
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
………/…… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ ANH NHƯ Ý
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI –
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Công trình được hoàn thành tại:
H
ỌC VIỆN H
ÀNH CHÍNH QU
ỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HUỲNH VĂN THỚI
Phản biện 1: ....................................................................
Phản biện 2: ...................................................................
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng ....., Giảng đường B, Phân viện Học viện
Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế.
Số 201 đường Phan Bội Châu, phường Trường An, thành
phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Thời gian: Vào hồi ... giờ...phút....ngày .. tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành
chính quốc gia hoặc tại trang Web Khoa Sau đại học, Học viện
Hành chính quốc gia

1
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở lựa chọn đề tài
Hiện nay, phụ nữ ngày càng thể hiện, khẳng định rõ được
vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam được coi là một chế
định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định trong hệ thống pháp luật,
là cơ sở để thể chế hóa các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước
trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ta đã và đang có
những chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng
giới từ yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội đồng thời là chủ
trương, đường lối củ Đảng, Nhà nước, nhu cầu của phụ nữ, của nhân
dân và của xã hội hiện nay.
Hoạt động bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận,
phát triển bền vững đất nước. Đây là chủ trương của Đảng và Nhà
nước, là nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế, xã hội. Việc ngày
càng phát triển của đất nước đặt ra yêu cầu to lớn phải hoàn thiện hệ
thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh
các hoạt động của xã hội, mặt khác tạo điều kiện cho phụ nữ được
bình đẳng phát triển, cống hiến nhằm thực hiên đầy đủ quyền con
người, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội và hội
nhập quốc tế. Hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ra đời là một nhu
cầu tất yếu khách quan của Nhà nước ta. Đây là quá trình vận động
và phát triển của nền kinh tế. Do chất lượng cuộc sống ngày càng
được nâng cao nên người phụ nữ ngày càng nhận thức được vai trò
của mình trong xã hội, đòi hỏi quyền lợi của mình cao hơn về quyền
lợi cũng như việc tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội
một cách bình đẳng và ngang bằng với nam giới.
Vấn đề pháp luật về bình đẳng giới được điều chỉnh trong
Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29 tháng 11 năm 2006 đồng thời
đươc quy định trong các văn bản chuyên ngành có liên quan và
những văn bản hướng dẫn có giá trị pháp lý thấp hơn. Hệ thống pháp

2
luật này đã đạt được nhiều hiệu quả trong việc duy trì sự bình đẳng
về mọi mặt của nam và nữ, bảo vệ quyền lợi của mọi công dân trên
tinh thần Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực
hiện hoạt động bình đẳng giới có những vấn đề cần được quan tâm
và giải quyết, tại một số địa phương vẫn có những tình trang bất bình
đẳng, không coi trọng người phụ nữ do những định kiến xã hội,
những quan niệm trọng nam khinh nữ. Đây là một trong những thực
tế cần được quan tâm và chấn chỉnh nhằm tạo điều kiện cho người
phụ nữ được thực hiện những quyền và nghĩa vụ như nam giới, cùng
tạo môi trường quốc tế chuyên nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới đồng thời thấy được
những thực tiễn áp dụng của nó vào đời sống kinh tế, xã hội là một
vấn đề bức thiết và có hiệu quả trong việc tạo môi trường cho người
phụ nữ được thực hiện vai trò của mình trong xã hội. Từ các quy
định của pháp luật, việc thực hiện bình đẳng giới của một số địa
phương cũng khác nhau do điều kiện địa lý, phong tục tập quán và
những vấn đề liên quan đến nhận thức, phat triển kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, để pháp luật bình đẳng giới đi vào thực tiễn của địa
phương được hiệu quả cần phải có những chính sách, chiến lược phù
hợp đang là yêu cầu cấp thiết.
Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Thực hiện
pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, đây là
điều kiện để rà soát lại các quy định của pháp luật về bình đẳng giới
để chỉ ra những điểm vướng mắc trong pháp luật và trong quá trình
thực hiện để tìm ra giải pháp hoàn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu
Với tình hình hiện nay, khi mà vấn đề bình đẳng giới là xu
thế tất yếu, đang ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm của
cộng đồng thế giới nói chung và người dân Việt Nam nói riêng thì
việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bình đẳng giới cũng
ngày càng trở nên bức thiết hơn. Việc nghiên cứu vấn đề trên cả hai
phương diện lý luận và thực tiễn sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn
diện và cụ thể hơn về pháp luật hiện hành của nước ta.

3
- GS Lê Thi (1998) “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi
men ở Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, là một trong những công
trình nghiên cứu chỉ rõ thực trạng đời sống lao động nữ trong giai
đoạn đổi mới của đất nước và những vấn đề cần quan tâm giải quyết.
- GS Lê Thi (1999): “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới
ở Việt Nam”, “ Việc làm, đời song phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt
Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau,
các nhà khoa học đã làm rõ sự cần thiết phải tạo các điều kiện, cơ hội đề
người phụ nữ nông thôn được vươn lên, phát huy vai trò của mình trong
công cuộc đổi mới hiện nay.
- Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000)
“Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai tr của người phụ nữ
trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đề tài này
chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ
cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình
đẳng giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ
rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập chính cho gia đình đồng
thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định lớn
trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế
của người phụ nữ được khẳng định hơn đối với các vấn đề này.
- TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại
Hà Nội), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã chỉ ra, trong
thời kỳ đổi mới đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm
cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa
dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm
việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao động nữ.
- Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một
vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công
trình nghiên cứu này đã phân tích về sự biến đổi gia đình ngày nay,
cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, các
yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di cư, sự biến đổi của định
hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa

