TIỂU LUẬN:
Thực trạng công tác quản
thu thuế khu vực NQD
Lời mở đầu
Năm 2001 năm chuyển giao thiên niên kỷ, năm đầu triển khai thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng IX nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2001-2005 đặt ra
trách nhiệm lớn cho quan thuế các cấp.
Mặc nhiều yếu tố không thuận lợi, do tình hình xuất khẩu hàng hoá
gặp nhiều k khăn, thiên tai lớn xảy ra một số tỉnh ĐBSCL và miền Trung...
nhưng được sự chỉ đạo của Đảng, của Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ i
chính, sự phối hợp tích cực của các ngành, các cấp, toàn ngành thuế đã nỗ lực phấn
đấu liên tục, chủ động khai thác nguồn thu, tăng cường các biện pháp chống thất
thu, chống nợ đọng đối với các sắc thuế, các khu vực trong phạm vi cả nước. Để
góp phần thực hiện các luật thuế mới, đặc biệt luật thuế GTGT và luật thuế
TNDN, công tác chỉ đạo và quản thu theo quy trình mới đã nhiều chuyển biến
tích cực, các doanh nghiệp tự khai, tự tính thuế nộp thuế theo quy định,
quan thuế xoá bỏ chế đ chuyên quản doanh nghiệp, nhiều biện pháp nghiệp vụ
hành thu được chú trọng củng cố và phát huy.
So với năm 2000, tổng thu NSNN tăng 12,1%; trong đó thu nội địa do ngành
thuế quản tăng 10,3%; cả nước 61/61 địa phương hoàn thành hoàn thành
ợt dự toán được giao. áp dụng các luật thuế và quy trình quản thu thuế mới
nhưng nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá ở mức gần 7%.
Mặc nhiều địa phương đã hoàn thành toàn diện ba chỉ tiêu chính (doanh
nghiệp Nhà nước, ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài),
trong đó số thu từ khu vực ngoài quốc doanh (NQD) năm 2001 tăng 12,6% so với
năm 2000, nhưng số thuế thu được từ khu vực này vẫn còn thất thu nhiều về hộ và
doanh thu tính thuế. Tình trạng để sót hộ, khoán doanh thu với mức thuế chưa sát
với hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế, ghi chép sổ sách kế toán
chỉ hình thức...đã làm số thu từ khu vực NQD chưa tương xứng với tốc độ tăng
trưởng kinh tế và mức độ kinh doanh ở khu vực này.
Số thu từ khu vực KTNQD chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu NSNN,
song công tác quản thuế đối với khu vực này mang ý nghĩa hết sức quan trọng,
không chí góp phần tăng thu cho NSNN mà chính thực hiện vai trò quản của
nhà nước đối với khu vực KTNQD, góp phần thực hiện sự bình đẳng công bằng
hội. Xuất phát tý nghĩa trên, đề tài: Giải pháp hoàn thiện công tác quản
thu thuế đối với khu vực ngoài quốc doanh Cục thuế nộivới mục tiêu:
dựa trên sở luận cũng như những đánh giá về thực trạng, ưu nhược điểm của
công tác quản thu thuế khu vực NQD trong những m qua trên địa bàn thành
phố nội - trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, hội của cả nước, một môi
trường thuận lợi phát triển kinh tế NQD, từ đó chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một s
giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế trên địa bàn.
Công tác quản thu thuế đối với khu vực NQD rất rộng, đa dạng và phức
tạp. Phạm vi đề tài chỉ tập trung vào những giải pháp hoàn thiện công tác quản
thu đối với hai luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
đối với khu vực NQD trên địa bàn quản lý của Cục thuế Hà nội.
Về nội dung của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận có ba phần chính:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương I: Những vấn đề cơ bn về công tác quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh:
I. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh:
Trong định hướng xã hội chủ nghĩa về việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, báo cáo chính trị của Ban chấp nh Trung ương Đảng khoá VI tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định yêu cầu:
- Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần. Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động vn tối đa mọi nguồn lực bên trong
bên ngoài cho CNH - HĐH, nâng cao hiệu quả kinh tế hội, cải thiện đời
sống nhân dân m mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành
phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh.
- Chủ động đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước, kinh
tế hợp tác. Kinh tế Nnước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác dần
trở thành nền tảng. Tạo điều kiện pháp lý và kinh tế thuận lợi để các nhà kinh doanh
nhân yên m đầu tư m ăn laau dài, mở rộng các nh thức liên doanh, liên kết
giữa kinh tế Nhà nước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước, áp
dụng phổ biến các hình thức tư bản Nhà nước.
Như vậy, trong gần 30 năm miền Bắc gần 10 năm miền Nam,
KTNQD đã không được chấp nhận, đối tượng phải cải tạo, xoá bỏ, hạn chế. Đại
hội Đảng lần thứ VI với chủ trương xây dựng nề kinh tế thị trường nhiều thành phần
squản của Nhà nước, khu vực KTNQD đã được thừa nhận một khu vực
quan trọng của nền kinh tế.
I.1. Kinh tế thị trường và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Việc nghiên cứu KTNQD nói chung thuế đối với KTNQD nói riêng đều
không thể tách rời việc nghiên cứu những đặc điểm của môi trường mà KTNQD tồn
tại và phát triển. Đó chính là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trườngsự
quản của Nhà nước theo định hướng XHCN. Việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung sang chế thị trường một nội dung bao trùm nhất của công cuộc
đổi mới. Cho đến nay, chế thị trường đã đi vào cuộc sống tạo ra nhiều bién
đổi lớn trong đời sống kinh tế hội. Trong đó, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều
thành phần một tất yếu khách quan, cần thiết để giải phóng sức sản xuất xã hội,
giải phóng mọi tiềm năng về vốn, lao động, kinh nghiệm... góp phần thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Nếu xét trên giác độ sở hữu quản lý, nền kinh tế được chia m hai khu
vực: khu vực kinh tế trong nước khu vực vốn đầu nước ngoài. Khu vực
kinh tế trong nước hiện nay năm thành phần kinh tế: thành phần kinh tế Nhà
nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh
tế thể, thành phần kinh tế bản Nhà nước; tất cả tồn tại trên sở ba loại hình
sở hữu chủ yếu là sở hữu Nhà nước, shữu tập thể và sở hữu tư nhân.
Nếu xét trên giác độ chức năng mục tiêu, nền kinh tế gồm hai khu vực:
kinh tế quốc doanh (chủ yếu thực hiện chức năng dịch vcông cộng mục tiêu là
lợi ích chung của toàn hội) kinh tế ngoài quốc doanh (chủ yếu m chức năng
kinh doanh vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận). Trong cấu sản xuất hội,
KTNQD được coi là một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác
định tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội và quan điểm chính trị của mỗi quốc gia trong
từng giai đoạn khác nhau. Tại Việt nam, khu vực KTNQD tồn tại dưới các hình
thức: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cphàn, hợp tác xã, tổ sản
xuất, hộ kinh doanh thể... Từ m 1986 đến nay, khu vực KTNQD đã tạo ra
khoảng 50% tổng sản phẩm trong nước, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp mỗi năm.
Khu vực này bộc lộ nhiều vai trò không thể phủ nhận, nhất là trong tình hình kinh tế
hiện nay:
- Thứ nhất, khu vực KTNQD góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của
nền kinh tế. Cùng với khu vực KTQD, KTNQD cộng sự đắc lực đào xới những
mảnh đất màu mỡ của nền kinh tế chưa được sử dụng đến. Các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay
những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lượng tri thức như công nghệ thông tin cũng