khoảng 30-35.000 tấn trong khi tổng nhu cầu khoảng 200- 300.000 tấn để sản xuất khoảng 4,5 triệu tấn thức ăn công nghiệp. Bột cá là nguồn nguyên liệu khan hiếm đối với các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt nam.

Đậu tương: Bột đậu tương là nguồn protein chủ yếu dùng trong thức ăn cho gia cầm ở Việt nam. Đậu tương được trồng nhằm cung cấp cho nhu cầu của cả người và gia súc. Giá đậu tương thường cao đối với thức ăn cho gia cầm và lượng cung cấp thường biến động theo mùa. Năm 2003 Việt nam sản xuất khoảng 240.000 tấn đậu tương, nhập khẩu khoảng 49.400 tấn hạt và 620.000 tấn khô dầu đậu tương (FAOSTAT, 2004). Khô dầu đậu tương sản xuất trong nước có giá khoảng 4000 USD/tấn còn khô dầu nhập khẩu có giá khoảng 3000 USD/tấn, thấp hơn khoảng 30%.

Ngô: Tổng sản lượng ngô hạt sản xuất năm 2004 khoảng 2,5 triệu tấn và hầu hết được dùng làm thức ăn chăn nuôi. Năm 2003 Việt nam nhập khoảng 300.000 tấn ngô và chủ yếu được dùng sản xuất thức ăn cho lợn và gia cầm (Niên giám thống kê, 2004; FAOSTAT, 2004). Theo Nguyễn Đăng Vang (2004) thì giá ngô sản xuất trong nước cao hơn khoảng 20% so với giá ngô nhập khẩu từ Mỹ.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

80

Bột sắn và bột lá sắn: Theo số liệu của FAO (2005) diện tích trồng sắn năm 2005 của Việt nam là 371.700 ha và sản lượng sắn củ là 5,4 triệu tấn. Ước tính có khoảng 30% sản lượng sắn (1,7 triệu tấn) được dùng làm thức ăn chăn nuôi và khoảng 70% được dùng sản xuất tinh bột sắn dùng cho người.

• Ngành chăn nuôi hiện nay đang sử dụng khoảng 9 triệu tấn thức ăn trong đó cho lợn chiếm 80%, cho gia cầm 18%, còn lại cho bò (Diễn đàn kinh tế Việt nam, 2006). • Các nhà máy trong nước sản xuất tối đa 4,6 triệu tấn (40% tổng nhu cầu) và trên 60%

2.3. Giá trị và thị trường

• Giá thức ăn sản xuất trong nước thường cao hơn giá ở các nước khác trong khu vực (thức ăn công nghiệp cho gia cầm của Việt nam khoảng 385USD/tấn còn của Malaysia 175USD/tấn; thứ ăn cho lợn của Việt nam giá 225 USD/tấn còn của Malaysia 175 USD/tấn)

• Giá trị nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi năm 2005 là khoảng 597 triệu USD

nguyên liệu thô phải nhập khẩu trong năm 2005.

(World Bank, 2006)

• Là thành viên của WTO và AFTA nên mức thuế và mức độ bảo hộ mậu dịch đối với các nguyên liệu thức ăn xuất (nhập) khẩu?? đang giảm xuống. Mức thuế cho nguyên liệu thức ăn xuất khẩu hiện hành là 0%???.

• Thức ăn chăn nuôi đang có giá cao hơn các nơi khác trên thế giới khoảng 20-25% • Ngành chăn nuôi có thể phát triển với tốc độ gấp đôi tốc độ phát triển của trồng trọt (9,9% trong năm 2002 khi trổng trọt đạt 5,5%) chủ yếu là do tăng đầu tư vào sản xuất chứ không phải do tăng hiệu quả sản xuất.

• Tính cạnh tranh của chăn nuôi thấp có thể cơ bản là do giá thức ăn và các hạn chế về

2.4. Lợi thế cạnh tranh

• Thuế xuất khẩu hiện nay đang là 0% đối với các sản phẩm chăn nuôi nhằm khuyến khích đầu tư phát triển chăn nuôi phục vụ xuất khẩu nhất là xuất khẩu thịt lợn nhưng xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi của Việt nam lại giảm đi kể từ năm 1997 trong khi nhu cầu nội địa tăng lên.

• Dịch cúm độc lực cao ở gia cầm và dịch lở mồm long móng ở lợn và trâu bò đã ảnh hưởng đáng kể đến thị trường xuất khẩu nhỏ bé hiện có cho các sản phẩm chăn nuôi nói chung và thức ăn chăn nuôi nói riêng.

• Cơ cấu của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi chủ yếu là các cơ sở qui mô nhỏ với chỉ ít cơ sở sản xuất qui mô lớn và rất nhiều khâu trung gian đang làm giảm tính cạnh tranh của ngành.

kỹ thuật (nhân giống, dịch vụ thú y, phát triển thị trường)

• Một số chính sách đã và đang được xây dựng và triển khai nhằm khuyến khích phát

2.5. Chính sách của Chính phủ

• Chính sách sử dụng đất (20 năm cho sản xuất cây hàng năm; 50 năm cho sản xuất cây lâu năm; 70 năm cho sản xuất cây lâu năm trong các dự án được chính phủ phê duyệt)

• Thuế áp dụng cho xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp đã được giảm thấp hoặc dỡ bỏ, loại bỏ thuế ad valorem đối với nguyên liệu thức ăn (gần đây hạ xuống mức 5%)

triển ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi:

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Phát triển mạng lưới tín dụng nông thôn phục vụ chăn nuôi (7 triệu hộ nông dân đã sử dụng quĩ tín dụng bao gồm cả 2 triệu người nghèo, câu hỏi liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật nhằm sử dụng tốt hơn nguồn tín dụng)

• Ban hành thuế ưu đãi và giảm chi phí đầu tư ban đầu để phát triển các nhà máy sản

81

• Khuyến khích sản xuất các loại cây trồng phù hợp làm thức ăn gia súc • Chính sách giá cả (trong một số trường hợp Chính phủ sẽ can thiệp kiểm soát giá cả để bình ổn giá thức ăn chăn nuôi nhằm duy trì an toàn lương thực và kiểm soát quota xuất khẩu)

• Xây dựng các trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng động vật và chế biến thức ăn

xuất thức ăn địa phương

3. Phân tích ngành.

3.1. Cấu trúc.

Mật độ chăn nuôi là tương đối so với đất trồng màu và sản xuất lương thực. Các khu vực trong nước có đàn gia súc lớn và đất sản xuất lương thực có thể có lợi thế cạnh tranh cao hơn các vùng thiếu lương thực và do đó chi phí vận chuyển cao hơn. Điều này đòi hỏi việc phân tích địa hình kỹ lưỡng hơn nhưng cũng có thể quan trọng trong việc xác định những khu vực cần đầu tư để nâng cao tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi. Theo phân tích ban đầu, mật độ chăn nuôi và mật độ cây thức ăn gia súc (ví dụ ngô và đậu tương) dường như chưa có tương quan mật thiết cho thấy có thể cần điều chỉnh chính sách để khuyến khích lập kế hoạch tốt hơn và khuyến khích sự phát triển của các hệ thống chăn nuôi trồng trọt. Việc lập kế hoạch có thể tập trung vào các yếu tố khí hậu phù hợp thuận lợi cho chăn nuôi và trồng trọt và tăng tính hiệu quả sản xuất (và do đó tăng tính cạnh tranh).

3.2. Hạ tầng cơ sở hỗ trợ

Thức ăn công nghiệp: Các nhà máy chế biến thức ăn công nghiệp phân bố ở các tỉnh khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất là xác định các sản phẩn chế biến có chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước. Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt nam hoạt động dựa vào hệ thống các cơ sở qui mô nhỏ với rất ít cơ sở đóng vai trò chính. Hơn nữa sở hữu chủ yếu là của nước ngoài nơi có giá nhân công và chi phí đầu tư cao hơn. Trong năm 2003 trên 70% trong tổng số nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi có phần của nhà đầu tư nước ngoài (CEG, 2004). Với sự cạnh tranh về đất cho sản xuất công nghiệp, nhà ở và cho sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao hơn chăn nuôi việc tạo ra các vùng trồng cây nguyên liệu thức ăn không hề đơn giản. Hiện nay 50% đường nông thôn đang trong tình trạng xấu. Có trên 150 công ty tham gia sản xuất thức ăn chăn nuôi và rất nhiều công ty tham gia quá trình phân phối trên thị trường. Các công ty sản xuất thức ăn qui mô nhỏ thường chỉ tham gia sản xuất trong thời gian ngắn rồi đóng cửa. Điều này có nghĩa là khoảng 73% tổng lượng thức ăn chăn nuôi được sản xuất từ các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài qui mô lớn.

Thức ăn phụ phẩm nông công nghiệp: Các phụ phẩm nông công nghiệp được tạo ra từ các vùng trồng trọt chẳng hạn rơm lúa, cám gạo và tấm được sản xuất chủ yếu ở khu vực châu thổ đồng bằng sông Hồng và sông Cửu long nơi giá phụ phẩm thấp hơn các

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

82

khu vực khác. Giá phụ phẩm nông công nghiệp biến động tùy thuộc và khu vực sản xuất và tỷ lệ phụ phẩm được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Điều này có nghĩa là những nơi chăn nuôi sử dụng nhiều phụ phẩm thì cũng là những nơi có thị trường phụ phẩm phát triển.

• Giá nguyên liệu thức ăn ở Việt nam cao hơn các nước khác trong khu vực châu Á khoảng 57% mặc dù thuế nhập khẩu các loại nguyên liệu này thấp (5%) cho thấy có thể giảm giá thức ăn thông qua điều chỉnh chính sách. Tuy nhiên thị trường phụ phẩm công nông nghiệp phụ thuộc vào các hệ thống chăn nuôi. Những nơi phát triển chăn nuôi thông qua sử dụng tốt hơn nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương sẽ phát triển bền vững hơn. Điều này cũng phù hợp với chính sách phát triển chăn nuôi trong vùng.

• Năng suất đậu tương thấp ngoại trừ khu vực châu thổ đồng bằng sông Cửu Long (2- 2,61 tấn/ha) nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi. Còn lại hầu hết các khu vực có khả năng cạnh tranh thấp khi trồng đầu tương.

3.3. Thị trường.

Loại gia súc và giai đoạn sinh trưởng

Cả nước

Miền Nam

Giá thức ăn cho lợn (đồng/kg) Tập ăn (1-15 kg) Lợn con (15-30 kg) Sinh trưởng (30-60 kg) Vỗ béo (60- off take) Nái mang thai Nái nuôi con

Miền Bắc 7048 4341 4140 3596 3894 4136

7724 4305 4020 3723 3847 4168

8400 4200 3900 3850 3800 4200

Giá thức ăn cho gà (đồng/kg) Gà con (1-21d) Gà dò (22-41d) Gà thịt (42-50+ d) Gà đẻ

National North 4993 5123 4717 5038 4717 4855 4784 4215

South 5530 5460 4813 6200

Giá thức ăn cho vịt (đồng/kg) Vịt con (1-21d) Vịt thịt (22-50+d) Vịt đẻ

National North 4136 4147 3883 3919 4092 n.a.

South n.a. n.a. n.a.

Giá nguyên liệu (đồng/kg) Ngô Tấm Cám Sắn Cám mì Khô đậu tương Đậu tương

National North 2543 2600 3771 3615 2200 2770 n.a. 2270 n.a. 2850 4600 3880 4650 6000

South 2350 3516 2200 n.a. n.a. 5350 6200

Nguồn: Số liệu điều tra từ các công ty thức ăn ở miền Bắc và miền Nam Việt nam tháng 2 năm 2006

Bảng 3: Giá thức ăn của một số loại gia súc ở miền Bắc và miền Nam

• Số lượng gia súc gia cầm được dự báo sẽ tăng và nhu cầu thức ăn chế biến, phụ phẩm

3.4. Xu hướng và các vấn đề chính về thị trường

nông nghiệp và thức ăn thô xanh cũng tăng

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Vấn đề mấu chốt là giá thức ăn sản xuất trong nước – cao hơn giá sản xuất ở các nước khác 1,5-2 lần. Nếu các nguyên liệu thức ăn không được sản xuất ở Việt nam với giá thấp hơn thì sức cạnh tranh tương đối của ngành chăn nuôi Việt nam sẽ thấp. • Xu hướng sử dụng thức ăn hạt làm nhiên liệu sinh học làm tăng giá các loại ngũ cốc trên thị trường quốc tế dẫn đến sự tăng giá các sản phẩm phụ thuộc vào thức ăn chế biến (ví dụ giá sữa)

• Phụ phẩm nông nghiệp thường không được sản xuất ở những khu vực có ngành chăn nuôi phát triển. Khuynh hướng chăn nuôi thâm canh ở những khu vực giàu nguồn thức ăn có thể phát triển trong tương lai.

• Lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp đang bị bỏ phí và các phương pháp bảo quản và sử dụng có gía thành thấp sẽ cho phép sử dụng hiệu quả hơn các nguồn thức ăn này. • Khi giá thức ăn công nghiệp tăng thì hiệu quả của việc cải tiến sản xuất và chế biến thức ăn thô xanh sẽ tăng lên nhất là đối với các hệ thống chăn nuôi thâm canh gia súc nhai lại.

83

4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (R&D).

• Áp dụng các công nghệ chế biến thức ăn truyền thống và hiện đại đối với các phụ phẩm nông công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi là ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển chăn nuôi bền vững

• Chuyển giao công nghệ chế biến thức ăn công nghiệp cần phải được tăng cường để

4.1. Lĩnh vực nghiên cứu chính.

• Cải tiến công nghệ sau thu hoạch và tiếp thị sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế ngành trồng

giảm giá thành sản phẩm

• Khuyến khích phát triển trồng cây nguyên liệu thức ăn tại các khu vực có lợi thế như

ngô và đậu tương.

• Phát triển và ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch mới, chế biến và đa dạng hóa

trồng ngô ở Sơn La và Đắc Lắc, trồng đậu tương ở Đắc Lắc.

các sản phẩm chế biến.

4.2. Những cơ quan nghiên cứu chính.

• Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam: nghiên cứu dinh

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

• Các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi địa phương tại các tỉnh, các công ty lien

dưỡng gia súc và chế biến thức ăn

doanh: nghiên cứu thức ăn công nghiệp

Các trường đại học • Đại học Nông nghiệp Hà Nội • Đại học Nông Lâm Thái Nguyên • Đại học Nông Lâm Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh • Đaị học Cần Thơ • Đại học Nông Lâm Huế

Các cơ quan liên quan khác: Sở nông nghiệp và PTNT các tỉnh ; Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh; Trung tâm khuyến nông các tỉnh

Các cơ quan hợp tác chính bao gồm FAO/UNDP, CARD, CIRAD, Hội Chăn nuôi VN

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

84

• Ước tính kinh phí nghiên cứu năm 2007 là 4 tỷ đồng (250.000 USD) cho thức ăn công nghiệp và thức ăn bổ sung, 6 tỷ đồng (375.000 USD) cho chế biến và bảo quản phụ phẩm công nông nghiệp và 6 tỷ đồng (375.000 USD) cho chế biến thức ăn thô xanh và trồng cây thức ăn nguyên liệu.

• Tổng kinh phí khoảng 16 tỷ đồng (1.000.000 USD)

4.3. Kinh phí nghiên cứu

4.4. Những kết quả đạt được đến nay

Nghiên cứu, chế biến thức ăn hỗn hợp trong chăn nuôi

• Chế biến đậu tương: Đậu tương là thức ăn bổ sung cả năng lượng và protêin tuyệt vời, với hàm lượng CP và năng lượng trao đổi (ME) tương ứng là 370 – 430 g và 3300 – 3900 Kcal/kg vật chất khô (DM). Tuy nhiên, các chất kháng dinh dưỡng có trong đậu tương chưa chế biến như men ức chế trypsin và chất làm đông vón tế bào máu (lectin). Có thể sử dụng đậu tương chưa chiết dầu ở mức 15 – 35% trong khẩu phần cho gà sinh trưởng mà không có biểu hiện bất lợi nào và nếu được bổ sung thêm methionine thì bột đậu tương có giá trị tương đương với protêin bột cá. Việc thay thế bột cá bằng bột đậu tương trong khẩu phần ăn của gia cầm có thể tiết kiệm được 30% chi phí thức ăn (Lung & Man, 1999).

• Chế biến ngô: Ngô là cây màu được trồng khắp cả nước và có thể thu hoạch 2 đến 3 vụ trong năm tùy theo điều kiện khí hậu và tập quán canh tác của địa phương. Tuy nhiên, năng suất ngô ở Việt Nam trung bình chỉ đạt ở mức 60% so với năng suất ngô của Mỹ (Vang & Son, 2000). Ngô có hàm lượng tinh bột khoảng 730 g/kg DM, hàm lượng xơ thấp, hàm lượng năng lượng ở mức cao, và hàm lượng protein khá biến động. Hàm lượng năng lượng và protêin biến động theo giống ngô tương ứng dao động từ 3300 đến 3900 Kcal/kg DM và 80 – 120 g/kg DM (Viện Chăn nuôi, 20001). Tuy nhiên, trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao đặc trưng ở Việt Nam ngô rất dễ bị mốc do bị nấm tấn công. Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là sự phát triển của độc tố nấm mốc aflatoxins có thể làm giảm giá trị dinh dưỡng và độ ngon của thức ăn từ ngô (Men, 2001). Sắc tố trong hạt ngô có thể tạo màu mỡ khi cho gia súc ăn ngô. Đây là đặc điểm mà một số nước không mong muốn. Tuy nhiên, ở Việt Nam ngô vẫn được sử dụng là thành phần chính trong khẩu phần nuôi dưỡng gia cầm và lợn.

• Chế biến bột sắn: Giá trị sử dụng quan trọng nhất của sắn là nguồn tinh bột cho con người. Năm 2005 sản lượng bột sắn cung cấp cho người khoảng 2 triệu tấn và làm thức ăn cho gia súc chỉ khoảng 0,3 triệu tấn (FAOSTAT, 2005).

• Chế biến bột cá: Công nghệ chế biến bột cá ở Việt Nam còn chưa phát triển, vì vậy hàm lượng dinh dưỡng trong các loại bột cá khác nhau biến động rất lớn. Ví dụ hàm lượng protein thô (CP) dao động từ 35 – 60%; hàm lượng khoáng tổng số dao động từ 20 – 35% (Giang và cộng sự, 2001). Bột cá có hàm lượng canxi, photpho và một số khoáng vi lượng bao gồm cả mangan, sắt và iốt cao. Bột cá cũng là nguồn thức ăn giàu vitamin B đặc biệt là Colin, B12 và B2. Điều này có nghĩa là bột cá cũng là nguồn cung cấp khoáng và các vitamin B rất tốt cho chăn nuôi gia cầm.

Chế biến phế phụ phẩm nông công nghiệp

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Ở Việt Nam nguồn rơm lúa rất dồi dào nhưng vẫn chưa được sử dụng thích hợp làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Việc sử dụng rơm lúa bổ sung với các nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương có thể áp dụng đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của rơm lúa khi dùng làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Tuy nhiên việc thiếu các kỹ thuật chế biến thích hợp nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm lúa đang là trở ngại chính đối với việc mở rộng chế biến rơm. Rơm khô có thể được xử lý 4% urea (4 kg urea hòa vào 100 lít nước và dùng cho 100 kg rơm). Xử lí urea cải thiện giá trị dinh dưỡng của rơm và rơm ủ có thể thay thế 10-20% thức ăn thô khẩu phần bò sữa có hàm lượng thức ăn tinh tương đối cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự sai khác đáng kể giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm nói nên rằng urea có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của rơm lúa.

• Cám gạo và tấm gạo là những nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính của ngành xay sát lúa gạo và cũng được sử dụng khá phổ biến trong khẩu phần nuôi dưỡng gia cầm ở Việt Nam. Hàm lượng protêin và mỡ thô (EE) trong cám gạo khá cao, tương ứng là 120 – 140 g/kg và 110 – 180 g/kg (Giang và cộng sự, 2001). Cám gạo được xem là thức ăn có thành phần dinh dưỡng rất biến động, tùy thuộc vào hiệu suất xay sát và mức độ tách chiết dầu. Dầu trong cám thuộc loại chưa no và có thể bị ôi thiu rất nhanh. Do đó dầu thường được chiết tách để sản phẩm có thể bảo quản lâu dài. Cả tấm và cám gạo đều có thể được dùng trong khẩu phần cho gia cầm với tỷ lệ tương đối cao nếu có hàm lượng trấu thấp. Ở Việt nam các cơ sở chăn nuôi thường sử dụng tới 70-100% thóc, cám hoặc tấm làm thức ăn bổ sung cho gia cầm thả vườn lấy trứng và thịt (Mến, 2001).

• Thân cây ngô: Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 909.000 ha ngô và tổng lượng thân cây ngô sau thu bắp vào khoảng hơn 10 triệu tấn. Thân cây ngô hiện nay vẫn được sử dụng chủ yếu làm chất đốt và ít khi được dùng làm thức ăn cho gia súc. Ủ thân cây ngô sau thu bắp với 3% rỉ mật, bột ngô, cám gạo và bột sắn có thể tạo nguồn thức ăn chất lượng tương đối tốt cho gia súc nhai lại trong mùa khô.

• Dây khoai lang: Dây khoai lang được sử dụng chủ yếu cho lợn, ít khi được sử dụng cho trâu bò. Khoai lang là nguồn thức ăn chính cho người ở các nước có thu nhập thấp và dây khoai lang (rau khoai lang) thường bị vứt bỏ hoặc làm phân chuồng (phân độn cho các chuồng nuôi gia súc). Đôi khi, dây khoai được phơi khô và sử dụng làm thức ăn cho lợn và một lượng nhỏ làm thức ăn cho gia cầm nhưng chúng có giá trị dinh dưỡng thấp. Sản lượng dây khoai lang có thể lên tới 2,6 tấn chất khô/ha.

• Ngọn lá sắn: Sau khi thu hoạch củ, có khoảng 2,8 triệu tấn lá sắn có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc gia cầm (bảng 1). Năng suất tiềm tàng của các phụ phẩm là ngọn, lá sắn sau khi thu hoạch củ vào khoảng 4,46 tấn chất khô/ ha. Nếu được trồng làm nguồn thức ăn thô xanh trong mùa khô thì cây sắn có thể cho 41 tấn lá tươi/ 1 ha, tương đương với khoảng 12 tấn lá sắn khô/ha. Lá sắn cũng được biết đến là nguồn thức ăn giàu protêin. Bột lá sắn (CLM) là thức ăn phi truyền thống và ở Việt Nam bột lá sắn và ngọn lá sắn đôi khi được sử dụng trong khẩu phần cho lợn và trâu bò. Hạn chế lớn nhất của việc sử dụng bột lá sắn là độc tố chẳng hạn như axit Hydrogen Cyanide (HCN). Tuy nhiên, quá trình phơi khô hoặc ủ chua có thể làm giảm hàm lượng axit HCN trong lá sắn ủ và có thể sử dụng an toàn cho gia súc. Khác

85

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

86

• Năng suất của thân lá lạc ở vào khoảng 5700 – 6800 kg/ha và có khoảng 1,9 triệu tấn có thể dung làm thức ăn cho gia súc. Thay thế 50% cỏ xanh bằng thân lá lạc trong khẩu phần ăn cho bò sữa không làm ảnh hưởng tới năng suất sữa. Có thể thay thế 0,5 kg thức ăn đậm đặc trong khẩu phần nuôi dưỡng lợn sinh trưởng bằng 1,5 kg thân lá lạc, làm giảm 12% chi phí từ thức ăn. Nếu sử dụng tốt hơn nguồn thân lá lạc trong tổng số 1.900.000 tấn thì có thể thay thế được 500.000 tấn thức ăn đậm đặc cho heo.

• Sản lượng mía đường khoảng 16.524.000 tấn có thể cung cấp khoảng 1.600.000 tấn rỉ mật phụ phẩm và 1.600.000 tấn ngọn lá mía làm nguồn thức ăn cho gia súc, tương đương với khoảng 10 -12% tổng sinh khối cây mía. Phụ phẩm từ chế biến mía đường như ngọn mía, lá mía và rỉ mật được xem là những nguồn thức ăn quan trọng đối với chăn nuôi gia súc nhai lại ở các nước nhiệt đới. Việc sử dụng ngọn lá mía ủ với rỉ mật trong chăn nuôi bò thịt với lượng 12,6 kg/ngày có thể cho tăng trọng 590g/con/ngày. Nếu sử dụng tốt hơn nguồn ngọn lá mía thì có thể nuôi 400.000 bò thịt mỗi năm mà không cần xản xuất thức ăn thô xanh.

• Có thể kết luận là các công nghệ chế biến và bảo quản phụ phẩm nông công nghiệp

với củ sắn, lá sắn khá giàu protein, khoáng và vitamin. Hàm lượng protêin thô trong lá sắn từ 230 – 350 g/kg DM. Bột lá sắn bổ sung vào khẩu phần gà đẻ ở mức dưới 25% vật chất khô không gây ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ đẻ trứng, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Có thể làm giảm hàm lượng axit HCN và tanin trong lá sắn bằng việc phơi khô hoặc ủ chua; hàm lượng axít HCN giảm tới 92% khi phơi khô và giảm 78% khi ủ chua lá sắn (Khang, 2004).

và cây thức ăn thô xanh cần phải được nghiên cứu.

5. PHÂN TÍCH SWOT

• Thiếu các dự báo dài hạn nhằm chế biến các phế phụ phẩm công nông nghiệp làm nguồn thức ăn cho gia súc.

• Sản xuất nhỏ lẻ và không mang tính

Điểm yếu • Kỹ thuật chế biến và trang thiết bị cần phải đầu tư và nâng cấp.

• Chất lượng nguyên liệu nhập khẩu thấp. • Khả năng tự chế biến thức ăn của nông hộ

• Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất thức ăn gia súc thúc đẩy chăn nuôi phát triển.

Điểm mạnh • Điều kiện khí hậu và đất đai khá thuận lợi cho việc phát triển trồng cây thức ăn chăn nuôi. • Người nông dân áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật mới cho năng suất cao cây thức ăn cao. • Sử dụng tốt hơn các nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương giúp tăng đáng kể thu nhập và lợi nhuận của nông dân. thương mại trong ngành chăn nuôi.

• Đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu trong

thấp.

• Nhân công giá rẻ cũng làm tăng lợi thế cạnh

ngành chăn nuôi.

• Nhiều nhà chế biến thức ăn qui mô nhỏ, chất lượng thức ăn không ổn định và không có thương hiệu quốc tế (chỉ là thương hiệu nội địa)

• Một số nguồn cung cấp phát triển tốt.

• Các mạng lưới chuyển giao tiến bộ kỹ

tranh.

• Mức tiêu thụ trên đầu người/ năm còn thấp.

thuật đến nông dân yếu kém.

• Giá thức ăn cao và năng suất thấp, giá thức ăn cao hơn 1,5 – 2 lần giá thức ăn của các nước khác trong khu vực.

Tiếp thị là mối quan tâm lớn.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

• Cần có chính sách khuyến khích (tín dụng, thuế,..) để ngành chăn nuôi phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa và chăn nuôi lợn.

• Các địa phương khó tiếp cận được các nguồn thức ăn có chất lượng ổn định và giá cả phải chăng.

• Các nguồn thức ăn địa phương được sử dụng nói chung có chất lượng thấp (một tỷ lệ nhỏ các trang trại chăn nuôi lợn chỉ sử dụng nguồn thức ăn dư thừa)

87

• Việc gia nhập tổ chức WTO rất có thể sẽ

Thách thức

• Sự cạnh tranh với các nguồn thức ăn rẻ hơn

làm tăng chi phí sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.

• Sự cạnh tranh từ các nước khác đặc biệt là

cho xuất khẩu và thị trường nội địa.

• Phát triển mạnh mẽ các hệ thống sản xuất

• Sự dao động thất thường của giá cả theo sự thay đổi của thị trường thế giới và dịch bệnh xảy ra

• Đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng vệ sinh

trong chế biến thức ăn công nghiệp Cơ hội • Nâng cao chất lượng, đảm bảo an ninh lương thực và thương mại hóa tập trung mở rộng thị trường sau khi gia nhập AFTA và WTO. • Đất đai và khí hậu nhiệt đới ở các vùng khác nhau cho phép mở rộng phát triển tất cả các loại cây thức ăn phù hợp với vùng đất và mùa vụ.

• Khối lượng các phụ phẩm từ cây trồng khổng lồ có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc. • Liên doanh để cải tiến các hệ thống chế biến

chuyên canh cây thức ăn trong đó tập trung mạnh đến các giống có năng suất, chất lượng cao. an toàn thức ăn

• Khí hậu nhiệt đới cung cấp nguồn năng lượng mặt trời và nguồn nước dồi dào cho sự phát triển của cây trồng nhiệt đới.

• Sử dụng tốt hơn các phế, phụ phẩm sẽ góp

thức ăn chăn nuôi.

• Ngành chăn nuôi đang trên đà phát triển do

phần bảo vệ môi trường.

• Tác động của hệ thống khuyến nông gần đây được nâng cao. Việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã mang lại các kết quả ban đầu. Các cán bộ khuyến nông trẻ đã được đào tạo và tập huấn và đã học được cách làm khuyến nông trong các trang trại nhỏ và các hộ nghèo.

kích thích của thị trường.

Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin