
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ANH TOÀN
TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC
TẠI TRUNG TÂM PHÁP Y TÂM THẦN
KHU VỰC MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2023

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TẠO
Phản biện 1: TS.NGÔ VĂN TRÂN
Phản biện 2: PGS.TS.TRẦN XUÂN BÌNH
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp 205, Nhà B - Hội trường bảo vệ luận văn
thạc sĩ, Phân viện Học viện Hành chính Quốc khu vực Miền Trung
Số 201 đường Phan Bội Châu, phường Trường An, thành phố Huế,
tỉnh Thừa Thiên Huế
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng 12 năm 2023
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web
Ban quản lý đào tạo sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quy mô đầu tư các nguồn lực vật chất, khoa học công nghệ
cùng với năng lực, trình độ quản lý của đội ngũ nhân sự là điều kiện
đảm bảo tính hiệu quả của mọi hoạt động, quyết định sự tồn tại và
phát triển của các tổ chức. Trong lĩnh vực y tế, nguồn nhân lực đóng
một vai trò vô cùng quan trọng, có tác động trực tiếp đến chất lượng
chăm sóc người bệnh. Đặc biệt, trong giai đoạn tình hình dịch bệnh
Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng, nhân viên y tế, những người trực tiếp điều trị, chăm
sóc người bệnh bị áp lực nặng nề do tình trạng quá tải công việc, áp
lực tâm lý, đe dọa của bệnh tật... nhưng thu nhập lương hằng tháng,
các chế độ đãi ngộ chưa đủ đáp ứng nhu cầu đời sống bản thân và gia
đình. Thực trạng trên đã tác động không nhỏ đến nhân viên y tế nói
chung, làm họ giảm đi sự say mê, tâm huyết với nghề nghiệp, thậm
chí một số có những thái độ cư xử chưa đúng chuẩn mực ngành y
trong công việc và giao tiếp với người bệnh như thái độ hững hờ,
lạnh nhạt, thiếu trách nhiệm trong công việc.
Để kích thích sự sáng tạo, nâng cao năng suất làm việc, phát
huy sức mạnh tiềm tàng, vượt qua các thách thức và khó khăn của
người lao động, các nhà quản lý cần khơi dậy niềm tin, xây dựng các
cơ chế tác động đến động lực làm việc của mỗi các nhân người lao
động trong tổ chức. Khi một người có động lực, họ tự nguyện làm
việc hết mình, không cần sự nhắc nhở hay ép buộc. Điều này giúp họ
vượt qua mong đợi của cấp trên và đạt được thành tích đáng kể cho
bản thân thông qua năng suất, chất lượng, hiệu quả thực hiện công
việc.
Nghị quyết 20 Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tăng cường
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình
hình mới xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao sức khoẻ cả về thể
chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người
Việt Nam. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả
và hội nhập quốc tế. Phát triển nền y học khoa học, dân tộc và đại
chúng. Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức
khoẻ. Nghề y là một nghề đặc biệt. Nhân lực ngành y tế phải đáp ứng
yêu cầu cả về chuyên môn và y đức; vì thế cần được tuyển chọn, đào
tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.
Giám định pháp y tâm thần, là một phần của giám định tư
pháp, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động tố tụng, góp
phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án một cách chính xác,

2
khách quan và tuân theo pháp luật. Nhiệm vụ chính của giám định
pháp y tâm thần là xác định các đối tượng nghi ngờ phạm tội có mắc
các rối loạn tâm thần hay không, xác định loại bệnh tâm thần và mức
độ ảnh hưởng, làm căn cứ đánh giá năng lực hành vi và trách nhiệm
pháp luật của các đối tượng.
Đối tượng hướng đến của giám định pháp y tâm thần là tình
trạng sức khỏe tâm thần, trách nhiệm pháp lý, danh dự, nhân phẩm
của con người - một trong những khách thể được Nhà nước coi trọng
bậc nhất và bảo vệ triệt để.
Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung (gọi tắt là
Trung tâm) được thành lập theo Quyết định số 677/QĐ-BYT ngày
26/02/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, với nhiệm vụ chính là thực hiện
giám định pháp y tâm thần trên địa bàn 7 tỉnh, thành phố, gồm: Thừa
Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định và thành phố Đà Nẵng theo quy định của Luật Giám định tư
pháp. Các kết luận giám định khách quan, chính xác, đúng pháp luật;
góp phần làm căn cứ cho việc định tội, lượng hình các tội danh quy
định trong phần các tội phạm của Bộ Luật Hình sự và xác định năng
lực hành vi của các vụ việc dân sự.
Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực
Miền Trung đã từng bước xây dựng được đội ngũ viên chức giỏi
chuyên môn, giàu y đức. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của quy mô
dân số, các quan hệ kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay là một sức ép lớn về số lượng công việc đối với
Trung tâm. Hơn nữa, còn tồn tại nhiều bất cập về cơ chế chính sách,
chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc... đối với đội ngũ viên chức ngành
y chuyên ngành giám định pháp y tâm thần khu vực miền Trung. Từ
thực trạng, yêu cầu và những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Tạo động
lực làm việc cho viên chức tại Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực
Miền Trung” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Quản lý công
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Cuốn sách chuyên khảo: “Quản lý nguồn nhân lực chiến lược
trong khu vực công và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam” (2013), của
Nguyễn Thị Hồng Hải, Nxb. Lao động, Hà Nội. Là kết quả nghiên
cứu chuyên khảo trong lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực nói chung và
quản lý nguồn nhân lực chiến lược trong lĩnh vực công. Tác giả đã
tập trung giải thích quản lý nguồn nhân lực chiến lược trong các tổ
chức khu vực công và áp dụng nó vào tình hình của Việt Nam. Đây
là một cách tiếp cận mới về quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực

3
công, với mục tiêu làm cho đội ngũ công chức thực sự trở thành các
chủ thể quản lý, từng bước hình thành nền hành chính linh hoạt, thích
ứng với môi trường làm việc thay đổi và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
người dân.
- Luận án Tiến sĩ “Động lực làm việc của người lao động” của
tác giả Trần Thị Huyền Trang tại KLF, Trường Đại học Thương mại
(2015). Luận án đã trình bày những cơ sở lý luận chung và thực trạng
về động lực làm việc của người lao động như khái niệm, phân loại,
nhân tố ảnh hưởng tới tạo động 6 lực cho người lao động trong các
doanh nghiệp sản xuất. Từ đó đưa ra được những ưu điểm đã đạt
được, những vấn đề còn tồn tại và tìm ra nguyên nhân để giải quyết.
Từ những nghiên cứu phân tích bảng số liệu, điều tra bảng hỏi thực
trạng công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động tác giả đã
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho
người lao động tại Công ty KLF như:hoàn thiện quy trình đào tạo
thăng tiến đối với cán bộ công nhân viên trong công ty, hoàn thiện
công tác lương và phúc lợi.
- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2015)
với đề tài “Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức
ở các cơ quan hành chính nhà nước”, Học viện Hành chính Quốc gia,
luận án tiến sỹ kinh tế. Trong luận án đã hệ thống hóa một cách cơ
bản lý luận về động lực, tạo động lực lao động, đồng thời làm sáng tỏ
nhiều điểm khác biệt về động lực và các yếu tố tạo động lực cho công
chức ở các cơ quan hành chính nhà nước so với người lao động ở khu
vực ngoài nhà nước. Luận án đã xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện
hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính nhà nước,
nhằm giải quyết được tình trạng thiếu gắn bó với khu vực công, 4
hiệu suất lao động, hiệu quả công việc thấp và các biểu hiện tiêu cực
đã và đang là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nền công vụ yếu kém.
- Sách "Quản lý công" (2015), của Trần Anh Tuấn và Nguyễn
Hữu Hải, Nxb. Chính trị quốc gia. Tác giả đã hệ thống hóa các khái
niệm liên quan đến động lực làm việc, phân loại và khảng định vai
trò của các loại động lực làm việc trong khu vực công. Ngoài ra, sách
cũng trình bày các học thuyết tiêu biểu về động lực làm việc, giúp
độc giả hiểu rõ hơn về các lý thuyết và nguyên tắc quan trọng trong
việc tạo động lực làm việc trong khu vực công.
- Luận án tiến sỹ của tác giả Chu Tuấn Anh (2022) với đề tài
“Tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế ở Việt
Nam”, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương. Luận án tiếp cận
nghiên cứu tạo động lực thông qua việc xây dựng mô hình nghiên

