
Thư pháp và hội họa Trung Quốc
Ý nghĩa biểu tượng trong
hội hoạ Trung Quốc
Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh Trung Quốc, ấn tượng ban đầu
của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh vẽ
có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như thế, hay tác giả
muốn gởi gấm điều gì qua bức tranh ấy, có lẽ không ít người lúng túng tìm câu
giải đáp.
Ở đây chúng ta sẽ không xét tới những hoạ phẩm của những tác giả
hiện đại chịu ảnh hưởng những trường phái hội hoạ Tây phương (như phái ấn
tượng, phái siêu thực, v.v...) mà chính tác giả mới hiểu hoặc không ai hiểu gì cả
(kể cả tác giả). Chúng ta cũng không xét tới các hoạ phẩm mang tính chất tôn giáo
bởi vì mục đích của tranh đã thấy rõ. Chúng ta sẽ xét những bức tranh mang đậm
nét truyền thống, thậm chí dân gian, để thấy ý nghĩa biểu tượng được gởi gấm
trong đó. Thí dụ như tranh có các chủ đề như: hoa điểu, rồng, ngựa, vượn, cá, tùng
hạc, sơn thuỷ, v.v...
Đối với loại tranh này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng thì quan trọng
hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện (thuật ngữ chuyên môn gọi là kỹ pháp
技法). Tác giả có thể dùng công bút 工笔 (tức là lối vẽ tỉ mỉ, bất cứ vật gì cũng có
đường viền thậm chí cọng cỏ hay chiếc lá, rồi tô màu lên); hoặc dùng ý bút 意笔
(tức là lối vẽ phóng khoáng, loại bỏ hoặc rất hạn chế đường viền, thậm chí một nét
bút cũng thành lá lan hay cọng cỏ). Tác giả cũng có thể dùng màu sắc rực rỡ tươi
thắm, hoặc màu sắc nhàn nhạt lạnh lẽo, thậm chí vẽ toàn mực đen (thuật ngữ gọi là

Thư pháp và hội họa Trung Quốc
mặc hoạ 墨畫). Dù sao mặc lòng, tất cả điều ấy cũng chỉ là những hình thức thể
hiện đa dạng, mà mục đích chủ yếu là nhằm chuyển tải một ý nghĩa biểu tượng
nào đó.
Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống
người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là
quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên
niên 松鶴延年), v.v... Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình.
Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm)
người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng
nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ
Hán ngư 魚 (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ dư 餘 (dư thừa, dư dật).
Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ
9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán cửu 九 (số 9) đồng âm [jiǔ]
với chữ cửu 久(lâu dài, trường cửu). Cửu ngư 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú]
giống như cửu dư 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả
mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm
mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài»
trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa»,
«xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời
biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn
ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.

Thư pháp và hội họa Trung Quốc
Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ
Trung Quốc. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là
thuỷ mạc) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một
mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Trung Quốc. Hai chữ sơn thuỷ có ý nghĩa triết lý
thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần sơn 山 là núi non, thuỷ 水 là sông
nước.
Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui
chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân
trường thọ.» 知(智)者樂水, 仁者樂山, 知(智)者動, 仁者靜, 知(智)者樂, 仁者壽
(Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân
giả thọ.– Luận Ngữ - Ung Dã).
Tranh của Đường Dần (đời Minh)

Thư pháp và hội họa Trung Quốc
Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng
dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo.
Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài
tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !»
逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – Luận Ngữ - Tử Hãn).
Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không
ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý
mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về
bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.
Người nhân ái và trí tuệ xưa nay hiếm. Trong cõi trần ai, ngay bản thân
kẻ nhân và trí cũng không biết tìm đâu ra bạn tri âm tri kỷ. Không biết tìm đâu,
nên mượn tranh sơn thuỷ để ký thác tâm tình, gởi gấm nỗi niềm. Nhưng triết lý
của sơn thuỷ có lẽ là do giới thưởng ngoạn đời sau gán cho. Thuở xa xưa, chắc gì
các hoạ gia đã nghĩ như thế.
Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥 (hoa và chim chóc). Về hoa,
các văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa
tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm

Thư pháp và hội họa Trung Quốc
này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc
là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.»
菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也 (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã;
mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).

