TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14482:2025
ISO/IEC TS 5928:2023
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TÍNH TOÁN ĐÁM MÂY VÀ NỀN TẢNG PHÂN TÁN - NGUYÊN TẮC
PHÂN LOẠI CHO NỀN TẢNG SỐ
Information technology - Cloud computing and distributed platforms - Taxonomy for digital
platforms
Nội dung
Lời nói đầu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
3.1 Thuật ngữ cơ bản
3.2 Thuật ngữ liên quan đến sự tham gia nền tảng
3.3 Các thuật ngữ liên quan đến các nền tảng công nghệ số
3.4 Các thuật ngữ liên quan đến nền tảng kinh tế số
4 Chữ viết tắt
5 Tổng quan về nền tảng số
5.1 Tổng quan
5.2 Sự không rõ ràng của “nền tảng” cho các dịch vụ số
5.3 Đặc điểm của nền tảng s
6 Nền tảng công nghệ s
6.1 Quy định chung
6.2 Các loại khả năng dịch vụ đám mây biểu thị nền tảng công nghệ số
6.3 Dịch vụ đám mây cung cấp loại khả năng hạ tầng
6.4 Dịch vụ đám mây cung cấp loại khả năng nền tảng
6.5 Nền tảng phát triển phần mềm
6.6 Ví dụ về nền tảng công nghệ số trong bối cảnh
6.7 Nền tảng công nghệ một chiều và nhiều chiều
7 Nền tảng kinh tế số
7.1 Tổng quan
7.2 Đặc điểm chung của nền tảng kinh tế số
7.3 Ví dụ về nền tảng kinh tế số
8 Tác động của đặc điểm nền tảng đến hành vi của người tham gia
8.1 Tổng quan
8.2 Hiệu ứng mạng
8.3 Sự trì trệ của khách hàng
8.4 Tính kết dính
9 Quan sát và kết luận
Phụ lục A (tham khảo) Hệ thống bậc phân loại minh họa
Phụ lục B (tham khảo) So sánh hiệu ứng kiếm tiền và hiệu ứng mạng
Thư mục tài liệu tham khảo
Lời nói đầu
TCVN 14482:2025 hoàn toàn tương đương với ISO/IEC TS 5928:2023.
TCVN 14482:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/JTC 1 “Công nghệ thông tin" biên soạn,
Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng quốc gia
thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TÍNH TOÁN ĐÁM MÂY VÀ NỀN TẢNG PHÂN TÁN - NGUYÊN TẮC
PHÂN LOẠI CHO NỀN TẢNG SỐ
Information technology - Cloud computing and distributed platforms - Taxonomy for digital
platforms
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định nguyên tắc phân loại liên quan đến nền tảng số bằng cách cung cấp các
định nghĩa và thông tin hỗ trợ giúp phân biệt các cách sử dụng khác nhau của thuật ngữ nền tảng khi
áp dụng cho các dịch vụ số (như tính toán đám mây và các hệ thống tính toán phân tán khác).
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn dưới đây là cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu ghi
năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì
áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).
TCVN 13809-1 (ISO/IEC 22123-1), Công nghệ thông tin - Tính toán mây - Phần 1: Từ vựng;
TCVN 13811 (ISO/IECTS 23167), Công nghệ thông tin - Tính toán mây - Các công nghệ và kỹ thuật
phổ biến.
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa trong TCVN 13809-1 (ISO/IEC 22123-1), TCVN
13811 (ISO/IEC TS 23167) và các thuật ngữ và định nghĩa dưới đây.
3.1 Thuật ngữ cơ bản
3.1.1
Dịch vụ số (digital service)
Dịch vụ do một bên cung cấp cho một bên khác thông qua công nghệ phần cứng hoặc phần mềm số,
hoặc cả hai, bao gồm cả giao tiếp qua mạng.
CHÚ THÍCH 1: Trong bối cảnh của tiêu chuẩn này, một dịch vụ bao gồm một hoặc nhiều khả năng số
như tính toán đám mây, tính toán biên hoặc một số khả năng tính toán phân tán khác. Một dịch vụ
như vậy phải tuân theo hợp đồng và thường có chất lượng dịch vụ, điều khoản và điều kiện sử dụng
được xác định.
CHÚ THÍCH 2: Dịch vụ đám mây, dịch vụ biên, dịch vụ mạng, dịch vụ phát sóng và dịch vụ di động
đều là các loại dịch vụ số. Tiêu chuẩn này không quy định cho tất cả các loại dịch vụ số.
3.1.2
Nền tảng phân tán của nền tảng số (digital platform distributed platform)
Tập các dịch vụ số có liên quan và gắn kết (3.1.1).
CHÚ THÍCH 1: Một nền tảng số như được mô tả trong tiêu chuẩn này cho phép và hỗ trợ các dịch vụ
số tham gia khác trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh với khách hàng, bằng cách tạo ra và thúc
đẩy một thị trường đa bên cho các dịch vụ đó, hoặc bằng cách hỗ trợ việc tạo ra và vận hành công
nghệ cho các dịch vụ đó, hoặc cả hai.
CHÚ THÍCH 2: “Nền tảng phân tán” thường được sử dụng như một từ đồng nghĩa để nhấn mạnh các
yếu tố của dịch vụ số, chẳng hạn như tính toán biên và tính toán di động vượt ra ngoài các trung tâm
dữ liệu cổ điển của tính toán đám mây.
3.2 Thuật ngữ liên quan đến sự tham gia nền tảng
3.2.1
Người tham gia nền tảng (platform participant)
< nền tảng số> Bên sử dụng hoặc liên quan với nền tảng số (3.1.2).
CHÚ THÍCH 1: Một bên có thể là người dùng cuối hoặc tổ chức.
CHÚ THÍCH 2: Người tham gia nền tảng có thể là thành viên của một hoặc nhiều nhóm người tham
gia (3.2.2).
3.2.2
Nhóm người tham gia (participant group)
Nhóm người tham gia nền tảng (3.2.1) chia sẻ một tập các yêu cầu kinh doanh chung khác biệt đáng
kể so với các yêu cầu của một hoặc nhiều nhóm người tham gia nền tảng khác (3.2.1).
CHÚ THÍCH 1: Các nhóm người tham gia không chỉ giới hạn ở các dịch vụ số, mặc dù họ rất cần thiết
để xác định một thị trường đa phương như nền tảng kinh tế số (3.4.2).
CHÚ THÍCH 2: Ví dụ về các nhóm người tham gia như vậy bao gồm người mua sắm, bên cung cấp
và nhà phát triển. Người mua sắm là những người tham gia nền tảng tìm cách mua thứ gì đó, bên
cung cấp là những người tham gia nền tảng tìm cách cung cấp thứ gì đó, trong khi nhà phát triển là
những người tham gia nền tảng tìm cách tạo và bán (hoặc vận hành) phần mềm (hoặc dịch vụ). Do
đó, các thành viên của mỗi nhóm có một mục tiêu chung không được chia sẻ với các thành viên của
các nhóm người tham gia khác.
3.3 Các thuật ngữ liên quan đến các nền tảng công nghệ số
3.3.1
Nền tảng công nghệ số (digital technology platform)
<công nghệ> Nền tảng số (3.1.2) cung cấp các cấu phần kỹ thuật cần thiết để hỗ trợ việc tạo và triển
khai các ứng dụng và dịch vụ.
CHÚ THÍCH 1: Các yếu tố được cung cấp có thể bao gồm các tài nguyên tính toán đám mây (xem bộ
TCVN 13809 (ISO/IEC 22123)), có thể bao gồm môi trường thực thi, lưu trữ, mạng, dịch vụ định vị và
lập bản đồ, kết xuất đồ họa và xử lý chuyên biệt (như học máy hoặc tính toán lượng tử).
CHÚ THÍCH 2: Các ví dụ phổ biến về các nền tảng công nghệ số như vậy bao gồm nhiều loại danh
mục dịch vụ đám mây “loại khả năng hạ tầng" và “loại khả năng nền tảng" (xem TCVN 13809-1
(ISO/IEC 22123-1)).
CHÚ THÍCH 3: Định nghĩa này khác với định nghĩa trong ISO/IEC TS 25025 : 2021 và ISO/IEC TS
25011 : 2017.
3.3.2
Nền tảng phát triển phần mềm (software development platform)
Nền tảng công nghệ s (3.3.1) cho phép hoặc hỗ trợ phát triển mã phần mềm.
3.4 Các thuật ngữ liên quan đến nền tảng kinh tế số
3.4.1
Nền tảng kinh tế (economic platform)
<kinh tế> Tập các dịch vụ cung cấp sự môi giới trên thị trường để giảm chi phí tìm kiếm hoặc giao
dịch.
CHÚ THÍCH 1: Nền tảng là môi trường, máy tính hoặc các môi trường khác, kết nối các nhóm khác
nhau và nhận được lợi ích từ những người khác tham gia vào nền tảng.
CHÚ THÍCH 2: Trung tâm mua sắm cung cấp nền tảng kinh tế phi máy tính, kết nối các thương gia
(nhóm người tham gia) với khách hàng ghé thăm (nhóm người tham gia) và cung cấp các dịch vụ
riêng biệt cho mỗi nhóm người tham gia như môi trường dễ chịu, điện, kho, bãi đậu xe, kết nối mạng
và an ninh.
3.4.2
Nền tảng kinh tế số (digital economic platform)
<kinh tế> Một hoặc nhiều nền tảng số (3.1.2) tạo ra một thị trường đa bên, cung cấp hàng hóa, dịch
vụ hoặc quyền được cấp phép cho hai hoặc nhiều nhóm người tham gia riêng biệt (3.2.2) có nhu cầu
lẫn nhau theo một cách nào đó.
CHÚ THÍCH 1: Nền tảng kinh tế số là một loại con của cả nền tảng kinh tế (3 4 1) và nền tảng số
(3.1.2).
CHÚ THÍCH 2: Các ví dụ về quyền được cấp phép có thể bao gồm quyền xem phim, quyền sử dụng
dữ liệu kinh doanh thương mại hoặc quyền sử dụng phần mềm cụ thể, mỗi quyền được cung cấp
dưới dạng giấy phép.
CHÚ THÍCH 3: Trong khi một nền tảng kinh tế số được xây dựng bằng công nghệ số, thường là trên
một nền tảng công nghệ số (3.3.1), điều này không có nghĩa là nền tảng kinh tế số là một loại con của
nền tảng công nghệ số (giống như ô tô không phải là một loại con của đường); hai thuật ngữ này
độc lập.
CHÚ THÍCH 4: Một nền tảng kinh tế số có thể tùy chọn bao gồm nhiều hơn một nền tảng số. Ví dụ,
một nền tảng trao đổi có thể được kết hợp với một nền tảng thanh toán và xuất hiện với người dùng
cuối như một nền tảng kinh tế số duy nhất.
3.4.3
Nền tảng được tài trợ bởi quảng cáo (ad-funded platform)
<kinh tế> Nền tảng kinh tế số (3.4.2) trong đó một nền tảng tạo lập doanh thu bằng cách tính phí các
nhà quảng cáo để thể hiện quảng cáo cho khách hàng của dịch vụ.
CHÚ THÍCH 1: Nhà quảng cáo là một nhóm người tham gia, những người xem quảng cáo là nhóm
thứ hai và những người thể hiện quảng cáo cùng với nội dung là nhóm thứ ba.
3.4.4
Nền tảng trao đổi (exchange platform)
<kinh tế> Nền tảng kinh tế số (3.4.2) kết nối người bán và người mua tiềm năng, cho phép mua bán
hàng hóa và dịch vụ, đồng thời có thể tạo ra giá trị cho bên cung cấp nền tảng thông qua việc đóng
vai trò trung gian trong giao dịch.
3.4.5
Nền tảng thanh toán (payment platform)
<kinh tế> Nền tảng kinh tế số (3.4.2) tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn tất thanh toán an toàn giữa
những người tham gia nền tảng (3.2.1).
3.4.6
Thị trường ứng dụng (application marketplace)
<kinh tế> Nền tảng kinh tế số (3.4.2) trong đó nền tảng cung cấp phương tiện cho các nhà phát triển
và nhà xuất bản phần mềm cung cấp ứng dụng cho khách hàng thông qua nền tảng.
CHÚ THÍCH 1: Tiêu chuẩn này mô tả khái niệm này trong phạm vi nền tảng kinh tế. Xem thêm 3.2.2,
TCVN 13056-1 : 2023 (ISO/IEC 19944-1 : 2020) để biết định nghĩa trong phạm vi nền tảng thiết bị.
4 Chữ viết tắt
AlaaS artificial intelligence as a service Trí tuệ nhân tạo như một dịch vụ
CaaS[1][
1]
communications as a service/containers as a
service
Truyền thông như một dịch vụ/các bộ chứa
như một dịch vụ
CSC cloud service customer Khách hàng dịch vụ đám mây
CSP cloud service provider Bên cung cấp dịch vụ đám mây
DSaaS data storage as a service Lưu trữ dữ liệu như một dịch vụ
FaaS function as a service Chức năng như một dịch v
GPU graphics processing unit Bộ xử lý đồ họa
laaS infrastructure as a service Hạ tầng như một dịch vụ
ICT information and communications technology Công nghệ thông tin và truyền thông
MlaaS machine learning as a service Học máy như một dịch vụ
PaaS platform as a service Nền tảng như một dịch v
QcaaS quantum computing as a service Tính toán lượng tử như một dịch vụ
SaaS software as a service Phần mềm như một dịch vụ
SME small- or medium-sized enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ
5 Tổng quan về nền tảng số
5.1 Tổng quan
Thuật ngữ "(nền tảng)” được sử dụng trong tiếng Anh với nhiều ý nghĩa khác nhau và một số cách sử
dụng này có tính không rõ ràng trong bối cảnh dịch vụ trực tuyến hoặc số.
Tiêu chuẩn này định nghĩa phân loại thuật ngữ cho các nền tảng số thuộc nhiều loại khác nhau và chỉ
ra cách các thuật ngữ này có thể được cấu trúc thành hệ thống phân cấp (xem Phụ lục A).
5.1.1 Ý nghĩa của “nền tảng”
Những ý nghĩa này bao gồm nhưng không giới hạn ở những điểm sau. Các nhóm này có khả năng
chồng chéo, nhưng không loại trừ lẫn nhau.
- Những cách sử dụng truyền thống không liên quan đến Công nghệ thông tin và Truyền thông của
thuật ngữ này, chẳng hạn như một sàn gỗ để đứng, một nền tảng chính sách chính trị hoặc một sân
ga nơi tàu khởi hành, làm nổi bật cách sử dụng từ “nền tảng” phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh.
[1][1] Từ viết tắt CaaS được ngành công nghiệp sử dụng cho nhiều mục đích, hai trong số đó được liệt
kê ở đây. Vì vậy , tốt nhất là sử dụng thuật ngữ mở rộng để đảm bảo bối cảnh chính xác.
- Có các phương tiện truyền thông trực tuyến, phát sóng và in ấn và các thiết lập diễn ngôn công
cộng, đóng vai trò là nền tảng cho sự tự do ngôn luận, thể hiện quan điểm chính trị và xã hội, thể hiện
nghệ thuật và âm nhạc, thảo luận và tranh luận. Điều này bao gồm cả phương tiện truyền thông xã
hội.
- Có những thứ có thể được định nghĩa là “nền tảng kinh tế”, đây là cách mô tả một số cách tiếp cận
kinh doanh tạo lập thị trường đa phương diện, nơi hai hoặc nhiều nhóm người tham gia riêng biệt có
thể cùng nhau thực hiện một số loại hình kinh doanh thông qua một nền tảng trung gian. Điều này có
nghĩa là nền tảng này tập hợp hai hoặc nhiều nhóm người tham gia khác nhau và cung cấp một địa
điểm gặp gỡ để tạo thuận lợi cho các tương tác giữa các nhóm người tham gia thông qua nền tảng.
Các nền tảng phục vụ hai nhóm người tham gia được gọi là nền tảng hai phương diện và nói chung,
các nền tảng phục vụ hai hoặc nhiều nhóm như vậy được gọi là nền tảng đa phương diện.
- Có nhiều ví dụ về thị trường hai chiều được hỗ trợ bởi các nền tảng trung gian, bao gồm nhưng
không giới hạn ở: nhà xuất bản, tạp chí và hội nghị học thuật; sân bay và cảng; thị trường chứng
khoán, nhà đấu giá và môi giới bất động sản; công ty môi giới hẹn hò và việc làm; và hệ thống tính
toán đám mây thanh toán bằng thẻ tín dụng. Một nền tảng kinh tế không cần phải liên quan đến bất kỳ
công nghệ nào.
VÍ DỤ Một cửa hàng bách hóa hoặc trung tâm mua sắm truyền thống tạo ra một thị trường đa chiều
giữa một nhóm thương gia và một nhóm khách hàng. Loại nền tảng kinh tế này đã tồn tại từ lâu trước
khi có công nghệ số hiện đại.
- Cũng đã có những “nền tảng công nghệ" tồn tại từ nhiều năm trước, trước khi các dịch vụ trực tuyến
xuất hiện. Các hệ điều hành máy tính đầu tiên như trên máy tính lớn thường được mô tả là cung cấp
một nền tảng để khách hàng phát triển chương trình của mình. Các hệ thống chuyên biệt như mạng
điện thoại từng cung cấp nền tảng để triển khai các dịch vụ tiên tiến (vào thời điểm đó) như tổng đài
miễn phí và các đường dây tính phí cao. Hệ thống tổng đài nhánh riêng (PBX) cung cấp nền tảng cho
việc phát triển các dịch vụ trung tâm cuộc gọi đầu tiên của khách hàng. Tất cả những điều này đều tồn
tại từ trước khi có sự ra đời của World Wide Web.
- Đối với các sản phẩm và dịch vụ công nghệ này, thuật ngữ “nền tảng” được sử dụng rộng rãi, vừa là
chỉ báo đơn giản về lớp phủ - với nhiều sản phẩm và dịch vụ riêng biệt được xây dựng trên một cơ sở
cơ bản duy nhất và để nêu rõ mục đích cụ thể của sản phẩm (ví dụ: cung cấp nền tảng để thể hiện
bản thân hoặc tương tác xã hội).
5.1.2 Ý nghĩa của “nền tảng số”
Với sự ra đời của World Wide Web, nhiều khái niệm nền tảng được mô tả ở trên đã được điều chỉnh
cho phù hợp với thế giới dịch vụ trực tuyến, chẳng hạn như dịch vụ mua sắm trực tuyến, hẹn hò trực
tuyến, mạng xã hội trực tuyến và nhiều dịch vụ khác. Một số trong số các nền tảng này cạnh tranh với
các dịch vụ tương đương trước khi có trực tuyến, trong khi một số nền tảng khác hoàn toàn mới.
Đặc biệt, nhu cầu thị trường nhanh chóng xuất hiện đối với các công ty công nghệ nhằm cung cấp
phương tiện cho khách hàng nhanh chóng tham gia vào thế giới kinh doanh trực tuyến mà không cần
phải tự mình phát triển mọi thứ từ đầu. Tương tự như cách các công ty áp dụng hệ điều hành chung
để xây dựng các ứng dụng mà không cần phải viết mã cụ thể cho từng máy in và thiết bị khác, các
dịch vụ trực tuyến cũng cần các nền tảng cung cấp các cấu phần chung cho tất cả hoặc hầu hết các
dịch vụ trực tuyến, cho phép họ tập trung vào các cấu phần độc đáo đối với dịch vụ riêng.
Như vậy, sự phát triển song song của các nền tảng số bao gồm cả nền tảng kinh tế số (mô hình kinh
doanh cho thị trường đa chiều) và nền tảng công nghệ số (dịch vụ và các cấu phần cung cấp cho
khách hàng các công cụ để xây dựng dịch vụ riêng).
Tiêu chuẩn này tập trung vào nền tảng số vì được sử dụng trong bối cảnh các dịch vụ trực tuyến hoặc
dịch vụ số.
5.2 Sự không rõ ràng của “nền tảng” cho các dịch vụ số
Trong lĩnh vực công nghệ số, có những tình huống cụ thể mà việc sử dụng “nền tảng” hay thậm chí
“nền tảng số” trở nên không rõ ràng.
Cả hai thuật ngữ này đôi khi được sử dụng cho cả nền tảng kinh tế số và nền tảng công nghệ số.
- Nền tảng kinh tế số được mô tả là một hoặc nhiều nền tảng số cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc
quyền được cấp phép cho hai hoặc nhiều nhóm người tham gia riêng biệt cần nhau theo một cách
nào đó. Thuật ngữ "nền tảng" liên quan đến kinh tế học có nghĩa là xác định các mối quan hệ kinh
doanh đa phương.
- Nền tảng công nghệ số được mô tả là bất kỳ loại hệ thống nào hỗ trợ việc tạo, sửa đổi hoặc bổ sung
chức năng phần mềm quan trọng bởi khách hàng nền tảng chứ không phải bởi bên cung cấp dịch v
nền tảng.
Hai thuật ngữ này độc lập và có thể áp dụng cho cả hai hoặc không áp dụng cho dịch vụ số (xem
Bảng 1).