intTypePromotion=1
ADSENSE

Tạo động lực và cảm hứng trong nghiên cứu khoa học - thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

22
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ cốt lõi của hầu hết các trường cao đẳng, đại học tỉnh, thành phố, ngoài hoạt động giảng dạy thì nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao tính thực tiễn, gắn kết lý luận với thực tiễn, tránh tình trạng lý thuyết suông, bởi thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, chất lượng giảng dạy sẽ được nâng cao, quá trình trao truyền kiến thức sẽ đạt hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạo động lực và cảm hứng trong nghiên cứu khoa học - thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HTKH 2019 TẠO ĐỘNG LỰC VÀ CẢM HỨNG TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THU HÀ Khoa Quản lý Hành chính, Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh Email: ng.tha@hcmca.edu.vn Tóm tắt: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ cốt lõi của hầu hết các trường cao đẳng, đại học tỉnh, thành phố, ngoài hoạt động giảng dạy thì nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao tính thực tiễn, gắn kết lý luận với thực tiễn, tránh tình trạng lý thuyết suông, bởi thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, chất lượng giảng dạy sẽ được nâng cao, quá trình trao truyền kiến thức sẽ đạt hiệu quả. Chính vì vậy, việc truyền cảm hứng và tạo động lực trong nghiên cứu khoa học là vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng để hướng đến mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”. Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, động lực nghiên cứu, khoa học. Trong Học thuyết kỳ vọng, nhà tâm lý học Victor H. Vroom cho rằng: “Con người sẽ được thúc đẩy trong việc thực hiện những công việc để đạt tới mục tiêu nếu họ tin vào giá trị của mục tiêu đó, và họ có thể thấy được rằng những công việc họ làm sẽ giúp họ đạt được mục tiêu”. Nói cách khác, Vroom chỉ ra rằng động cơ thúc đẩy là sản phẩm của giá trị mong đợi mà con người đặt vào mục tiêu và những cơ hội mà họ thấy sẽ hoàn thành được những mục tiêu đó. Như vậy, Học thuyết kỳ vọng cho rằng động lực được xây dựng dựa trên sự tin tưởng của con người về mối quan hệ giữa những nỗ lực họ đưa ra tại nơi làm việc, hiệu suất làm việc, từ đó dẫn đến nỗ lực và những phần thưởng họ nhận được từ sự nỗ lực và hiệu suất ấy. Trên thực tế, để đạt được thành công trong nghiên cứu khoa học (NCKH) nói chung và các lĩnh vực khác nói riêng đòi hỏi người nghiên cứu phải phụ thuộc vào một số yếu tố nhất định, bởi lẽ kết quả làm việc được xem như là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Năng lực làm việc phụ thuộc vào sự giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện và cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời gian. Tuy nhiên, động lực lại không như vậy, động lực cần phải thường xuyên duy trì “Bạn có thể đưa con ngựa ra tới bờ sông chứ không thể bắt nó uống nước. Ngựa chỉ uống khi nó khát và con người chỉ làm việc khi người ta muốn hoặc được động viên để làm việc”. Như vậy, trong hoạt động NCKH thì: - Năng lực nghiên cứu là tìm tòi, phát hiện ra, sáng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, tư duy thoáng không rập khuôn, sao chép; khả năng đưa ra các giải pháp độc đáo và hiệu quả để giải quyết một vấn đề khó. Tuy nhiên, yếu tố có năng lực nghiên cứu chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Nếu không có động lực nghiên cứu thì năng lực nghiên cứu sẽ không được kích hoạt, ngủ yên ở dạng tiềm năng. Có động lực nghiên cứu mới thôi thúc người ta nghiên cứu. - Động lực nghiên cứu là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Động lực càng mạnh mẽ thì năng lực nghiên cứu càng được phát huy tốt. Động lực nghiên cứu của một giảng viên, 226
  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ | 11/2019 tùy thuộc vào mỗi người, có thể là: niềm đam mê, ham nghiên cứu tìm tòi cái mới, khát vọng muốn khẳng định bản thân, muốn hơn người khác, học hàm, học vị, lợi ích kinh tế... Chúng ta có thể cụ thể hóa công thức để dẫn đến thành công trong NCKH là: Thành công trong NCKH = Năng lực nghiên cứu + Động lực nghiên cứu + Môi trường nghiên cứu tốt Vậy chúng ta cần phải đầu tư vào ba yếu tố này như thế nào? Giải pháp nào để có thể thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường mang lại hiệu quả cao nhất? Thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay như thế nào? Trước hết, phải khẳng định vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học luôn đi đôi và gắn liền với chất lượng đào tạo. Việc nhận thức đúng và tham gia có hiệu quả vào hoạt động NCKH là con đường ngắn và hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo cũng như khẳng định “uy tín” của nhà trường. Đây là hai nhiệm vụ có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động giảng dạy đặt ra cho mỗi giảng viên nhu cầu nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong mỗi bài giảng từ đó củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng góp phần giúp cho bài giảng thêm phong phú và có chiều sâu. Ngược lại, hoạt động NCKH mang lại những ý nghĩa thiết thực đối với việc giảng dạy, giúp giảng viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức chuyên môn. Quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực NCKH; thông qua việc NCKH, sẽ tăng thêm sự hiểu biết về ngành nghề, góp phần hình thành và bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp cho giảng viên, đồng thời NCKH tạo điều kiện cho giảng viên rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng phân tích, tư duy lôgic, xây dựng tinh thần hợp tác, giúp đỡ nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong quá trình nghiên cứu người viết phải thường xuyên làm việc tích cực, độc lập với sách báo, tư liệu, thâm nhập thực tế, điều tra khảo sát, phỏng vấn... Nhờ đó, không những tầm hiểu biết của giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học được mở rộng mà họ còn dần dần được cung cấp thêm những luận cứ, luận chứng sâu sắc hơn. Trong những năm vừa qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của học viện cán bộ thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả khá tốt, đóng góp tích cực vào thành tích chung của nhà trường cụ thể đó là: Thứ nhất, nhà trường đã xây dựng và ban hành Quy chế hoạt động khoa học theo hướng cân bằng hơn giữa hoạt động giảng dạy và hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên. Trong đó, xây dựng phương án quy đổi các công trình nghiên cứu khoa học trong một năm thành giờ chuẩn một cách thỏa đáng, hợp lý và lấy đó làm chỉ tiêu để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của mỗi cán bộ, giảng viên. Hàng năm, nhà trường ban hành các văn bản quy định cụ thể về công tác NCKH để nâng cao hiệu quả công tác quản lý như: xây dựng kế hoạch NCKH theo từng năm; quy định về việc đăng ký tên đề tài, tổ chức nghiệm thu và triển khai thực hiện, công tác tổng hợp báo cáo; các biểu mẫu có liên quan... Thứ hai, hội đồng khoa học nhà trường đã thực hiện nghiêm túc trong việc đánh giá, nghiệm thu các đề tài khoa học cấp khoa, cấp trường, các bài viết nội san, bài hội thảo khoa học... đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học từng năm của nhà trường. Gắn với kết quả nghiên cứu của từng đơn vị, cá nhân theo nhiệm vụ được giao và căn cứ theo kết quả hoạt động thực tế khoa (phòng)/nhà trường đã có hoạt động sơ kết/tổng kết để đánh giá hiệu quả của từng đề án/đề tài nghiên cứu và đã có những hình thức khen thưởng, đãi ngộ một cách thỏa đáng, đúng mức để có sự ghi nhận, biểu dương kịp thời làm cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại cuối năm. 227
  3. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HTKH 2019 Thứ ba, nhà trường đã tăng cường giao lưu, trao đổi, tạo diễn đàn liên kết giữa nhà trường với các sở, ban, ngành, đơn vị nghiên cứu khoa học trong và ngoài tỉnh. Chẳng hạn như việc phối hợp tổ chức hội thảo khoa học với Học viện chính trị khu vực 2, với các trường chính trị bạn như trường chính trị tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Kiên Giang, Vũng Tàu, Đại học Sài Gòn, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh... để học hỏi lẫn nhau cũng như qua đó trao đổi kinh nghiệm để cùng nhau phát triển. Mặt khác, để nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ giảng viên cũng như tạo điều kiện cho giảng viên được cọ sát nghiên cứu thực tế, nâng cao chất lượng nghiên cứu Ban Giám hiệu nhà trường đã có chính sách cử giảng viên trẻ đi nghiên cứu thực tế ở cơ sở 01 năm. Tuy nhiên, với những kết quả của hoạt động NCKH đạt được như trên thì hiện nay hoạt động NCKH của nhà trường vẫn còn một số tồn tại hạn chế như: - Trong thời gian qua, hagng năm nhà trường đều có từ 4-5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa, cấp trường và 1-2 đề tài cấp thành phố và các bài viết hội thảo, tạp chí mỗi năm. Tuy nhiên, chất lượng các bài viết chưa cao, hầu hết đều nộp chậm so với thời gian quy định và tiến độ thực hiện, mặc dù kế hoạch viết bài và NCKH đã được triển khai cách đó vài tháng. - Số lượng giảng viên tham gia nghiên cứu không nhiều. Ý thức, thái độ của một bộ phận giảng viên đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học còn bất cập, tâm lý chưa thật nhiệt tình và say mê nghiên cứu, tự bằng lòng với bản thân, thiếu tinh thần phấn đấu vươn lên xuất hiện khá phổ biến. Chẳng hạn như việc nghiên cứu những gì “ta có sẵn” trong tay hay được áp dụng để nhằm giảm thiểu chi phí thực hiện và dễ dàng hoàn thành công trình với công sức bỏ ra rất ít. - Tình trạng đối phó trong nghiên cứu khá phổ biến: Theo quy định của trường, giảng viên phải thực hiện một số lượng giờ nghiên cứu khoa học nhất định (mỗi năm tiêu chuẩn phải đạt từ 02 điểm trở lên mới đủ công trình NCKH), từ đó quy ra phải có bao nhiêu bài báo, đề tài khoa học trong một năm (mang tính chất khoán). Vì thế, nhiều giảng viên chỉ thực hiện cốt cho đủ giờ, còn lại không quan tâm lắm đến chất lượng công trình mà mình công bố miễn sao cho “hoàn thành kế hoạch” là được. - Một số đề tài khoa học cấp trường, cấp khoa sau khi đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu không có ý nghĩa thực tế, chưa thấy áp dụng dẫn tới rất nhiều công trình sau khi nghiệm thu đều được đóng bìa cứng “xếp chật tủ”. Nguyên nhân, do tư tưởng đối phó – “làm cho xong”, cũng như nhiều khi mục đích đặt ra nặng về lợi ích kinh tế nên việc “cắt - dán” hay “xào - nấu lại” là khá phổ biến trong hoạt động nghiên cứu. Điều này không mang lại hiệu quả, chắc chắn những công trình ấy không thể góp phần nâng cao trình độ của người nghiên cứu, không mang lại hiệu quả mà ngược lại, còn gây lãng phí về thời gian và tiền bạc. - Kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp khoa hoặc bài viết nội san khá eo hẹp, hạn chế chưa tương xứng với công sức bỏ ra, bởi kinh phí dành cho công tác nghiên cứu khoa học hàng năm nguồn chi thấp nên hoạt động nghiên cứu khoa học thường trong tình trạng bị động, chờ đợi, vì thế không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu và chất lượng công trình cũng không thể cao. - Hầu hết các giảng viên có khả năng nghiên cứu (và đủ điều kiện để được duyệt thực hiện đề tài) đều là những người đã có thâm niên công tác, có học hàm, học vị và cả thành tích nghiên cứu cũng như giảng dạy… Tuy nhiên, họ thường đi giảng dạy quá nhiều, ngoài ra người có khả năng nghiên cứu lại thường là lãnh đạo, quản lý nên thời gian dành cho nghiên cứu không thường xuyên và phải “tranh thủ”. Trong hoàn cảnh như thế, giảng viên còn đâu thời gian, tâm trí và sức lực để làm nghiên cứu. Cho nên, làm thế nào để có thể tạo được động lực trong công tác NCKH chuyển biến sâu hơn nữa về mặt chất lượng đòi hỏi nhà trường, Ban Giám hiệu phải có bước chuyển mình mạnh 228
  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ | 11/2019 mẽ không chỉ trong nhận thức, mà phải được chuyển hóa bằng hành động từ mỗi cá nhân và đơn vị. Làm thế nào để khi nghiên cứu tránh tâm lý “ngại”, “lười”, không nghĩ ra ý tưởng gì hay đại loại không biết làm sao để có một đề tài nghiên cứu, bắt đầu nghiên cứu từ đâu, sản phẩm sẽ là cái gì, khi bắt tay vào nghiên cứu thì không biết làm cái gì trước, cái gì sau, khi đã phát hiện ra cái mới thì sẽ phải trình bày nó như thế nào cho mọi người hiểu... thì nhà trường cần có các giải pháp tập trung vào 03 yếu tố cụ thể như đã nêu trên để tạo thành công trong NCKH: Thành công trong NCKH = Năng lực nghiên cứu + Động lực nghiên cứu + Môi trường nghiên cứu tốt Thứ nhất, năng lực nghiên cứu, bản thân mỗi một cán bộ, giảng viên phải tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo nhằm bồi dưỡng và nâng cao hơn nữa năng lực tự nghiên cứu của mỗi người. Mặt khác, đa số những người có năng lực nghiên cứu lại tham gia giảng dạy quá nhiều không có thời gian tập chung nhiều cho công tác nghiên cứu, bởi một nghịch lý là với những người có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu thì lại cũng chính họ là những người có thể đảm nhiệm và phải đảm nhiệm số giờ giảng nhiều hơn. Vì vậy, cần giới hạn, điều hòa giờ giảng của giảng viên lại sao cho hài hòa kết hợp được giữa nghiên cứu và giảng dạy một cách hiệu quả nhất. Thứ hai, động lực nghiên cứu. Ban Giám hiệu cần có các chính sách, các biện pháp quản lý tác động đến cán bộ, giảng viên nhằm làm cho họ có được động lực để làm việc cụ thể như: - Hội đồng khoa học nhà trường cần xem xét, đầu tư cần “có trọng điểm” đối với các đề tài thực sự cần thiết và có khả năng áp dụng vào tình hình thực tế của trường. Có như vậy, mới khuyến khích được cán bộ, giảng viên đảm nhiệm đề tài, nhưng bên cạnh đó, chủ nhiệm đề tài cũng phải là những người có “tâm” và đủ “tầm”, có niềm đam mê và có nhận thức đúng về vai trò của hoạt động NCKH. - Tiếp tục nghiên cứu, vận dụng cơ chế để tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhà trường cần tạo được cơ chế khuyến khích, ưu đãi, tạo động lực hơn nữa trong công tác NCKH để hoạt động này được duy trì thường xuyên và phát triển theo hướng thực chất hơn nữa. Tất nhiên, như đã phân tích ở trên chúng ta không phải tăng kinh phí một cách “bình quân chủ nghĩa”, “dàn trải”, “đánh đồng” mà nên đầu tư “có trọng tâm, trọng điểm” đối với các đề tài thực sự cần thiết và chắc chắn mang lại hiệu quả nếu được thực hiện tốt. Có như vậy mới khuyến khích được người đảm nhiệm đề tài, những người có “tâm” và đủ “tầm”. Thứ ba, tạo môi trường nghiên cứu tốt, thường xuyên phối hợp, trao đổi nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm giữa các trường chính trị ở các tỉnh, thành khác. Tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học được đi thực tế nhiều có cơ hội tiếp xúc, tham gia những hoạt động nghiên cứu, các Hội thảo khoa học. Việc này sẽ giúp phát huy được thế mạnh của mỗi trường, đồng thời tránh sự trùng lặp, chồng chéo các hướng nghiên cứu, gây lãng phí cả thời gian, chất xám và tiền bạc Tóm lại, trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta như hiện nay, những người làm công tác NCKH, nhất là cán bộ, giảng viên phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào hoạt động giảng dạy và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi biển học thì vô bờ, trên con đường học tập và nghiên cứu nhiều khái niệm, công thức có thể sẽ bị quên đi, cái còn lại lâu dài trong mỗi người học chính là phương pháp - phương pháp tư duy, phương pháp suy luận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề… mà cái đó mới quan trọng cho cuộc đời và nghề nghiệp của mỗi người. Phương pháp học tập, 229
  5. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ | HTKH 2019 kỹ năng nghiên cứu khoa học có thể thâu lượm được sau những tháng năm miệt mài học tập, rút kinh nghiệm từ những thành công và thất bại của chính chúng ta thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học. Chính vì lẽ đó, mỗi một cán bộ, giảng viên hãy làm thế nào để “thắp lửa” thúc đẩy động lực trong NCKH, bởi mọi thành công đều khởi nguồn từ cảm hứng ./. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hồ Chí Minh (1995). Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.496. [2] Phùng Văn Hiền (2017). Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học, Tạp chí Lý luận chính trị, số 06, tr.17-23. Title: CREATIVITY AND INSPIRATION IN SCIENTIFIC RESEARCH - THE ACTUAL SCIENTIFIC RESEARCH ACTIVITIES AT HO CHI MINH CITY CADRE ACADEMY Abstract: During his lifetime, President Ho Chi Minh once affirmed: “Unity between theory and practice is a fundamental principle of Marxism - Leninism. Practicing without guiding theory becomes a reality of blindness. Argument that is not related to reality is a theoretical”. In particular, scientific research activity is one of the two main tasks of most colleges and universities, besides scientific teaching activities, scientific research will contribute to improving practicality, linking theory with practice, avoiding theoretical situations, because through scientific research activities, the quality of teaching will be improved, the process of knowledge transfer will be effective. Therefore, inspiring and motivating scientific research is a very necessary and important issue towards the goal of “each university is a research institute”. Keywords: Scientific research, research motivation, science. 230
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2