1
TIU LUẬN
THU THU NHP DOANH NGHIP VÀ CHI PHÍ VN S
TU CHNH MÔ HÌNH ĐNH GIÁ TR CÔNG TY
2
TỔNG QUAN
Việc đị nh giá giá trị của chắn thuế trong những doanh nghiệp mới thành lập bởi Nobels
Laurest es Mod igliani và sau đó Miller (MM) tiếp tục nghiên cu đã trở thành vấn đề được tran h
lun trong lý thuyết về tài chính doanh nghip. Bài nghiên cứu này tranh luận về vi c xác định giá
trị cơ bản còn tn tại trong mô hình thuế của MM. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đưa ra mt
sự tu chỉnh đó là mô nh thuế có sửa đổi đang được nhắc đ ến hiện nay, trong hình đó, thuế
đánh trên sản lưng sẽ nhỏ hơn nhiều nếu doanh nghiệp có sử dng n. Người ta thích chiết khấu
chi phí lãi vay sử dụng một mức lãi suất không có rủi ro hơn là s dụng tsuất sinh lợi trên vốn cổ
phần không đòn bẩy tài chính, cho đến khi g trị ca những kết quả mang lại trong ch tiếp
cận này tiềm ẩn những điu không chính xác, t suất sinh lợi trên vn c phần có sử dụng đòn bẩy
tài chính đã có ý nghĩa. Giả định không rủi ro phá sản, không có thuế thu nhập cá nhân,c giả
đã đưa ra một mô hình thuế tu chỉnh với giá trị công ty theo mô hình chữ U ngược với mt cấu trúc
vốn tối ưu. Những phân tích đã được mở rộng bởi sự m rộng thuế thu nhập cá nhân của Miller
trong hình thuế của MM. Như vậy, cũng tác động đến các quyết đnh tái cấu trúc vốn của
doanh nghiệp và các lý thuyết đã được thảo luận tc đây.
NỘI DUNG
Lý thuyết giá trị doanh nghiệp của Nobel Laureates Modigliani và Miller (sau đây gọi cung
là MM) (năm 1958, 1963) đ ưc xuất b n trong tp chí này đã trở thành nền tảng trong những suy
nghĩ về cấu trúc vốn hiện đại. Những lý thuyết đt phá của họ đã xuất hin một ch nổi bật trong
những cuốn sách giáo khoa về kinh tế và tài chính, những chương trình đào tạo v quản lý, và
những lý thuyết hc thuật. Liên quan đến việc thực hành trong th ực tế, những tranh luận về s
mang lại của chắn th uế do sử dụng nợ có xu ng ủng h việc sử dụng đòn by tài chính đối
với nhân và doanh nghiệp trong thị trường vốn. Vi quan điểm việc sử dụng đòn by thái q uá
hin nay chính là nguyên nhân kiến tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 2008-2009,
sau 50 năm tranh luận và đưa ra những chứng cthực nghiệm,được xem rất đáng giá đ xem
lại n hững tranh cãi trưc giờ xung quanh mô hình đánh giá thuế ca MM. Những tranh cãi chính
tập trung vào việc làm sao để xác địn h được gi á trhiện tại của sự giảm trừ thuế trên nợ. Nguồn
gốc của cuộc tranh l uận, trong mô hì nh thuế đầu tiên năm 1958, MM đã sử dụng tsuất sinh lợi
trên vốn tự có để chiết khấu mc khấu trừ thuế v à đưa ra một mức lãi từ thuế đạt được trên nkhá
khiêm tốn; tuy nhiên, năm 1963 MM đã ph định mô hình thuế sơ khởi đ đưa ra một hình
thuế điều chỉnh, mô hình này đã chiết kh ấu các khoản khu trừ thuế theo tl nkhông có rủi ro
đ mang lại li ích thuế trên nợ rất ln.
Việc th úc đẩy chn thuế do việc sử dụng nquá lớn đã không phù hợp với thực tế tại các
doanh nghiệp được quan sát, Miller (1977) đã mở rộng mô hình định giá thuế điều chỉnh ca MM
3
thêm các loại th uế cá nhân và gi định rằng thuế đạt được trên nợ ít hoặc không cho hầu hết các
công ty. Loại trừ các loại thuế cá nhân, sau đó, một số tác giả đ ã quay trở lại vi phương pháp tiếp
cận của hình thuế ban đầu của MM bng cách chiết khấu sự giảm trừ thuế tại mc suất sin h lời
trên vốn cổ phần không đòn bẩy tài chính, trong đó bao gồm cả các t ác giả như: Harris và
Pringle (1985), Modigliani (1988) và Kaplan và Ruback (1995). Miller và Ezzell (1980, 1985) và
Arzac v à Glosten (2005) cũng giả định chiết khấu chắn thuế mức lãi su ất không có ri ro trong
giai đoạn đầu sau đó là mức suất sinh lời trên vốn cổ phần không có đòn bẩy tài chính. Phù hợp
với những nghiên cứu này, Grinblatt và Liu (2008) đã xem lá chắn thuế từ nợ như là công cụ phái
sinh của các tài s ản tự cơ bản (và dòng u chuyển tiền tệ của ) và đã s dụng phương pháp
quyền chọn giá để c định được giá trị của nó. c nhà nghiên cứu khác sử dụng chi phí nợ có rủi
ro để chiết khu sự giảm trừ thuế, như là Myers (1974, Luehrman (1997), Damodaran (2006) và
các t ác giả khác, c bài nghn cứu trên gi định là ri ro duy nhất liên quan đến sự giảm trừ thuế
(vd: Lá chắn th uế) là rủi ro của nợ. Với rủi ro từ nợ thì thu nhập trước thuế và l ãi vay th sẽ nh
hơn so với chi phí trả lãi, Wrightsman (1978) đã t ranh luận giữa việc chn thuế thể đưc
gim trừ và việc sử d ụng t lệ không có rủi ro bi vì hiệu quả của lá chắn th uế từ nợ sẽ phụ thuc
vào lợi nhun hoạt động. Nói chung, những giải pháp chiết k hấu thay th ế này có x u ớng giảm
g t r hiện tại của thuế đt được trên n và do đó đã làm dịu đi i kết lun năm 1963 của MM.
Gần đây, Ross (2005) đã bình luận rằng mô nh thuế tinh chỉnh của MM là thiếu sót. Trong bài
viết ca Ông, Một sự thiết sót trong cách tiếp cận truyn thống xảy ra ngay tại bưc đầu tiên khi
tất cả đều đ ược tín h toán bằng ch định gi á dòng tiền của lá chắn thuế tại t lệ nợ không rủi ro.
Tht s, lá chắn th uế được giả định là không rủi ro, nhưng đi u đó không có nghĩa là nó phải
được định giá ở mức lãi suất không ri ro của Ti phiếu... Như Miller (1997) tranh luận, lá
chắn thuế đối với các cổ đông không phải ch sở hữu trái phiếu và suất chiết khấu tức mc mà
là chắn thuế đ ược định giá p h thuộc vào tsuất thuế cận biên giữa tổng vốn và vn chủ sở hữu”.
(2005, p7). Do đó, trong phương pháp định giá quyền chọn của mình , Ross đã cho phép các loại
thuế cá nhân t n ctức khác biệt với mức lãi để thay đổi giá trị của lá chắn thuế tới các cổ đông.
Kể từ khi mức thuế giảm trừ trên nợ được chuyển qua các cổ đông n một loại cổ tức, Ông đã
b sung thêm mức thuế đánh trên vốn nhân vào lá chn thuế.
i nghiên cứu này chỉ ra một vấn đề đ nh giá cơ bản tồn tại trong c mô hìn h thuế MM.
Bằng việc xác định giá trị vốn chủ sở hữu sau thuế với c khoản khấu trừ thu ế bằng với tng
gtr vốn chủ sở hữu sau th uế không khu tr lãi suất cộng với p hần tăng thu ế từ các
khoản khấu trừ lãi suất, phù hợp với hình thuế MM (tức là, tất cả các lợi ích thuế đưc trả ra
choc cđông), chúng tôi cho thấy rằng giá trsau thuế của c phần kng khu trừ lãi suất
trở lại âm 1 cách bt hợp lý khi giá trị nợ vưt quá giá trị của công ty khi không sử dụng đòn bẩy
tài chính. Do trách nhiệm hữu hạn và không rủi ro phá sản, giá trị vốn chủ sở hữu có hay không
có khấu trừ lãi suất không thể âm. Kết quả bất hợp lý này xảy ra ngay cả với trường hợp không
nguy phá sản khi chiết khầu các lá chn thuế bằng cách sử dụng cả tỷ lệ n rủi ro l n tỷ lệ vốn
ch sở hữu không dùng đòn bẩy tài chính trong các mô hình thuế. Đkhắc phục vấn đnày, chúng
4
i đề xuất một mô hình thuế mi, giảm trừ các khoản khấu trừ lãi bằngch sử dụng chi phí có sử
dụng đòn bẩy tài chính của vốn chủ sở hữu.ch tiếp cận này cung cấp một mô hình định giá thuế
thiết thực trong khuôn kh của MM là đưa ra giá trị cổ phần dương khi có và không có t ăng thuế
nợ.
Khi chiết khấu các tấm chắn th uế nvới chi phí có sử dụng vốn vay của vốn chủ s hữu, chi
p vốn c phần được sử dụng đ chiết khu dòng tiền trong cả hai hìn h thức chung là vốn chủ s
hữu và giá trị công ty. Bằng cách sử dụ ng chi phí vốn chủ sở hữu có đòn by tài chính để chiết
khấu trong vấn đề xác định gt rị cổ phần vốn chủ sở hữu / giá trị công ty, các bài nghiên cu hiện
nay đều xuất phát từ mô hình thuế đã sửa đổi để nghiên cứu về các công ty mi, vốn chủ sở hu,
và kết quả của việc xác định giá trca nợ. Theo hiểu biết của các tác giả, không có bài nghiên c u
nào trước đây nghiên cu về tỷ lệ vốn ch sở hữu dùng đòn bẩy tài chính chiết khấu theo
phương pháp tiếp cận trong khuôn khổ mô hình thuế MM. Khi làm như v y, kết quả xác định giá
trị giúp giảm thiểu một số lời chỉ trích c hình thuế MM, góp phn làm dung hòa giữa
thuyết th ực tiễn về cơ cu vốn và sđịnh giá công ty, và cung cấp những hiểu biết mi vào vai
trò của lá chắn thuế nợ trong việc định giá công ty.
c kết quả chính của các hình thuế sửa đổi phù hợp v i bng chứng thực nghiệm: (1)
nhỏ hơn nhiu lá chắn th uế nợ so với các hình hiệu chỉnh thuế và mô hình MM gốc; (2) cân
bng, dựa trên mô hình chức năng giá trị công ty theo nh chữ U ngược vi một cấu trúc vốn tối
ưu như trái nợc với tất cả các giải ph áp c n; (3) một vùng giá trị của tỷ lệ nợ/giá trị công ty
kéoi mt khoảng thời gianơng đối rng trong đó hầu hết các lá chắn thuế nb kiểm soát; (4)
cân bằng, dựa trên chc năng vn ca chi phí hình ch U; và (5) độ nhạy của lá chắn th uế nợ và
cấu trúc v n tối ưu có t lệ n phi rủi ro cũng như chi phí vn ch sở hữu không sử dụng đòn bẩy
tài chính (tức là, rủi ro kinh doanh). Nhng kết quả này xuất hiện để được giống như cấu trúc vốn
thế giới thực. Điều thú vlà, theo một số điều k iện t lệ chiết khấu, giá trị công ty gần như cân
bng giống như việc t ăng đòn bẩy, chính điều này hỗ trợ phần nào cho Định đ I quy tắc ban đầu
năm 1958 của MM mà việc địn h g công ty là độc lập của cấu trúc vốn. Chúng tôi kết luận rằng
hình thuế của MM sửa đổi nên đóng mt vai trò lớn hơn trong phương pháp sư phạm và chính
ch cu trúc vốn của doanh nghiệp so với các mô hình gốc và điều chnh thuế trưc đó.
Phần 1, mô tả tổng quan mô hình định g hiệu chỉnh thuế và mô hình gc MM. Phần 2 xác
định vấn đề đị nh giá công ty trong các mô hình thuế MM. Cụ thể, khi mc nợ vượt qg trị công
ty không dùng vốn vay, giá trị vốn cphần âm khi trừ đi phn khu trừ lãi suất. Để khc phc vấn
đ này, phần 3 chiết khu c khoản giảm trừ thuế trong cả giá trị c phần và giá trị ng ty tại
mức chi phí sử dụng vốn có sử dụng đòn bẩy tài chính. Các kết quả hình thuế sửa đổi đối vi
công ty mới và các giá trcổ phn khác nhau đáng kể đi với hình thuế MM. Ph át triển theo
ý tưởng ca Miller (1977) về thuế thu nhập cá nhân, phần 4 mở rộng phân tích thuế cá nhân, trong
đó cho thấy rằng, không ging như mô hình điều chnh thuế của MM, nh thuế sửa đổi đưc
thay đi mt chút và do đó đẩy mạnh tác động của thuế cá nhân. Phần 5 bàn về ý nghĩa của việc
5
quyết định cơ cấu vốn của công ty và liên quan đ ến lý thuyết và những bài viết liên quan ủng hộ
cho mô hình đnh giá thuế sửa đổi của lá chn thuế nợ. Phần 6 là phần kết luận.
1. Theo Định đ I ca Modigl iani và Mi ller (MM) (1958) mô hình định giá ban đầu không
thuế thu nhp doanh nghip ( và không nh đến thuế nhân), giá trị công ty độc lp của cơ cu
vốn. Tuy nhiên, khi có thuế sdn đến phn khấu trừ lãi vay nhthuế - tm chắn thuế - tax gain.
Trong MM (1958) t suất chiết khu vn cphn không sử dụng vn vay được sử dụng đ chiết
khấu c khon khu trừ i vay tm chn thuế , nhưng trong MM (1963) không rủi ro thấp hơn
nhiu tl nợ được s dụng cho mc đích chiết khu, kết quả là tăng thuế lớn vào cách sử dụng nợ
công ty c đông . Trong trưng hợp không có nguy cơ phá sn, Dự luật tôi đã ngon từ chi ủng
h mt gii pháp tất cc c n vn cực k cu trúc. Trong mt i đap lại năm 1988 đến
giy chnh thuế MM, Miller (1988) nhn xét rằng: "Ch úng ta phi tha nhận rng chúng ta cũng
được một chút ngc nhiên khi chúng tôi lần đầu tiên nhìn thy kết lun này (tức là, tất c các khon
n cu vốn) đang ni n từ phân tích của chúng tôi. " (1988, p. 112) 5 Theo ghi nhận ca Green
và Hollifield (2003), bởi mt góc n tất ccác gii pháp mâu thun vi c q uan sát cu trúc
vốn của các ng ty, mô hình thuế MM không phải hữu ích cho các m c đích chính sách.
Trong một n lc để làm dịung thuế nợ ln, các nhà nghiên cu đã giới thiu chi phí phá sản ch o
cân nh c li ích thuế của nợ so với chi phí gia tăng của nợ như các công t y gia tăng đòn bẩy tài
chính (xem Kraus và Litzenberger (1973), Scott (1976), Chen và Kim (1979), Bradley Ki m
(1984), Myers (1984), Shyam S under Myers (1998), những ngưi khác). Tuy nhn, bằng
chng t hực nghiệm đã tiết l những chi phí này tương đối nhỏ (xem Warner (1977), Andrade v à
Kaplan (1998), Frank và Goyal (2008), và những ngưi khác). Đ cập đến mất n đối thương mại
tăng thuế quá lớno c khoản khấu trừ lãi suất so vi chi phí phá sn dkiến sẽ nh, đặc biệt là
đối vi c công ty vi cht lượng n dụng cao, Miller (1977) đã chỉ trích mô hình của điu chỉnh
thuế MM bằng cách s dụng phép n dhài hưc ca mt "con ngựa và hầm thỏ" đ mô tả độ ln
ơng quan của chúng. Thúc đy mt phn lớn vn đ này, Miller đã mrộng nh ca điu
chnh thuế MM thuế nhân. Giả s thuế cá nh ân trên vn ch s hữu không đáng k(do để t
hoãn tăng vốn) các loi thu ế cá nhân trên thu nhp lãi sut bng mc thuế suất thu ế doanh
nghi p l trong thtrường trái phiếu, ông đã tìm thy rằng không có lợi ích thuế t đòn bẩy tài
chính cho khu vc doanh nghiệp như mt toàn bộ (tức là, Dự lut tôi nm gi).
Thật là thú v Modigliani (1988) sau đó thc hin một sđảo ngược: "thuế nhân sang mt bên,
tht dứt khoát tất ctrong MM (1958) ..." (1988, p. 153) trong mô hình đnh giá ban đầu với c
loi thuế doanh nghiệp, ... các doanh nghip có sử dụng vốn vay có th được nhìn thy đưc tl
thun với c công ty không sử dng vốn vay ... tlệ lợi nhuận lần t này ngý rằng giá tr th
trường VL doanh nghiệp có s dng vn vay cũng phải t lệ thun với công ty không sử dụng vốn
vay. Lý do cho sđo ngược này là Modi gliani trở li bằng cách sử dụng mt t lệ ri ro lợi nhun
đ gim giá các kh oản khấu tr thuế sut tương t như tl chiết khấu trên thu nhp cphần của
công ty không sử dụng vốn vay, được chiết khấu theo một tỷ l không rủi ro của l ãi sut MM của
hình điu chnh thuế. Tl chiết khấu lớn hơn đi vi lợi nhun tthuế làm gim giá tr hiện
tại của lá chn th uế nợ và làm gim hiu lực của chúng như là một yếu tthúc đ ẩy quyết đnh cơ