
Nam.Các ngành kinh tế Việt Nam đang tạo được đà phát triển mới như may mặc,
giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng điện tử, thủ công mỹ nghệ… BTA vừa ràng buộc,
vừa làm cơ sở để Việt Nam bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện toàn bộ hệ thống luật
pháp của mình, làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam đồng bộ, thống nhất, ổn định
và tương thích với hệ thống luật pháp quốc tế hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho
việc trao đổi buôn bán hàng hoá giữa hai nước nói riêng và quốc tế nói chung dễ
dàng hơn. Hơn thế nữa BTA sẽ tạo cho Việt Nam những bước đi trong hội nhập
quốc tế vững vàng, tự tin và hiệu quả hơn và khai thác tốt hơn khả năng của nền
kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường, giúp Việt Nam sớm gia nhập
W.T.O . Việc áp dụng qui chế MFN (Most Favoured Nation) trong hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
Hoa Kỳ tăng lên nhanh chóng. Thuế nhập khẩu hàng hoá Việt Nam giảm bình quân
từ 40 - 70% xuống còn 3-7%, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã tăng ngoạn
mục: từ 50 triệu USD năm 2001 lên 2,5 tỷ USD năm 2003 và 2004. Ưu đãi lớn nhất
của qui chế MFN là giảm và miễn thuế các sản phẩm từ những nước chưa được
hưởng qui chế MFN vào Hoa Kỳ chịu thuế xuất - nhập khẩu gần 6 đến 12 lần sản
phẩm xuất khẩu của các nước được hưởng qui chế này. Nhờ được hưởng quy chế
MFN nên nhiều nước và l•nh thổ đang phát triển ở Châu á đã thành công trên còn
đường phát triển kinh tế với tiến độ rất nhanh, điển hình là Singapore, Thái Lan,
Hàn Quốc, Đài Loan,….. Việc dành được quy chế MFN trong hiệp định BTA đã
mở ra triển vọng cho Việt Nam được hưởng quy chế GSP (Generalized System of
Preferences) của Hoa Kỳ .Các nước được hưởng quy chế GSP của Hoa Kỳ sẽ được
phép xuất khẩu một số sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ với ưu đãi thuế quan bằng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

O. Hiện có hơn 100 nước được hưởng quy chế GSP của Hoa Kỳ trong đó có Thái
Lan, Malaysia, Philipine, ấn Độ,… Và nếu Việt Nam được hưởng GSP thì hàng dệt
may Việt Nam sẽ có cơ hội để cạnh tranh với hàng dệt may của Trung Quốc, Hồng
Kông, Đài Loan…trên thị trường Hoa Kỳ.
Thứ ba, Hoa Kỳ hiện tại là một thị trường lớn cho ngành công nghiệp dệt may Việt
Nam, đây là triển vọng khá sáng sủa bởi vì nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của
Hoa Kỳ rất lớn. Tổng giá trị nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ vào năm 2002 là
72.18 tỉ USD, vào năm 2003 là 77.43 tỉ USD… Hoa Kỳ là nước nhập khẩu hàng
hoá với khối lượng và quy mô lớn, quan điểm trong chính sách kinh tế của họ là
nhập siêu hàng hoá và xuất siêu dịch vụ. Do vậy, Việt Nam chúng ta cần phải tích
cực hơn nữa trong việc hoạch định các chiến lược để thâm nhập và mở rộng thị
trường này đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may - dự định biến Hoa Kỳ thành thị
trường xuất khẩu chính trong tương lai.
b. Những thách thức đối với các doanh nghiệp dệt may khi thâm nhập thị trường
Hoa Kỳ.
* Các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam rất lớn như: Trung Quốc, Hồng Kông, Đài
Loan, ấn Độ… đây là những quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu hàng dệt may vào thị
trường Hoa Kỳ cũng như EU… kể từ ngày 1/1/2005, các nước Trung Quốc, ấn
Độ… được bãi bỏ hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ. Ngoài ra các
nước này còn được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (Generalized System of
Preferences) của Hoa Kỳ nên sức cạnh tranh hàng dệt may của họ rất lớn, mà điển
hình là Trung Quốc có số lượng hàng dệt may xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng như Eu
với một kỷ lục chưa bao giờ có kể từ khi Trung Quốc được gia nhập vào W.T.O
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

cách đây 3 năm. Hàng dệt may giá rẻ do Trung Quốc sản xuất đã và đang thống trị
thị trường quốc tế. Mức tăng trưởng mặt hàng này của Trung Quốc quá nhanh sau
1/1/2005. Các loại áo sơ mi cotton và quần tăng 1.250% trong quý I/2005, đặc biệt
là quần cotton tăng 1.500%, đồ lót tăng 300%. Khối lượng hàng dệt may giá rẻ do
Trung Quốc sản xuất đã và đang ồ ạt thâm nhập thị trường Mỹ và EU làm cho hàng
nghìn các doanh nghiệp, cũng như công nhân các nước này phải đóng cửa và nghỉ
việc. Theo hiệp hội quốc tế các nghiệp đoàn tự do (ICFTU), ngành dệt may thế giới
đang đứng trước nguy cơ mất 40 triệu việc làm sau khi chế độ hạn ngạch dệt may
dỡ bỏ báo cáo của ICFTU cho rằng, việc xoá bỏ hạn ngạch dệt may dẫn đến nhiều
nước chuyên xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch như: Bangladesh, Campuchia,
Philipine,Việt Nam, Nam Phi, Dominica, Goatemala và Morixơ… phải đối đầu với
cuộc cạnh tranh hàng dệt may của Trung Quốc và ấn Độ giá rẻ.
* Hạn ngạch (quota) có thể nói là vấn đề bức xúc nhất cho các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam hiện nay. Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã bị hạn ngạch khống
chế ở mức 1,8 tỉ USD (tương đương với 400 triệu đơn vị sản phẩm). Sức cạnh tranh
thấp do bị áp đặt hạn ngạch đã làm giảm từ 5-7% thậm chí 10% khả năng xuất khẩu
so với các nước đã dỡ bỏ hạn ngạch. Tình trạng bị áp đặt hạn ngạch cũng làm cho
xuất khẩu mặt hàng dệt may giảm xuống rõ rệt: từ 1.824 triệu USD trong 10 tháng
đầu năm 2003 giảm xuống còn 1.563 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2004, giảm
15%. Như vậy, các nước Trung Quốc, ấn Độ, vừa không bị áp đặt hạn ngạch, lại
vừa được hưởng lượng ưu đãi thuế quan phổ cập trong khi Việt Nam đối với thị
trường Hoa Kỳ vẫn bị áp đặt hạn ngạch và việc điều hành hạn ngạch cũng còn nhiều
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

bất cập sẽ trở thành thách thức, khó khăn lớn cho hàng dệt may Việt Nam thâm
nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
*Hàng hoá của Việt Nam vẫn bị phân biệt đối xử về thuế và các biện pháp phi thuế
quan như bị áp dụng các điều khoản tự vệ, chống bán phá giá mà Hoa Kỳ sẽ sử
dụng, đặc biệt là đối với hàng dệt may của Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ là một
rào cản lớn cho hàng dệt may Việt Nam thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
* Hàng dệt may Việt Nam cũng chưa phong phú về chủng loại, số lượng nhỏ chất
lượng thấp, giá thành cao, nên sức cạnh tranh và tiêu thụ không mạnh. Tỷ lệ gia
công qua nước thứ ba cao, nên lợi nhuận thấp và không phù hợp với tập quán kinh
doanh của Hoa Kỳ. Đây là khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam đang
gặp phải, họ đã phải sử dụng mô hình CMT để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, trong
mô hình này, các Công ty Việt Nam nhận đơn đặt hàng từ các nước trung gian khác
như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc đây là những nước sẽ thực hiện mọi công
việc tiếp thị và tài chính cung cấp thiết kế và nguyên liệu cho Công ty Việt Nam để
may thành thành phẩm và chuyển đi sang thị trường Hoa Kỳ. Bởi vậy, các doanh
nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình và
phải thu hút đầu tư trực tiếp của các Công ty Hoa Kỳ và nước ngoài để xây dựng
các cơ sở sản xuất hiện đại, quy mô lớn, giá thành hạ, chất lượng cao thì mới thu
được lợi nhuận cao và có khả năng cạnh tranh được với các quốc gia khác khi xuất
khẩu hàng vào Hoa Kỳ.
* Hiệp định đa sợi cũng là một rào cản cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi
thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Vì hiệp định đa sợi khuyến khích các nước xuất
khẩu sản phẩm dệt may có nguyên phụ liệu được sản xuất tại nước xuất khẩu, trong
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

đó nguyên - phụ liệu đang là vấn đề nan giải cho ngành dệt may Việt Nam, hiện tại
ngành may Việt Nam đang phải nhập khẩu từ 70 - 80% nguyên - phụ liệu từ nước
ngoài. Mặc dù trong những năm qua, chính phủ rất quan tâm đến phát triển diện tích
trồng bông, nhưng do khí hậu và thổ nhưỡng nước ta chưa phù hợp, nên diện tích và
sản lượng bông trong những năm qua, tuy có tăng nhưng không đáng kể. Đặc biệt,
vụ bông vừa qua, diện tích trồng bị thu hẹp, làm sản lượng giảm 20% so với những
vụ trước. Nguyên nhân là do người nông dân chuyển sang trồng cây khác, hạn hán
kéo dài đã làm nhiều vùng trồng bông mất trắng hàng nghìn hecta, không cho thu
hoạch. Còn phụ liệu trong nước cũng đã có một số nhà máy sản xuất nhưng không
đáng kể chỉ đáp ứng được khoảng 20 - 25% nhu cầu của ngành.
* Khó khăn nữa là trong việc chiếm lĩnh và giữ mặt hàng dệt may vào thị trường
Hoa Kỳ nếu Việt Nam chưa là thành viên của W.T.O cuối năm 2005 thì các nhà
nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ rút đơn đặt hàng của họ cho các thành viên khác của W.T.O
* Năng lực quản lý, kỹ thuật sản xuất và đảm bảo xuất khẩu ổn định, việc thực hiện
liên doanh, hợp tác, liên kết trong sản xuất để giữ vững thị phần hàng may mặc còn
khó khăn.
3. Vai trò của công tác xúc tiến thương mại để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ
Để thâm nhập thị trường rộng lớn này, công tác xúc tiến thương mại là rất quan
trọng và phải được quan tâm ở cấp Nhà nước và từng doanh nghiệp.
* Về phía Nhà nước cần xây dựng các chương trình xúc tiến xuất khẩu.
Nếu cả Nhà nước và doanh nghiệp có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong công tác
xúc tiến thương mại thì em nghĩ rằng để đưa sản phẩm dệt may cuả đất nước mình
vào Hoa Kỳ là không khó. Nhà nước đã giao cho Bộ thương mại xây dựng cụ thể
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

