
5
quyết định cơ cấu vốn của công ty và liên quan đ ến lý thuyết và những bài viết liên quan ủng hộ
cho mô hình định giá thuế sửa đổi của lá chắn thuế nợ. Phần 6 là phần kết luận.
1. Theo Định đề I của Modigl iani và Mi ller (MM) (1958) mô hình định giá ban đầu không có
thuế thu nhập doanh nghiệp ( và không tính đến thuế cá nhân), giá trị công ty độc lập của cơ cấu
vốn. Tuy nhiên, khi có thuế sẽ dẫn đến phần khấu trừ lãi vay nhờ thuế - tấm chắn thuế - tax gain.
Trong MM (1958) tỷ suất chiết khấu vốn cổ phần không sử dụng vốn vay được sử dụng để chiết
khấu các khoản khấu trừ lãi vay – tấm chắn thuế , nhưng trong MM (1963) không rủi ro thấp hơn
nhiều tỷ lệ nợ được sử dụng cho mục đích chiết khấu, kết quả là tăng thuế lớn vào cách sử dụng nợ
công ty và cổ đông . Trong trường hợp không có nguy cơ phá sản, Dự luật tôi đã ngon từ chối ủng
hộ một giải pháp tất cả các góc nợ vốn cực kỳ cấu trúc. Trong một lơi đap lại năm 1988 đến
giấy chỉnh thuế MM, Miller (1988) nhận xét rằng: "Ch úng ta phải thừa nhận rằng chúng ta cũng
được một chút ngạc nhiên khi chúng tôi lần đầu tiên nhìn thấy kết luận này (tức là, tất cả các khoản
nợ cơ cấu vốn) đang nổi lên từ phân tích của chúng tôi. " (1988, p. 112) 5 Theo ghi nhận của Green
và Hollifield (2003), bởi vì một góc nợ tất cả các giải pháp là mâu thuẫn với các q uan sát cấu trúc
vốn của các công ty, mô hình thuế MM không phải là hữu ích cho các mụ c đích chính sách.
Trong một nỗ lực để làm dịu tăng thuế nợ lớn, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu chi phí phá sản ch o
cân nh ắc lợi ích thuế của nợ so với chi phí gia tăng của nợ như các công t y gia tăng đòn bẩy tài
chính (xem Kraus và Litzenberger (1973), Scott (1976), Chen và Kim (1979), Bradley và Ki m
(1984), Myers (1984), Shyam S under và Myers (1998), và những người khác). Tuy nhiên, bằng
chứng t hực nghiệm đã tiết lộ những chi phí này tương đối nhỏ (xem Warner (1977), Andrade v à
Kaplan (1998), Frank và Goyal (2008), và những người khác). Đề cập đến mất cân đối thương mại
tăng thuế quá lớn vào các khoản khấu trừ lãi suất so với chi phí phá sản dự kiến sẽ nhỏ, đặc biệt là
đối với các công ty với chất lượng tín dụng cao, Miller (1977) đã chỉ trích mô hình của điều chỉnh
thuế MM bằng cách sử dụng phép ẩn dụ hài hước của một "con ngựa và hầm thỏ" để mô tả độ lớn
tương quan của chúng. Thúc đẩy một phần lớn vấn đề này, Miller đã mở rộng mô hình của điều
chỉnh thuế MM thuế cá nhân. Giả sử thuế cá nh ân trên vốn chủ sở hữu không đáng kể (do để trì
hoãn tăng vốn) và các loại thu ế cá nhân trên thu nhập lãi suất bằng mức thuế suất thu ế doanh
nghi ệp ở lề trong thị trường trái phiếu, ông đã tìm thấy rằng không có lợi ích thuế từ đòn bẩy tài
chính cho khu vực doanh nghiệp như một toàn bộ (tức là, Dự luật tôi nắm giữ).
Thật là thú vị Modigliani (1988) sau đó thực hiện một sự đảo ngược: "thuế cá nhân sang một bên,
thật dứt khoát tất cả trong MM (1958) ..." (1988, p. 153) trong mô hình định giá ban đầu với các
loại thuế doanh nghiệp, ... các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay có thể được nhìn thấy được tỷ lệ
thuận với các công ty không sử dụng vốn vay ... tỉ lệ lợi nhuận lần lượt này ngụ ý rằng giá trị thị
trường VL doanh nghiệp có sử dụng vốn vay cũng phải tỷ lệ thuận với công ty không sử dụng vốn
vay. Lý do cho sự đảo ngược này là Modi gliani trở lại bằng cách sử dụng một tỷ lệ rủi ro lợi nhuận
để giảm giá các kh oản khấu trừ thuế suất tương tự như tỷ lệ chiết khấu trên thu nhập cổ phần của
công ty không sử dụng vốn vay, được chiết khấu theo một tỷ lệ không rủi ro của l ãi suất MM của
mô hình điều chỉnh thuế. Tỷ lệ chiết khấu lớn hơn đối với lợi nhuận từ thuế làm giảm giá trị hiện
tại của lá chắn th uế nợ và làm giảm hiệu lực của chúng như là một yếu tố thúc đ ẩy quyết định cơ