Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen vùng đồng bằng sông Cửu Long

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

25
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu của nghiên cứu từ báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2014 - 2017 và phỏng vấn trực tiếp 06 chuyên gia, 140 nông dân, 20 thương lái và 10 cơ sở chế biến.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen vùng đồng bằng sông Cửu Long

  1. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SEN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THE STATUS OF PRODUCTION AND CONSUMPTION OF LOTUS IN THE MEKONG DELTA, VIETNAM Võ Thị Bé Thơ*, Nguyễn Tri Khiêm** * Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang, ** Trường Đại học Nam Cần Thơ vtbtho@angiang.gov.vn TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu của nghiên cứu từ báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2014 - 2017 và phỏng vấn trực tiếp 06 chuyên gia, 140 nông dân, 20 thương lái và 10 cơ sở chế biến. Phương pháp nghiên cứu là phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp so sánh, phân tích SWOT, phân tích chuỗi giá trị. Kết quả cho thấy, sản lượng và diện tích trồng sen tại Đồng bằng sông Cửu Long rất biến động và thị trường tiêu thụ không ổn định. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển ngành hàng sen bền vững trong 3 khâu sau: trong khâu sản xuất cần xây dựng quy trình trồng theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ và tăng chất lượng sản phẩm. Trong khâu chế biến cần áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong khâu tiêu thụ cần mở rộng thị trường trong nước và hướng đến xuất khẩu. Từ khóa: Ngành hàng sen, sản lượng sen, thị trường sen. ABSTRACT The study aims to analyze the status of production and consumption of lotus in The Mekong Delta. Data used in this study collected from the Department of Agriculture and Rural Development for the period 2014 to 2017 and by direct interview of 06 experts, 140 farmers, 20 traders and 10 processing companies. The research used descriptive statistical methods, test comparison, SWOT and value chain analysis. The results showed that lotus production and farming area in The Mekong Delta are highly volatile and the market is not stable. Recommended measures to develop lotus products sustainably in the following three spheres: in the production stage, should be planted according to GAP, organic standards and improve product quality; in the processing stage, it is necessary to apply technology to meet market demand; in the consumption stage, to explore further expansion of the domestic and export market. Keywords: Lotus products, lotus output, lotus market. 1. Giới thiệu Đồng bằng sông Cửu Long có trên 3,8 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm hơn 27% diện tích đất nông nghiệp cả nước, là trung tâm sản xuất và cung cấp nông sản lớn cả nước, đóng góp gần 55% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuất khẩu cả nước, 70% sản lượng trái cây và hơn 40% giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Tuy sản lượng nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long lớn nhưng tăng trưởng kinh tế nói chung và nông nghiệp của vùng nói riêng chưa vững chắc, tiềm năng và lợi thế của vùng vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Những tác động của biến đổi khí hậu đã làm cho ngành lúa gạo đối mặt với nhiều khó khăn, xuất khẩu gạo năm 2016 bị giảm 26,5% về sản lượng và giảm 22,4% về giá. Trong bối cảnh này, sen được nhiều nông dân lựa chọn chuyển đổi từ 2 - 3 vụ lúa/năm sang 01 vụ lúa kết hợp trồng sen, nuôi cá và du lịch sinh thái bởi sen là cây trồng thân thiện với môi trường, phù hợp với thổ nhưỡng vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng tốt với điều kiện biến đổi khí hậu, tăng khả năng trữ lũ, bồi lắng phù sa, góp phần cải tạo chất lượng đất, nước và tạo giá trị kinh tế cao. Tổng sản lượng sen Đồng bằng sông Cửu Long năm 2017 khoản 1,2 triệu bông sen, hơn 8 nghìn tấn gương sen, 2 nghìn tấn ngó sen và gần 3 nghìn tấn củ sen. Bên cạnh việc bán các sản phẩm tươi như gương sen, ngó sen, củ sen và sen lụa; các sản phẩm chế biến từ sen rất đa dạng tùy thuộc vào các kênh 1184
  2. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 sản phẩm: kênh thực phẩm (hạt sen sấy bơ, sữa hạt sen, rượu sen, ...), kênh dược liệu (trà tim sen túi lọc, trà lá sen túi lọc, thực phẩm chức năng cholessen, viên uống giảm cân…), kênh mỹ phẩm (xà bông sen, nước hoa sen...), kênh nghệ thuật (tranh sen 3D, sen sấy khô, quạt sen, đồng hồ sen…). Đặc biệt, các sản phẩm tiềm năng có giá trị gia tăng cao như lụa sen được tạo ra từ tơ sen, giấy được tạo ra từ đài sen, tinh dầu sen được chiết xuất từ hoa sen… Tuy nhiên, trong 4 năm qua (2014 - 2017), diện tích và sản lượng sen liên tục giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau và còn nhiều điểm nghẽn liên quan đến các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ sen. Do đó, nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen Đồng bằng sông Cửu Long; phân tích SWOT và phân tích chuỗi giá trị ngành hàng sen. Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển chuỗi ngành hàng sen vùng Đồng bằng sông Cửu Long một cách bền vững. 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu thu thập số liệu, tổng hợp từ các tổ chức liên quan, phỏng vấn trực tiếp KIP (Key Person Interview) tham vấn ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học về những tồn tại và định hướng phát triển ngành hàng trong thời gian tới. Phân tích SWOT phân tích điểm mạnh/thuận lợi, điểm yếu/khó khăn, cơ hội và nguy cơ của một vấn đề, một hiện tượng, một tác nhân, một tổ chức, một sản phẩm hay một ngành hàng để có những chiến lược nhằm giúp cho sự phát triển và hạn chế rủi ro. Nội dung phân tích SWOT bao gồm: - S (Điểm mạnh): Những yếu tố thuận lợi, nguồn lực bên trong thúc đẩy góp phần phát triển tốt hơn (xảy ra trong hiện tại). - W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp bên trong làm hạn chế phát triển (xảy ra trong hiện tại). - O (Cơ hội): là những yếu tố tác động bên ngoài tạo cơ hội phát triển (xảy ra trong tương lai). - T (Nguy cơ/thách thức): Những yếu tố bên ngoài có khả năng tạo ra những kết quả xấu, những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển (xảy ra trong tương lai). Bảng 1: Ma trận SWOT SWOT O: Những cơ hội T: Những thách thức Các chiến lược SO Các chiến lược ST S: Những điểm mạnh Sử dụng các điểm mạnh để tận dụng Vượt qua các bất trắc bằng cách tận dụng cơ hội những điểm mạnh Các chiến lược WO Các chiến lược WT W: Những điểm yếu Hạn chế các mặt yếu để lợi dụng cơ Tối thiểu hóa những điểm yếu và tránh hội khỏi các nguy cơ Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế - IUCN và các nghiên cứu có liên quan đến ngành hàng trồng trọt nói chung và trồng sen nói riêng. Do đặc thù ngành hàng sen mới phát triển vài năm gần đây nên chưa có dữ liệu chính thức trên Tổng Cục Thống kê mà chỉ có các báo cáo hàng năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại các tỉnh. Số liệu về diện tích và sản lượng sen sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ năm 2014 - 2017. Phỏng vấn trực tiếp 140 nông hộ trồng sen ở An Giang (40 hộ), Đồng Tháp (40 hộ), Long An (40 hộ), Sóc Trăng (20 hộ); 20 thương lái ở An Giang (08 thương lái), Đồng Tháp (05 thương lái), Long An (05 thương lái), Sóc Trăng (02 thương lái); và 10 cơ sở chế biến về việc sản xuất, chế biến sản phẩm từ sen tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng bản câu hỏi cấu trúc. Phỏng vấn người am hiểu (KIP) bao gồm nhà khoa học, nhà quản lý ngành nông nghiệp các tỉnh, hợp tác xã, tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN về sản xuất, tiêu thụ sen bằng bản câu hỏi bán cấu trúc (Bảng 2). 1185
  3. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 Bảng 2: Cơ cấu quan sát mẫu thực trạng sản xuất và tiêu thụ sen Đồng bằng sông Cửu Long Số quan STT Đối tượng Phương pháp Nội dung phỏng vấn sát mẫu Phương pháp ngẫu 1 Nông dân 140 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sen nhiên có điều kiện Phương pháp theo liên 2 Thương lái 20 Tình hình tiêu thụ các sản phẩm sen tươi kết chuỗi Phương pháp theo liên Tình hình chế biến và tiêu thụ các sản 3 Cơ sở chế biến 10 kết chuỗi phẩm chế biến từ sen Nhận định về tình hình sản xuất, chế 4 Nhà hỗ trợ chuỗi 06 Phỏng vấn KIP biến và tiêu thụ sen Tổng cộng 176 3. Kết quả và thảo luận Tổng quan về giá trị của cây sen Cây sen có tên khoa học là Nelumbo nucifera GAERTN hay Nelumbium speciosum Will, thuộc họ Nelumbonaceae, dạng sinh trưởng là nê thực vật (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Tất cả các bộ phận của cây sen đều được sử dụng làm thuốc, thuộc nhóm an thần theo danh mục vị thuốc ban hành kèm Quyết định số 03/2005/QĐ-BYT ngày 24/1/2005 của Bộ Y tế và có giá trị dinh dưỡng. Hạt sen không chỉ giàu tinh bột mà còn là nguồn cung cấp thành phần khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Chính vì vậy, hạt sen được sử dụng sớm nhất và phổ biến nhất ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á (Priestley and Posthumus, 1982) không chỉ là nguồn thực phẩm mà còn nhờ đặc tính dược. Các điều tra gần đây đã chứng minh rằng, hạt sen có chứa nhiều dinh dưỡng và các chất hoạt tính sinh học, chẳng hạn như phospholipid, protein, amino acid, vitamin, đường, khoáng chất cần thiết (Man et al., 2012), alkaloids và flavonoid (Rai et al., 2006; Chen et al., 2007). Hạt sen cũng được sử dụng để điều trị viêm mô, ung thư, thuốc lợi tiểu, và một số bệnh ngoài da và sử dụng như nguồn thuốc cổ truyền ở Trung Quốc (Liu et al., 2004). Các thử nghiệm dược cho thấy rằng hạt sen có tác dụng hạ sốt mạnh, làm mát, giảm đau, chống oxi hóa (Yen et al., 2006; Xu et al., 2015). Ngó sen được dùng trong các món ăn phổ biến của các nước trên thế giới do đặc tính cấu trúc giòn, hấp dẫn với màu trắng, giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng cao chất xơ, vitamin và các chất dinh dưỡng khác (Xing et al., 2010; Wang et al, 2014). Ngó sen được tiêu thụ như rau tươi và được chế biến thành các món gỏi, ngó sen ngâm chua. Trong ngó sen có asparagin 2%, arginin, trigonellin, tyrosine, eter photphoric, glucose, vitamin C. Ngó sen có tác dụng cầm máu (Đỗ Tất Lợi, 2004). Ngoài ra ngó sen còn có tác dụng trị cảm cúm, ho, hen suyễn, chống mất ngủ, mệt mỏi, suy nhược thần kinh, chống lão hóa, làm đẹp da, chữa nám, lành sẹo (Wang et al, 2014). Củ sen là một trong những loại rau cung cấp nguồn năng lượng lớn. Trong 100g củ sen chứa 74 calories, 4,9 g hay 13% nhu cầu chất xơ cho mỗi bữa ăn. Chất xơ, cùng với những hợp phần carbohydrate phức tạp của củ sen giúp làm giảm hàm lượng cholesterol, đường trong máu, chống táo bón và giữ cho thân hình cân đối. Củ sen còn là một trong những nguồn giàu vitamin C, một số nhóm vitamin B như: vitamin B6, folate (B9), niacine (B12), riboflavine, acid pantothenic và thiamine. Hơn nữa, đây còn là nguồn cung cấp một lượng khoáng quan trọng như đồng, sắt, kẽm, magie và mangan (Hujjatullah et al., 1967). Cùng với sắt, đồng cũng cần thiết trong việc hình thành tế bào máu. Vị ngọt, giòn của củ sen là do sự cân bằng điện giải với tỷ lệ thích hợp của Na và K là 1: 4. Trong khi natri tạo vị ngọt, potassium (K) chống lại các tác động tiêu cực của Na bằng cách điều hòa nhịp tim và huyết áp. Ngoài ra, củ sen được dùng làm thuốc bổ, nấu ăn trị bệnh tiêu chảy, kiết lị (Pulok, 2011). Tâm sen chứa hàm lượng alcaloid toàn phần là 1,23% bao gồm 4 thành phần của alcaloid (nuciferin, N-nornuciferin, liriodenin, Norarmepavin) và các flavonoid quercetin và isoquercetin. Tâm sen 1186
  4. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 vừa dùng để nấu trà uống giúp giải nhiệt, an thần vừa dùng để làm điều trị các trường hợp thổ huyết, ho ra máu, an thần. Lá sen dùng gói thực phẩm, gói bánh hấp – món ăn truyền thống của nhiều nước Đông Nam Á. Lá sen có tác dụng đối với can, tì, vị, chữa các bệnh thấp, phù thũng, nôn, ra máu, chảy máu cam... Gương sen có tác dụng vào các kinh mạch thuộc tỳ, thận và can giúp trị nhiều bệnh tật như: cầm máu, xuất huyết tử cung, giúp an thai, ổn định bào thai, tránh được hư thai… Nhị sen có tác dụng trị di tinh, hoạt tinh, trị thổ huyết, băng huyết, chảy máu mũi. Ngoài các giá trị về dinh dưỡng và giá trị dược tính, các phụ phẩm từ sen cũng mang lại giá trị kinh tế cao như: bột gương sen dùng để sản xuất nhang và giấy, sản xuất tơ lụa từ tơ sen, các vật trang trí, vật lưu niệm từ các sản phẩm sen sấy khô như quạt sen, tranh sen, đồng hồ sen… Tình hình sản xuất và tiêu thụ sen trên thế giới Sen được trồng nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á, Nga và một số nước châu Phi. Sen cũng được trồng ở châu Âu và châu Mỹ, nhưng với mục đích trang trí hơn là thực phẩm (Nguyen Quoc Vong, 2001). Sen được trồng ở Trung Quốc ít nhất từ thế kỹ 12 trước công nguyên (Herklot, 1972). Hạt sen và củ sen được sử dụng làm thực phẩm hơn 3000 năm (Herklot, 1972; Liu, 1994). Sen được trồng khắp Trung Quốc, đặc biệt ở những tỉnh có nhiều ao hồ kênh rạch. Diện tích trồng sen của Trung Quốc trên 140.000 ha (Liu, 1994), năng suất sen bình quân 22,5 tấn củ/ha. Sản lượng trên 3 triệu tấn củ/năm. Thời vụ thu hoạch củ sen của Trung Quốc kéo dài từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau. Có 3 loại sen được trồng ở Trung Quốc và tùy vào mục đích sử dụng. Có những giống chuyên cho gương hay hạt sen (Lian-zi, Lian-mi), có những giống cho bông (Lian-hua, Her-ha) và có những giống cho củ sen (Lian-ngau, Ou-han). Trong những giống sen có màu sắc hoa, hàm lượng tinh bột trong hạt sen và chịu được các mực nước khác nhau. Ở Viện Nghiên cứu Thực vật Wuban, Trung Quốc, có 125 giống sen trồng được đưa vào nghiên cứu. Các giống sen của Nhật Bản được du nhập từ Trung Quốc vào 500 năm sau công nguyên (Takahashi, 1994) và được trồng rộng rãi từ đảo Hokkaido đến đảo Kyushu. Giống sen nguyên thủy có nguồn gốc Nhật Bản chuyên cho hoa để trang trí (Hanabasu). Những giống sen cho củ (renkon) hiện nay được du nhập từ Trung Quốc trong thời kỳ 1911 - 1937. Các giống sen trồng ở Nhật được phân thành nhóm có nguồn gốc từ Nhật và từ Trung Quốc. Hầu hết, giống sen trồng như Tenno cho hoa đỏ và Aichi cho hoa trắng, có củ thon dài, thuộc nhóm ngắn ngày và trung mùa. Giống sen Trung Quốc như Shina Shirobana, Bitchu có thời gian sinh trưởng dài hơn nhưng cho năng suất cao và kháng bệnh tốt hơn. Hoa sen trồng trong các công viên quốc gia, chùa chiền, lăng tẩm Nhật với mục đích tạo sinh cảnh. Giống sen lấy củ được trồng ở một số ít tỉnh ở miền Trung và miền Nam nước Nhật. Diện tích sen canh tác năm 1998 là 4.900 ha, tập trung ở tỉnh Ibaragi (1650 ha), Tokuhima (711 ha), Aichi (474 ha), Saga (311 ha), Yamaguchi (309 ha), Niigata (278 ha) và Okayama (164 ha) (Anonymous, 2000). Nhật Bản là thị trường củ sen chính trên thế giới. Năm 1982, sản lượng củ sen của Nhật đạt 82.200 tấn trên diện tích 6.350 ha thì năm 1998 chỉ còn 71.900 tấn trên diện tích 4.900 ha, giảm 1.450 ha so 16 năm trước. Thời vụ thu hoạch sen chính từ tháng 9 đến tháng 5. Sen thu hoạch trong tháng 8 được trồng trong nhà kính. Do đó, tháng 6 và tháng 7 giá củ sen trên rất cao, bình quân 664-1.182 Yen/kg (5-9 USD/kg). Những tháng khác, giá của sen bình quân 317 Yen/kg (2,43 USD/kg). Nhật Bản tiêu thụ mỗi năm 90.000-100.000 tấn củ sen. Do đó, kể từ năm 1995, Nhật phải nhập 20.000 tấn/năm, chủ yếu từ Trung Quốc, dưới dạng chế biến, củ sen tươi nhập rất ít. Trung Quốc cũng không đáp ứng nhu cầu củ sen của Nhật vào tháng 6 và tháng 7, vì cũng ngoài thời vụ thu hoạch. Thị trường bán sỉ hạt sen của Đài Loan rất mạnh, giá hạt sen cao gấp đôi so với giá củ sen. Trong khi, sản lượng hạt của Đài Loan chỉ bằng 5% sản lượng củ sen. Thời vụ thu hoạch củ sen của Đài Loan 1187
  5. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11, tập trung vào tháng 8. Sản lượng củ sen tiêu thụ ở Đài Loan giảm từ 750 tấn năm 1987 xuống còn 600 tấn năm 1993. Nhưng giá củ sen tăng từ 25-30 Đài tệ/kg (0,9-1,1 USD/kg) lên 55 Đài tệ/kg (2 USD/kg). Năm 1995, diện tích canh tác sen của Hàn Quốc là 291 ha, đạt sản lượng 9.261 tấn củ (Anon, 1997). Năng suất củ sen trung bình của Hàn Quốc là 31,83 tấn/ha. Thời vụ thu hoạch củ sen từ tháng 8 - 12. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sen ở Việt Nam Ở Việt Nam, chưa có số liệu thống kê chính xác về sen. Ước tính tổng diện tích sen khoảng 3.000 ha. Cây sen ở Việt Nam chủ yếu là giống hoang dại địa phương, được trồng làm cảnh hay trồng quảng canh. Hiện nay, ngoài những giống sen hoang dại, Đồng bằng sông Cửu Long có các tỉnh như An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre,… đã có một diện tích trồng sen khá lớn với ba nhóm sen chính là sen lấy hột, lấy củ và lấy ngó (Nguyễn Khắc Mỹ, 2001). Năm 1990 - 1996, tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng có trồng sen lấy củ bán cho Công ty Meko xuất qua Nhật Bản. Năm 1996, xuất qua Nhật được 3 tấn củ sen muối với giá CIF 343 Yen/kg, năm 1997 xuất được 50 tấn với giá CIF 93 Yen/kg (Nguyen Quoc Vong, 2001). Hiện nay, cây sen được trồng luân canh hoặc thay thế cho cây lúa trên những vùng đất bị nhiễm phèn, vùng bị ngập nước, những vùng đất sản xuất lúa kém hiệu quả. Trồng cây sen kết hợp với nuôi cá và du lịch sinh thái mùa lũ vừa giúp cải thiện thu nhập cho người dân vừa tăng cường trữ nước thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tổng quan diện tích trồng sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Năm 2017, tổng diện tích trồng sen các tỉnh ĐBSCL là 5.481 ha tăng 282% so với năm 2014 (Bảng 3). Trong đó các tỉnh như Đồng Tháp, An Giang và Long An có diện tích chiếm gần 95,68% diện tích trồng sen toàn vùng (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bốn tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, 2017). Diện tích trồng sen tăng là do lúa là cây trồng truyền thống gặp nhiều khó khăn, như dịch bệnh xuất hiện nhiều do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và giá cả không ổn định. Trong khi đó, cây sen là đối tượng phù hợp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên vùng đất lúa nhiễm phèn nặng, năng suất thấp và chịu ảnh hưởng ngập lũ hằng năm để cải thiện thu nhập cho nông dân. Thời gian qua, vùng đất nhiễm phèn nặng vốn chỉ có trồng cây tràm và lúa thì vài năm gần đây đã phát triển mạnh mô hình trồng sen lấy ngó (Long An), lấy hạt (An Giang, Đồng Tháp, Long An), lấy củ (Sóc Trăng) và lấy bông (An Giang). Bảng 3: Tổng diện tích trồng sen theo tỉnh giai đoạn 2014 - 2017 Đơn vị tính: ha TT Tỉnh 2014 2015 2016 2017 1 An Giang 78 183 59 1.618 2 Đồng Tháp 1.258 1.265 849 892 3 Sóc Trăng 242 4 Long An 606 1.174 1.632 2.729 Tổng 1.942 2.622 2.540 5.481 Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bốn tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, 2014 - 2017 Tổng quan sản lượng sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Đồng Tháp là tỉnh có diện tích trồng sen lấy hạt lớn nhất cả nước với diện tích khoảng 750 ha (Nguyễn Khắc Mỹ, 2001). Từ năm 2014 - 2017, sen khu vực ĐBSCL được xem là vùng nguyên liệu sen lớn nhất cả nước. Năm 2017, toàn vùng thu hoạch khoảng 1,2 triệu bông sen, hơn 8 nghìn tấn gương, 2 nghìn tấn ngó sen và gần 3 nghìn tấn củ sen, giảm 98% bông sen, tăng 863% gương sen, tăng 104% ngó sen và phát triển thêm sản phẩm củ sen so với tổng sản lượng trong vòng bốn năm (Bảng 4). Bên cạnh đó, năng suất trung bình thu hoạch các sản phẩm từ sen như gương sen, củ sen, ngó sen chưa cao (Bảng 5), 1188
  6. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 nguyên nhân là thiếu nguồn giống chất lượng cao, chưa có biện pháp kiểm soát dịch bệnh, nhất là bệnh thối ngó chạy dây, kỹ thuật canh tác của người dân còn hạn chế. Mô hình trồng sen cho hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa (Bảng 6). Bảng 4: Tổng sản lượng sen theo tỉnh giai đoạn 2014 - 2017 Tỉnh 2014 2015 2016 2017 1.210.000 bông An Giang 1.205.000 bông 4.219.000 bông 1.362.000 bông 864 tấn gương Đồng Tháp 985 tấn gương 984 tấn gương 682 tấn gương 705 tấn gương Sóc Trăng 2.745 tấn củ 3.917 tấn gương 6.927 tấn gương Long An 2.169 tấn ngó 4.449 tấn ngó 1.722 tấn ngó 2.264 tấn ngó 1.210.000 bông 57.848.000 bông 4.219.000 bông 1.362.000 bông 8.496 tấn gương Tổng 985 tấn gương 984 tấn gương 4.599 tấn gương 2.264 tấn ngó 2.169 tấn ngó 4.449 tấn ngó 1.722 tấn ngó 2.745 tấn củ Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bốn tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, 2014 - 2017 Bảng 5: Năng suất trung bình các sản phẩm thu hoạch từ cây sen giai đoạn 2014 - 2017 Đơn vị tính: tạ/ha Sản phẩm 2014 2015 2016 2017 Bông sen (An Giang) 15.449 23.052 23.084 22.830 Gương sen (Đồng Tháp) 23,4 23,34 24 23,7 Gương sen (Long An) 31,6 31,3 Ngó sen (Long An) 35,8 37,9 43,9 44,1 Củ sen (Sóc Trăng) 113,43 Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bốn tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, 2014 - 2017 Bảng 6: So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng sen và lúa cả năm (ha) TT Mô hình Tổng thu (nghìn đồng) Lợi nhuận (nghìn đồng) 1 Chuyên canh sen lấy ngó1 168.000 132.000 2 Luân canh sen lấy ngó và lúa1 116.300 58.300 3 Chuyên canh sen lấy hạt1 109.600 73.600 4 Luân canh sen lấy hạt và lúa1 101.820 50.920 5 Chuyên canh lúa 2 vụ1 71.300 32.300 6 Chuyên canh sen lấy củ2 113.400 78.770 Tổng quan thị trường sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Sen vùng ĐBSCL chủ yếu tiêu thụ nội địa qua thương lái và hộ bán lẻ. Với đặc thù ngành hàng theo mùa nên giá cả không ổn định, thường giá thấp vào chính mùa (tháng 7 và tháng 8) và giá cao vào nghịch mùa (tháng 02 và tháng 03). Đa phần giá sen là do thương lái quy định và thường xuyên hạ giá mua đối với nông dân (Bảng 7). Thị trường tiêu thụ sen phân ra theo sản phẩm với giá khác nhau. 1 Nguyễn Minh Chơn (2018). Tài liệu giới thiệu về cây sen. Trường Đại học Cần Thơ. 2018. 2 Lê Thị Nhiên (2015), Đánh giá hiện trạng canh tác sen lấy củ ở tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Long An và so sánh năng suất của 6 giống sen lấy củ tại tỉnh Long An. 1189
  7. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 Bảng 7: Bảng giá bán lẻ sen các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long TT Loại sản phẩm Đơn giá đồng/kg 1 Bông sen 5.000 - 10.000/bông 2 Lá sen 7.000 - 10.000 3 Gương sen 30.000 – 50.000 4 Hạt sen lụa bóc vỏ thông tim 140.000 – 180.000 5 Hạt sen khô đen 80.000 – 110.000 6 Ngó sen 30.000 – 40.000 7 Củ sen 40.000 – 50.000 8 Tim sen 250.000 – 300.000 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 Ngoài các sản phẩm tươi từ cây sen, các sản phẩm chế biến từ sen rất đa dạng như: trà tim sen, trà lá sen túi lọc, trà hoa sen, trà hạt sen túi lọc, trà ngó sen túi lọc, rượu sen, hạt sen sấy,… cũng đang được thị trường quan tâm (Bảng 8). Bảng 8: Bảng giá bán lẻ các sản phẩm chế biến từ sen vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đơn vị tính: đồng/đơn vị sản phẩm TT Sản phẩm Quy cách sản phẩm Thành phần sen Đơn giá 2 gr/túi lọc x 30 túi 1 Trà tâm sen Hà Diệp Liên 100% tâm sen 75.000 lọc/hộp 2 Trà hoa sen Hà Diệp Liên 20 hoa/hộp 100% hoa sen 250.000 2 gr/túi lọc x 30 túi 3 Trà lá sen Hà Diệp Liên 100% lá sen 65.000 lọc/hộp 2 gr/túi lọc x 30 túi 4 Trà hạt sen Hà Diệp Liên 100% hạt sen 65.000 lọc/hộp 2 gr/túi lọc x 30 túi 5 Trà củ sen Hà Diệp Liên 100% củ sen 70.000 lọc/hộp 6 Sữa hạt sen Mekong Xanh 280 ml/chai 100% hạt sen 12.000 7 Bột sữa hạt sen Ba Tre 300 gr/hộp 100% hạt sen 90.000 8 Hạt sen sấy Nam Huy 40 gr/túi 20.500 9 Ngó sen sấy giòn 200 gr/hộp 100% ngó sen 22.000 10 Củ sen sấy Chợ Quê 1.000 gr/túi 100% củ sen 450.000 11 Hồng sen tửu 500 ml/chai Tâm, hạt, củ, ngó sen, lá sen 150.000 12 Hồng sen tửu (cao cấp) 1.000 ml/chai Tâm, hạt, củ, ngó sen, lá sen 700.000 Hộp chữ nhật - Gỗ thông 419.000 13 Hộp giấy (26 x 15 x 11) - Lá Sen sấy khô - Túi cói 14 Túi cói đính Lá Sen 360.000 - Lá Sen sấy khô - Ly trụ cao 15 Ly sen thủy tinh 469.000 - Hoa, lá, gương sen sấy khô 16 Hoa sen khô 150.000 17 Tranh sen 3D Size: 30x30 Hoa, lá và hoa sen sấy khô 1.250.000 18 Gương sen già có hạt Gương sen già sấy khô 70.000 1190
  8. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 19 Gương sen già không hạt Gương sen già không hạt sấy khô 50.000 Sổ tay giấy kraft với bìa sổ được 20 Sổ tay sen 189.000 ép lá sen 21 Quạt lá sen Lá sen ép thẳng sấy khô 139.000 Mặt đồng hồ làm bằng lá sen và 22 Đồng hồ sen các chữ số được cắt từ cánh hoa 319.000 sen 23 Nón lá sen 189.000 24 Mẹt lá sen 280.000 Hộp 200 cây – 30cm 25 Nhang sen Liên Tâm 100% gương sen 100.000 Bột lá sen đắp mặt nạ 26 68 gr/hủ 100% lá sen 68.000 Sen Quê - Chiết xuất từ cánh hoa 27 Xà bông sen 50 gr/hộp 80.000 - Bột lá sen 28 Nước hoa sen 100 ml/chai Chiết xuất từ cánh hoa 160.000 29 Tinh lá sen tươi OB 75 gr/hộp 100% lá sen 296.000 30 Tinh bột lá sen 100 gr/túi 100% lá sen 150.000 31 Vải sợi sen Belluni Tơ sen Thực phẩm chức năng - Cao chiết lá sen: 350mg 32 30 viên/hộp 140.000 cholessen - Cao chiết táo mèo: 100mg Viên uống giảm cân Hà Diệp - Cao lá sen: 1000 mg 33 30 viên/hộp 150.000 Liên - Cao giảo cổ lam: 500mg - Cao lá sen: 50mg - Cao hoàng bá: 100mg Thực phẩm bảo vệ sức khỏe - Chiết xuất tỏi: 60mg 34 210.000 Lipid Cleanz - Alpha Lipoic Acid: 25mg - Vitamin B5: 20mg - Curcuma phospholipid: 10mg Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 4. Đánh giá Qua phân tích dữ liệu thứ cấp từ các nguồn khác nhau, phỏng vấn KIP và phỏng vấn trực tiếp 140 nông dân, 20 thương lái và 10 cơ sở chế biến, sản xuất sen, kết quả phân tích SWOT, ngành hàng sen vùng Đồng bằng sông Cửu Long như sau: 4.1. Những thuận lợi ngành hàng sen Thuận lợi trong khâu sản xuất: Bảng 9: Các yếu tố thuận lợi trong khâu sản xuất Nhân tố Tỷ lệ khảo sát Dễ trồng, phù hợp với đất đai kém màu mỡ, đất phèn, trũng nước 89% Hiệu quả kinh tế cao gấp 3 lần sản xuất lúa 78% Nông dân có nhiều kinh nghiệm trong canh tác sen 85% Được tập huấn kỹ thuật canh tác 70% Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 1191
  9. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 Thuận lợi trong khâu chế biến: Bảng 10: Các yếu tố thuận lợi trong khâu chế biến Nhân tố Tỷ lệ khảo sát (%) Đa dạng các sản phẩm chế biến từ các thành phần của sen 22 Có máy móc, thiết bị trong chế biến sản phẩm từ sen 58 Tận dụng lao động nhàn rỗi tại địa phương 57 Nguồn nguyên liệu sen lớn 66 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 Thuận lợi trong khâu tiêu thụ: Bảng 11: Các yếu tố thuận lợi trong khâu tiêu thụ Nhân tố Tỷ lệ khảo sát (%) Giao thông thuận lợi cho việc mua bán 65 Giao dịch mua bán dễ dàng 60 Có các tác nhân trong khâu thương mại tại khu vực ĐBSCL 47 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 4.2. Những khó khăn ngành hàng sen Khó khăn trong khâu sản xuất: Bảng 12: Các yếu tố khó khăn trong khâu sản xuất Nhân tố Tỷ lệ khảo sát (%) Thiếu nguồn giống chất lượng tốt 89 Dịch bệnh trên sen nhiều và khó trị 91 Sen chưa đạt chuẩn chất lượng 42 Thiếu vốn sản xuất 37 Chưa có máy móc trong khâu thu hoạch sen, chỉ thu hoạch bằng tay 100 Khó thuê mướn lao động do thu hoạch sen khó khăn 26 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 Khó khăn trong khâu chế biến: Bảng 13: Các yếu tố khó khăn trong khâu chế biến Nhân tố Tỷ lệ khảo sát (%) Thiếu vốn sản xuất do chi phí đầu tư kho trữ, dây chuyền sản xuất cao 25 Giá nguyên liệu sen dao động cao giữa các thời điểm 43 Thiếu thiết bị, máy móc sơ chế sen 69 Giá cả lao động trong khâu sơ chế và chế biến sen có xu hướng gia tăng 6 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 Khó khăn trong khâu tiêu thụ: Bảng 14: Các yếu tố khó khăn trong khâu tiêu thụ Nhân tố Tỷ lệ khảo sát (%) Nông dân thiếu thông tin thị trường 51 Thị trường không ổn định về số lượng và giá cả 59 Chưa liên kết sản xuất - tiêu thụ 69 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018 1192
  10. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 4.3. Những cơ hội ngành hàng sen - Việt Nam là thành viên CPTPP, EVFTA. - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế - IUCN triển khai nhiều dự án hỗ trợ phát triển nghề trồng sen và liên kết tiêu thụ sản phẩm. - Nhiều chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp các cấp trong sản xuất và tiêu thụ sen. - Thương hiệu sản phẩm sen ngày càng được khẳng định trên thị trường với đa dạng sản phẩm sản xuất từ các thành phần của sen. 4.4. Những thách thức ngành hàng sen - Khách hàng đòi hỏi về chất lượng sản phẩm ngày càng cao, có nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. - Cạnh tranh toàn cầu, nhiều nước phát triển sen. 4.5. Các chiến lược phát triển ngành hàng sen Qua phân tích thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với chuỗi ngành hàng sen, nhóm nghiên cứu đề xuất các chiến lược phát triển ngành hàng sen một cách bền vững, cụ thể như sau: Chiến lược thúc đẩy, phát triển SO: Khâu sản xuất: - Tập huấn cho nông dân nâng cao ý thức về sử dụng phân bón hữu cơ, tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bị cấm và áp dụng các qui trình sản xuất nông nghiệp tốt như VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ với qui mô lớn, sản phẩm đạt chất lượng, có truy xuất nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng. Khâu chế biến: - Tăng cường nghiên cứu chế biến các sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm mới và các sản phẩm từ phế phẩm sen như tinh dầu sen, giấy làm từ bột sen,… Khâu tiêu thụ: - Bảo đảm cung cấp sản phẩm sạch, chất lượng theo yêu cầu thị trường có giá trị gia tăng cao. - Nâng cao kiến thức về hoạt động kinh tế hợp tác cho các tác nhân tham gia chuỗi ngành hàng sen để liên kết sản xuất và tiêu thụ sen và các sản phẩm từ sen một cách bền vững. Chiến lược điều chỉnh WO: Khâu sản xuất: - Nghiên cứu cải tạo chất lượng giống sen, giống xác nhận, giống kháng bệnh cao. - Nghiên cứu sản xuất máy móc trong khâu thu hoạch sen để thay thế lao động thủ công. - Thành lập và hỗ trợ các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất sen qui mô lớn, cùng quy trình kỹ thuật và đạt chuẩn chất lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng. Khâu chế biến: - Nghiên cứu sản xuất máy bóc vỏ hạt sen đạt năng suất cao hơn (hiện tại chỉ đạt 65%), máy thông tim sen tự động (hiện tại là máy bán tự động), sản xuất máy tách hạt sen khỏi gương và máy kéo sợi tơ từ thân sen. 1193
  11. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 Khâu tiêu thụ: - Nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã chủ động tìm hiểu thị trường, sản xuất và kinh doanh theo hợp đồng, nâng cao năng lực ký kết và thương lượng hợp đồng và tránh xảy ra trường hợp bội tính với người mua, để tạo thị trường tiêu thụ ổn định. Chiến lược đối phó, thích ứng ST Khâu sản xuất: - Hỗ trợ chứng nhận và tái chứng nhận trồng sen theo tiêu chuẩn GAP, mã vùng trồng để truy xuất nguồn gốc. Khâu chế biến: - Các sản phẩm giá trị gia tăng hiện có cần tăng cường đạt chuẩn, đưa vào siêu thị và xuất khẩu; Cần được hỗ trợ vay vốn ưu đãi mua máy móc chế biến thay cho việc làm thủ công. Khâu tiêu thụ: - Tập huấn về xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm sen, sản phẩm có truy xuất nguồn gốc để cạnh tranh toàn cầu trong giai đoạn hội nhập sâu rộng. Chiến lược phòng thủ WT Khâu sản xuất: - Phát triển liên kết dọc nối kết các chủ vựa sen trong và ngoài vùng, công ty chế biến sản phẩm từ sen để dự báo quy hoạch sản xuất phù hợp cho từng vụ, từng năm nhằm giữ giá ổn định, tránh hiện tượng giá cao, thiếu nguyên liệu sen vào mùa nghịch và giá thấp vào mùa chính vụ. Khâu chế biến: - Liên kết chặt chẽ với nông dân, hợp tác xã sản xuất sen để điều tiết nguyên liệu sen đảm bảo nguồn cung thường xuyên, tránh hiện tượng thiếu nguồn nguyên liệu vào giai đoạn cận tết. Khâu tiêu thụ: - Tập huấn nông dân, các tổ hợp tác, hợp tác xã, thương lái, chủ vựa sen, cơ sở chế biến sen các kiến thức về thị trường nói chung, sen nói riêng và phát triển bền vững nông nghiệp dựa trên cách tiếp cận chuỗi giá trị nhằm thay đổi tư duy trong sản xuất và quản lý theo cách tiếp cận chuỗi giá trị. 5. Kết luận Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích trồng sen lớn nhất cả nước (5.481ha năm 2017), được trồng nhiều nhất ở Long An (2.729 ha) và các vùng đất nhiễm phèn nặng, vùng trũng, không phù hợp với nhiều cây trồng khác. Sen thích ứng tốt với điều kiện biến đổi khí hậu, tăng khả năng trữ lũ, góp phần cải tạo chất lượng đất, nước và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn lúa ở các địa phương này. Tuy nhiên, trong 4 năm qua (2014-2017), diện tích và sản lượng sen liên tục giảm do thoái hóa giống (89%), nhiều sâu bệnh (91%), nông dân ít sử dụng phân hữu cơ và thiếu cơ giới hóa trong khâu thu hoạch sen đã ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sen, giá cả sen lại không ổn định. Mặc dù các thành phần từ sen đều có giá trị kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng cao như lụa từ tơ sen, tranh sen, sản phẩm trang trí từ sen, trà hoa sen, trà tâm sen,... nhưng trong khâu thu hoạch hầu hết đều bằng tay (100%), khâu sơ chế lại chưa có máy móc hiện đại (69%). Mặt khác, thiếu vốn để đầu tư kho bãi dự trữ, các máy móc chế biến các sản phẩm từ sen có giá trị kinh tế cao, nhất là tinh dầu sen; đặc biệt chưa tận dụng hết các phụ phẩm từ sen để làm giấy, nhang sen, lụa sen. Thị trường tiêu thụ sen và các sản phẩm từ sen vùng ĐBSCL đã vươn đến hơn 40 tỉnh trong thành nước và xuất khẩu nhưng với số lượng chưa nhiều và vẫn còn thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân, tổ 1194
  12. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 hợp tác, hợp tác xã, thương lái và công ty chế biến sản phẩm từ sen theo chuỗi giá trị (69%). Do tính mùa vụ nên thị trường sen không ổn định, giá cả dao động nhiều lần giữa mùa nghịch và mùa thuận (59%). Từ kết quả nghiên cứu trên, để phát triển ngành hàng sen khu vực Đồng bằng sông Cửu Long những giải pháp sau đây được đề xuất: Trong khâu sản xuất, để đảm bảo nguồn nguyên liệu sen chất lượng và giá cả ổn định cho các doanh nghiệp chế biến, cần thực hiện việc liên kết ngang giữa các hộ trồng sen với nhau, để họ có thể chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và trồng theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; và làm tăng khả năng liên kết giữa người trồng với doanh nghiệp chế biến để đảm bảo chất lượng theo nhu cầu thị trường. Trong khâu chế biến, giải pháp được đề xuất là cần tăng cường và củng cố mạnh mẽ hơn mối liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến. Trong đó, các doanh nghiệp chế biến cần có kế hoạch phân chia thị trường, phân chia thế mạnh sản phẩm của doanh nghiệp mình; đồng thời, liên kết sản xuất theo qui mô lớn, nâng cao chất lượng, nghiên cứu các sản phẩm mới, các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm và kết nối đầu ra. Trong khâu tiêu thụ, cần tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng để sản phẩm sen đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng. Tăng cường nghiên cứu, tìm hiểu về thông tin dự báo thị trường từ các Hiệp hội Doanh nghiệp, Cục Xúc tiến, Thương mại để tăng cường chế biến các sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường. Song song đó, rất cần các nhà hỗ trợ chuỗi ngành hàng sen nghiên cứu phát triển nguồn giống sen chất lượng, khả năng kháng bệnh tốt, và nghiên cứu sản xuất các trang thiết bị hỗ trợ trong khâu thu hoạch và sơ chế sen, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm sen. Đặc biệt là cần giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng một cơ sở dữ liệu tổng quát toàn ngành hàng sen vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu kết nối tất cả các thông tin về truy xuất được chuỗi liên kết tạo ra giá trị sản phẩm (Các cá nhân và tổ chức có tham gia hoặc liên quan đến quá trình sản xuất - chế biến - phân phối sản phẩm); chỉ dẫn địa lý của vùng sản xuất ra sản phẩm; nhật ký điện tử sản phẩm. Đây cũng là cơ sở giúp các nhà quản lý nông nghiệp quy hoạch tổng thể trồng sen toàn vùng góp phần phát triển bền vững và ổn định. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Lê Hòa Bình (2014), Đánh giá hiện trạng sản xuất và hiệu quả của các công thức phân bón lên năng suất sen lấy ngó ở tỉnh Long An. [2] Lê Thị Nhiên (2015), Đánh giá hiện trạng canh tác sen lấy củ ở tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Long An và so sánh năng suất của 6 giống sen lấy củ tại tỉnh Long An. [3] Mukherjee K., Balasuramanian R., Saha K., Saha B., Pal M. (1996), A review on Nelumbo nucifera Gaertn., Ancient Science of life, 15, 268–276. [4] Nguyễn Minh Chơn (2016), Báo cáo nghiên cứu khoa học – Nghiên cứu xây dựng mô hình nâng cao hiệu quả sản xuất, sơ chế và bảo quản sen vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An. [5] Nguyễn Phước Tuyển (2007), Kỹ thuật trồng Sen, NXB Nông nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh. [6] Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Hoàng Thị Kim Hồng, Võ Thị Mai Hương (2017), Điều tra thực trạng sản xuất cây sen. Hội thảo khoa học Sinh lý thực vật toàn quốc lần 2, 121–130. [7] Nguyen V. Q. (2001), Lotus for Export to Asia An agronomic and physiological study. RIRDC Publication 01(32), 61p. [8] Nguyễn Văn Tiển, Phạm Lê Thông (2014), “Phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng sen trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 30, 120-128. [9] Phạm Thị Quỳnh Ngọc (2017), Đánh giá hiệu quả mô hình canh tác sen trong bối cảnh biến đổi khí hậu – trường hợp nghiên cứu tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. 1195
  13. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2019 ICYREB 2019 [10] Số liệu Tổng hợp Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2014 – 2017. [11] Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp (2010), Mô hình trồng sen ở Tháp Mười. [12] Sridhar K.R., Bhat R. (2007), Lotus – A potential nutraceutical source. Journal of Agricultural Technology, 3(1), 143–155. [13] Tian D. (2010), Application to Register a Cultivar of Nelumbo, International Waterlily and Water Gardening Society, 1–8. 1196
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2