Thiết b x lý fluor trong nước
Hàm lượng fluor trong nước ung qlớn hoặc quá nhỏ đều các tác động
bất li đến sức khỏe con người. Hàm ng fluor tối ưu trong nước uống
nằm trong khoảng từ 0,5 - 1 mg/lít. Sdụng nước uống m lượng fluor
là nguyên nhân ca bệnh fluorosis, làm ảnh hưởng đến răng, ơng, khớp
các ca các quan trong thể. Vì vy, việc đầu tư nghiên cứu c
giải pháp ng ngh phù hợp nhằm x hàm lượng fluor trong nước
uống cho những vùng ô nhim là một điu hết sức cần thiết.
Dựa trên nguyên tắc của phương pháp xử fluor trong nước uống bằng
oxit nhôm hoạt tính, Viện Khoa học vật liệu ng dụng (Viện KH&CN Việt
Nam) đã thành ng trong điều chế oxit nhôm t các nguồn nguyên liu
trong nước trên sở đó đã nghiên cứu thiết kế bộ lọc fluor phù hợp với
các đặc điểm sử dụng ca vùng nông thôn Việt Nam, gọi là bộ lọc Flowat.
Nguyên tắc sử dụng bộ lọc Flowat bao gồm các bước sau: nước nguồn đã
lọc hết tạp chất cơ học được tiếp c vi lp oxit nhôm hoạt tính, c này
các ion fluor trong nước được trao đổi và gili trong lớp oxit nhôm hoạt
tính. Tùy thuộc vào dung lượng trao đổi ca lớp oxit nhôm hoạt tính, m
lượng fluor trong nước xử ng dần. Với mục đích xử nước uống, quá
trình vn hành vi m lượng fluor trong nước xử mức dưới 0,7 mg/lít
được xem như chu trình làm vic của thiết bị. Khi m lượng fluor trong
nước xử lý đạt mức 0,7 mg/lít, kết thúc chu trình làm việc.
Sau mỗi chu trình m vic, lớp oxit nhôm được khôi phục hoạt tính bằng
việc cho tiếp xúc vi một lượng nhất định dung dịch nhôm sulfat nồng độ
2% (dung dch i sinh). Quá trình tiếp c này m giải phóng lượng ion
fluor đã hp phụ trong lp oxit nhôm hoạt tính trong chu trình làm việc, khôi
phục lại hoạt tính ca lớp oxit nhôm đối vi ion fluor. Sau quá trình i sinh,
lớp oxit nhôm được tráng rửa bằng một lượng nước nguồn để làm sạch
lượng dung dịch i sinh còn dư m trên lớp oxit nhôm. Khi công đoạn xả
rửa kết thúc, thiết bị được tiếp tục vi chu trình làm việc mới.
Để việc vận hành thiết bị được thuận tiện phù hợp với điều kin nông thôn,
tùy thuộc vào m lượng fluor trong nước nguồn và nhu cầu dùng nước,
lượng oxit nhôm hoạt tính được tính toán để chu trình m vic ca thiết b
kéo i trong một tháng. Nvậy, người sdụng chỉ cần tiến hành ng
đoạn tái sinh và xả rửa theo định kỳ 1 lần/tháng.
Hthống y đưa không khí ô nhiễm qua một môi trường lọc sinh học như
phân trn hoặc mùn cưa. Sinh vật ống trong vật liệu sẽ phá vỡ và tập trung
các chất ô nhiễm hiệu quả như trong các máy lọc sinh học sử dụng cho b
môi trường nước. Khi phi thay môi trường, các vật liu này sđược
sử dụng làm phân bón cho cy trồng vì nó có là nguồn nigiá trị.
Việc sdụng hệ thống lọc không knày slàm ng chi pcủa nông n,
vy, các nhà nghiên cứu đang hy vọng bù đắp phần chi phí này bng cách
đưa vào một h thống làm m không khí. Sử dụng mt thiết b chuyển đổi
nhiệt, nhận nhiệt từ cả phần không khí ô nhiễm, m và c phn ng sinh
hóa din ra trong quá trình lọc sinh học.
Những công nghệ này phi kể đến việc sử dụng một số nguyên liệu như bọt
biển hấp thu cacbon, muối nóng chy và vi khun. Hiện nay, một nhóm nhà
khoa học đang khng định thành công trong hấp thu cacbon vi quy trình đạt
hiệu sut loại bỏ cacbon oxit cao nhất trong các s liệu đã từng được báo cáo
đối vi không khí ẩm… và công nghệ này sử dụng môt loại polyme thông
dụng và rtiền.