TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14507:2025
ISO/IEC 24039:2022
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - KIẾN TRÚC THAM CHIẾU NỀN TẢNG SỐ ĐÔ THỊ THÔNG MINH - DỮ
LIỆU VÀ DỊCH VỤ
Information technology - Smart city digital platform reference architecture - Data and service
Nội dung
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
4 Tổng quan
5 Nguyên tắc thiết kế
6 Kiến trúc tham chiếu
7 Hỗ trợ kỹ thuật
7.1 Thu thập dữ liệu
7.2 Xử lý dữ liệu
7.3 Lưu trữ dữ liệu
7.4 Phát triển và thử nghiệm
7.5 Công cụ vận hành
8 Quản lý tài nguyên
8.1 Quản trị dữ liệu
8.2 Quản lý tài sản dữ liệu
8.3 Trí tuệ theo dữ liệu
8.4 Phân tách dịch vụ
8.5 Mô hình lĩnh vực
8.6 Trích xuất dịch vụ
9 Công bố khả năng
9.1 Dịch vụ dữ liệu
9.2 Vận hành dữ liệu
9.3 Cổng dữ liệu
9.4 Tích hợp dịch vụ
9.5 Cung ứng dịch vụ
10 Giao diện
10.1 Giao diện thu thập
10.2 Giao diện cung ứng
Phụ lục A (tham khảo) Ví dụ về khả năng tái sử dụng dịch vụ dữ liệu SCDP
Phụ lục B (tham khảo) Diễn giải theo tiêu chuẩn ISO/IEC 30145-3
Thư mục tài liệu tham khảo
Lời nói đầu
TCVN 14507:2025 hoàn toàn tương đương với ISO/IEC 24039:2022.
TCVN 14507:2025 do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 268/SC 1 "Cơ sở hạ tầng cộng
đồng thông minh" biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo
lường Chất lượng quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
Nền tảng số đô thị thông minh (SCDP) hướng đến việc hình thành một nền tảng công nghệ thông tin
thực tiễn, cho phép tích hợp các dịch vụ đô thị. SCDP là một phần của quá trình chuyển đổi số trong
hạ tầng và dịch vụ đô thị, được thúc đẩy bởi việc triển khai các giải pháp Internet vạn vật (IoT), trí tuệ
nhân tạo (AI), điện toán đám mây, dữ liệu lớn và song sinh số, cùng các công nghệ số khác.
SCDP là một không gian nơi các ứng dụng khác nhau có thể chia sẻ các tài nguyên và chức năng
chung cơ bản. SCDP cung cấp một giao diện để tích hợp hạ tầng số và vật lý của đô thị. SCDP cũng
cung cấp khả năng tích hợp để điều phối dữ liệu, dịch vụ và ứng dụng trên các lĩnh vực vận hành cho
nhiều bên liên quan trong đô thị thông minh.
SCDP được thiết kế để giúp phá vỡ các rào cản hệ thống truyền thống của một đô thị bằng cách kết
nối. SCDP hướng đến việc tái cấu trúc các hệ thống hiện có, cho phép các quy trình và tương tác
mới, và chuyển đổi sang các hình thức cung ứng dịch vụ mới. Các năng lực số do SCĐP cung cấp
hướng đến việc kết nối vạn vật, kết nối dữ liệu và kết nối đổi mới sáng tạo. Những năng lực này là
tiêu chí quan trọng để các đô thị xây dựng mối quan hệ đối tác nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, môi
trường và dịch vụ phù hợp với tương lai.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - KIẾN TRÚC THAM CHIẾU NỀN TẢNG SỐ ĐÔ THỊ THÔNG MINH - DỮ
LIỆU VÀ DỊCH VỤ
Information technology - Smart city digital platform reference architecture - Data and service
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định kiến trúc tham chiếu nền tảng số đô thị thông minh (SCDP), tập trung vào
việc hỗ trợ truy cập dữ liệu và dịch vụ cho các ứng dụng trong đô thị thông minh.
2 Tài liệu viện dẫn
Không có tài liệu viện dẫn trong tiêu chuẩn này.
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau đây.
3.1
Tài sản (asset)
Bất cứ thứ gì có giá trị đối với bên liên quan.
[NGUỒN: 3.1, ISO 22739:2020]
3.2
Dữ liệu (data)
Sự thể hiện các sự kiện của thực tế khách quan được hình thức hóa.
VÍ DỤ: Dữ liệu có thể là các ký hiệu và biểu tượng, và có thể ở dạng tương tự, dạng số hoặc cả hai.
Chú thích 1: Dữ liệu có thể được con người hoặc các phương tiện tự động sử dụng để giao tiếp, giải
thích hoặc xử lý.
[NGUỒN: 2.2, IEC CDV 60050-831]
3.3
Thông tin (information)
Dữ liệu có cấu trúc, được đặt trong ngữ cảnh và xử lý, được gán ý nghĩa rõ ràng.
Chú thích 1: Thông tin có ý nghĩa và hữu ích đối với con người, máy móc hoặc cả hai.
3.4
Tính liên tác (interoperability)
Tính chất cho phép nhiều hệ thống hoặc cấu phần khác nhau hoạt động cùng nhau vì một mục đích
cụ thể.
[NGUỒN: 2.11, IEC 80001-1:2010]
3.5
Siêu dữ liệu[1][1] (metadata)
Dữ liệu về dữ liệu hoặc các cấu phần dữ liệu, có thể bao gồm mô tả dữ liệu và dữ liệu về quyền sở
hữu dữ liệu, đường dẫn truy cập, quyền truy cập và tính biến động của dữ liệu.
Chú thích 1: Thuật ngữ "siêu dữ liệu" trong tiêu chuẩn này chủ yếu nhằm mục đích hỗ trợ việc xác
định, khám phá, đánh giá và quản lý dữ liệu do SCDP thu thập.
[NGUỒN: 3.1.24, ISO/IEC 20546:2019, đã sửa đổi - thêm CHÚ THÍCH 1.]
3.6
Nền tảng (platform)
Sự kết hợp giữa hệ điều hành và phần cứng tạo nên môi trường vận hành mà chương trình chạy
trong đó.
[NGUỒN: 3.30, ISO/IEC/IEEE 26513:2017]
3.7
Nền tảng số đô thị thông minh (smart city digital platform)
SCDP
Sự kết hợp giữa phần mềm và phần cứng tạo nên môi trường vận hành để hỗ trợ các dịch vụ và ứng
dụng chung của đô thị thông minh.
Chú thích 1: Môi trường vận hành cho phép xử lý dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và cung cấp các
dịch vụ chung.
Chú thích 2: Các dịch vụ chung nhằm mục đích cải thiện tính liên tác của các hệ thống liên lĩnh vực, ví
dụ như trao đổi dữ liệu, dịch vụ danh mục, đăng ký và cung ứng, v.v.
4 Tổng quan
SCDP kết nối hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông của đô thị thông minh, chẳng hạn như thiết
bị, mạng và Internet, với các ứng dụng đô thị thông minh, như chính phủ điện tử và dịch vụ công, vận
hành đô thị, ra quyết định và dịch vụ ngành công nghiệp, được thể hiện trên Hình 1. SCDP được đặc
trưng bởi việc khai thác kết hợp các cấu phần phần mềm với các thiết bị và giao thức vật lý không
đồng nhất, cung cấp cho các ứng dụng đô thị thông minh các dịch vụ phần mềm sẵn có sử dụng và
nâng cao hiệu năng hệ thống trong nhiều môi trường hệ thống khác nhau. Điều này cuối cùng cung
cấp các dịch vụ đô thị được tối ưu hóa và tích hợp cho người dùng cuối, chẳng hạn như chính phủ, cá
nhân, tổ chức và công ty. Một ví dụ về khả năng tái sử dụng dịch vụ dữ liệu SCDP cho các ứng dụng
khác nhau được trình bày trong Phụ lục A.
SCDP triển khai các khả năng của tầng hỗ trợ dữ liệu và dịch vụ được mô tả trong ISO/IEC 30145-3
(xem Phụ lục B). Dựa trên các nguyên tắc thiết kế trong Điều 5, các chức năng của SCDP có thể
được phân loại thành bốn nhóm:
1) Hỗ trợ kỹ thuật,
2) Quản lý tài nguyên,
3) Công bố khả năng, và
4) Giao diện.
Điều này được thể hiện trên Hình 1.
Hình 1 - Chức năng của nền tảng số đô thị thông minh
[1][1] Trong một số tài liệu còn được gọi là Dữ liệu đặc tả.
Hỗ trợ kỹ thuật: nhằm cung cấp các công cụ kỹ thuật và hệ thống đáng tin cậy và có khả năng mở
rộng, giúp cải thiện việc tích hợp dữ liệu và tổng hợp dịch vụ, đồng thời xây dựng nền tảng ngang để
loại bỏ các kho thông tin cô lập.
Quản lý tài nguyên: nhằm bảo đảm việc chuyển đổi tài nguyên, tính minh bạch của các quy trình,
chất lượng của dữ liệu và dịch vụ, hiệu quả vận hành và sự phát triển của dịch vụ.
Công bố khả năng: nhằm thúc đẩy khả năng tái sử dụng và tính mở, tích hợp giá trị nghiệp vụ với dữ
liệu và dịch vụ, đồng thời cung cấp các khối chức năng sẵn dùng cho các ứng dụng đô thị thông minh.
Giao diện: nhằm mục đích cung cấp một phương pháp thống nhất để truy cập các giao diện nhằm
giảm độ phức tạp của quy trình truy cập từ bên ngoài và cho phép tương tác linh hoạt.
5 Nguyên tắc thiết kế
Nguyên tắc thiết kế của SCDP như sau:
Toàn diện: nhìn vượt ra ngoài các kho thông tin cô lập để tái cấu trúc lại các hệ thống hiện có, tạo ra
các quy trình và tương tác mới, và chuyển sang các hình thức cung ứng dịch vụ mới, nhằm tránh các
kho thông tin cô lập và tạo ra các giải pháp có tính liên tác, dựa trên tiêu chuẩn, có thể nhân bản và
mở rộng cho các đô thị.
Tính mô-đun: tận dụng lợi thế của kiến trúc hướng dịch vụ và kiến trúc vi dịch vụ, cung cấp các mô-
đun dịch vụ liên kết lỏng lẻo hỗ trợ sự phát triển liên tục của các dịch vụ ổn định và linh hoạt, cũng
như khả năng thích ứng linh hoạt với nhiều yêu cầu nghiệp vụ mới;
Tính minh bạch: Dữ liệu và dịch vụ phải có khả năng trao đổi, xử lý và lưu trữ với định dạng chuẩn
và luồng dữ liệu có thể theo dõi. Điều này cải thiện tính liên tác và tính minh bạch của nền tảng, từ đó
nâng cao hiệu quả vận hành và tạo ra giá trị cho các đô thị;
Khả năng tái sử dụng: dữ liệu, dịch vụ và ứng dụng cần được sử dụng dựa trên khả năng và chức
năng được chia sẻ, nhằm đáp ứng các yêu cầu phản hồi nhanh chóng cho các doanh nghiệp mới và
tránh đầu tư phát triển lặp đi lặp lại;
Bảo mật: dữ liệu, dịch vụ và ứng dụng cần được bảo mật ngay từ đầu.
Bảng 1 cho thấy mối liên kết giữa các nguyên tắc thiết kế và các nhóm chức năng SCDP.
Bảng 1 - Ánh xạ nhóm chức năng với nguyên tắc thiết kế
Toàn diện Tính mô-đun Tính minh
bạch Khả năng tái sử dụng Bảo mật
Hỗ trợ kỹ thuật X X X X X
Quản lý tài nguyên X X X X X
Công bố khả năng X X X X
Giao diện X X X
6 Kiến trúc tham chiếu
Kiến trúc tham chiếu từ quan điểm chức năng của SCDP tập trung vào việc hỗ trợ truy cập dữ liệu và
dịch vụ từ bên ngoài được thể hiện trên Hình 2.
Nhóm chức năng hỗ trợ kỹ thuật như được mô tả trong Điều 4 và Hình 1 bao gồm các chức năng thu
thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, lưu trữ dữ liệu, công cụ vận hành và kiểm thử phát triển.
Nhóm chức năng quản lý tài nguyên như được mô tả trong Điều 4 và Hình 1 bao gồm các chức năng
quản lý tài sản dữ liệu, quản trị dữ liệu, trí tuệ theo dữ liệu, phân tách dịch vụ, mô hình lĩnh vực và
trích xuất dịch vụ.
Nhóm chức năng công bố khả năng như được mô tả trong Điều 4 và Hình 1 bao gồm các chức năng
về dịch vụ dữ liệu, vận hành dữ liệu, cổng dữ liệu, tích hợp dịch vụ và cung ứng dịch vụ.
Nhóm chức năng giao diện như được mô tả trong Điều 4 và Hình 1 bao gồm các chức năng của giao
diện thu thập và giao diện cung ứng.
CHÚ THÍCH: Các chức năng được thể hiện trong các khối đường chấm bao gồm trí tuệ nhân tạo,
đám mây, bảo mật và quyền riêng tư và quản lý hệ thống trên Hình 2 không bao gồm trong tiêu chuẩn
này.
CHÚ THÍCH: Trên Hình 2, trọng tâm là việc hỗ trợ truy cập dữ liệu và dịch vụ từ bên ngoài.
Hình 2 - Kiến trúc tham chiếu từ góc độ chức năng của nền tảng số đô thị thông minh (SCDP)
Thu thập dữ liệu là quá trình thu thập dữ liệu định tính và định lượng thông qua các công cụ số hoặc
phần mềm từ nhiều nguồn khác nhau.
Xử lý dữ liệu là việc thao tác và biến đổi dữ liệu để tạo ra thông tin và hiểu biết có ý nghĩa..
Lưu trữ dữ liệu là việc thu thập và duy trì thông tin số trong một phương tiện lưu trữ.
Quản lý tài sản dữ liệu đề cập đến các cấu phần phần mềm thiết lập phương pháp tiếp cận có hệ
thống để tổ chức và truy xuất tài sản dữ liệu.
Quản trị dữ liệu là quá trình tập trung vào việc quản lý chất lượng, tính nhất quán, khả năng sử dụng,
bảo mật và tính khả dụng của dữ liệu.
Trí tuệ theo dữ liệu là quá trình sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ học máy để phân tích và
chuyển đổi các tập dữ liệu khổng lồ thành thông tin chi tiết về dữ liệu thông minh, sau đó có thể được
sử dụng để cải thiện dịch vụ.
Dịch vụ dữ liệu đề cập đến các dịch vụ phần mềm đóng gói các vận hành trên các thực thể dữ liệu
quan trọng có liên quan đến các bên liên quan.
Vận hành dữ liệu là quá trình tạo ra giá trị nghiệp vụ từ dữ liệu bằng phương pháp quản lý dữ liệu có
hệ thống.
Cổng dữ liệu là hệ thống hoặc nền tảng hỗ trợ người dùng truy cập vào thu thập dữ liệu.
Phân tách dịch vụ là quá trình phân tách luồng dịch vụ thành các mô-đun chức năng độc lập.
Mô hình lĩnh vực là mô hình khái niệm của lĩnh vực kết hợp cả hành vi và dữ liệu.
Trích xuất dịch vụ là quá trình lựa chọn và điều phối các mô-đun dịch vụ cần thiết để đáp ứng các
yêu cầu cụ thể.
Tích hợp dịch vụ là quá trình tích hợp các dịch vụ phụ thuộc lẫn nhau từ nhiều mô-đun dịch vụ bên
trong và bên ngoài thành các dịch vụ sẵn dùng để đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
Cung ứng dịch vụ là quá trình cho phép người dùng truy cập và nhận các dịch vụ cần thiết.
Công cụ vận hành là một tập hợp các chức năng cơ bản để phần cứng và phần mềm vận hành hiệu
quả.
Kiểm thử phát triển là quá trình phát triển phần mềm liên quan đến việc áp dụng đồng bộ nhiều
chiến lược phòng ngừa và phát hiện lỗi nhằm giảm thiểu rủi ro, thời gian và chi phí phát triển phần
mềm.
Giao diện thu thập là giao diện nơi SCDP thu thập dữ liệu từ hạ tầng phần cứng và hệ thống phần
mềm bên ngoài.
Giao diện cung ứng là giao diện nơi SCDP cung ứng dịch vụ hoặc khả năng cho các hệ thống hoặc
người dùng bên ngoài.
7 Hỗ trợ kỹ thuật
7.1 Thu thập dữ liệu
Khả năng thu thập dữ liệu do SCDP cung cấp nên:
a) hỗ trợ thu thập dữ liệu có cấu trúc, dữ liệu bán cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc;