
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 6313:2025
CÁC KHÍA CẠNH AN TOÀN - HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO TRẺ EM TRONG TIÊU CHUẨN
Safety aspects - Guidelines for child safety in standards
Lời nói đầu
TCVN 6313:2025 thay thế TCVN 6313:2008 (ISO/IEC Guide 50:2002).
TCVN 6313:2025 chấp nhận tương đương có sửa đổi ISO/IEC Guide 50:2014.
TCVN 6313:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 01 Vấn đề chung về tiêu chuẩn hóa
biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
0 Lời giới thiệu
0.1 Đối tượng sử dụng tiêu chuẩn này
Tiêu chuẩn này đưa ra hướng dẫn cho những tổ chức xây dựng và sửa đổi hoặc thay thế tiêu chuẩn,
quy định kỹ thuật và các tài liệu tương tự. Tiêu chuẩn này bao gồm thông tin quan trọng, hữu ích làm
thông tin cơ bản cho các nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà giáo dục,
truyền thông, các nhà hoạch định chính sách...
Tiêu chuẩn này cung cấp thông tin hữu ích cho các chuyên gia đánh giá và giám định an toàn trong
trường hợp không có tiêu chuẩn cụ thể.
0.2 Lý do xây dựng tiêu chuẩn này
Việc ngăn ngừa thương tích là trách nhiệm chung của mọi người. Có một thách thức là phát triển các
sản phẩm, bao gồm các mặt hàng được sản xuất, kể cả bao bì, quá trình, kết cấu, lắp đặt, dịch vụ,
môi trường được tạo ra hoặc sự kết hợp của bất kỳ trong số này nhằm giảm thiểu khả năng gây tử
vong hoặc thương tích nghiêm trọng cho trẻ em. Một khía cạnh quan trọng của thách thức này là cân
bằng giữa sự an toàn với nhu cầu của trẻ em được khám phá môi trường khích lệ và học hỏi. Việc
ngăn ngừa thương tích có thể được thực hiện thông qua thiết kế, kỹ thuật, kiểm soát sản xuất, pháp
lý, giáo dục và nâng cao nhận thức.
0.3 Các vấn đề liên quan đến an toàn trẻ em
An toàn trẻ em phải là mối quan tâm chính của xã hội vì các thương tích ở trẻ em và thanh thiếu niên
là nguyên nhân chính gây ra tử vong và tàn tật ở nhiều nước. Báo cáo chung của WHO/UNICEF về
Ngăn ngừa thương tích ở trẻ em [26] xác định thương tích không chủ ý là nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong cho trẻ em trên 5 tuổi. Hơn 830 000 trẻ em chết mỗi năm do va chạm giao thông đường bộ, đuối
nước, bỏng, ngã và ngộ độc.
Trẻ em được sinh ra trong thế giới của người lớn, chúng không có kinh nghiệm hay nhận thức về các
rủi ro nhưng lại có mong muốn tự nhiên là khám phá. Chúng có thể sử dụng các sản phẩm hoặc
tương tác với môi trường theo cách không nhất thiết phải có chủ đích, không nhất thiết bị coi là “sử
dụng sai”. Vì thế nguy cơ thương tích là đặc biệt lớn trong giai đoạn thơ ấu. Việc giám sát có thể
không luôn ngăn ngừa hoặc làm giảm đáng kể thương tích. Do đó, cần thiết phải có các biện pháp bổ
sung nhằm ngăn ngừa thương tích.
Các biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ trẻ em cần nhận thức rõ ràng trẻ em không phải là người lớn
thu nhỏ. Tính nhạy cảm của trẻ em đối với thương tích và bản chất các thương tích của trẻ em khác
với những thương tích của người lớn. Các biện pháp can thiệp lý tưởng như vậy cũng phải xem xét
việc sử dụng có thể dự đoán trước một cách hợp lý về các sản phẩm hoặc môi trường xung quanh.
Trẻ em tương tác với sản phẩm theo cách phản ánh hành vi thông thường của một đứa trẻ và các
hành vi này sẽ thay đổi theo lứa tuổi và mức độ phát triển của trẻ. Vì vậy, biện pháp can thiệp để bảo
vệ trẻ em phải khác so với biện pháp nhằm bảo vệ cho người lớn.
0.4 Vai trò của tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn có thể giữ vai chủ đạo trong việc giảm thiểu và ngăn ngừa thương tích vì chỉ tiêu chuẩn
mới có các khả năng:
- sử dụng các kiến thức chuyên môn về kỹ thuật trong kiểm soát thiết kế, kiểm soát sản xuất và thử
nghiệm,
- quy định các yêu cầu an toàn quan trọng, và
- thông tin về hướng dẫn sử dụng, cảnh báo, hình minh họa, các ký hiệu, v.v...
0.5 Cấu trúc của tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn này cung cấp thông tin bổ sung cho TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51). TCVN 6844
(ISO/IEC Guide 51) đưa ra cách tiếp cận có cấu trúc để giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh an toàn
chung, còn tiêu chuẩn này tập trung vào các mối quan hệ giữa sự phát triển của trẻ em và tổn hại từ
thương tích không chủ ý và đưa ra lời khuyên về cách giải quyết các mối nguy mà trẻ em có thể gặp
phải. Tiêu chuẩn này được cấu trúc như sau:
a) Điều 4 mô tả cách tiếp cận tổng quát về an toàn cho trẻ em, bao gồm các nguyên tắc đề cập một
cách có hệ thống đến các mối nguy;
b) Điều 5 trình bày mối quan hệ giữa sự phát triển và hành vi của trẻ em và thương tích không chủ ý,
bao gồm nhân trắc học ở trẻ em (xem 5.1.2), vận động (xem 5.1.3), sinh lý (xem 5.1.4) và phát triển
nhận thức (xem 5.1.5) và các biện pháp khám phá (xem 5.1.6); tầm quan trọng của việc áp dụng kiến
thức về sự phát triển của trẻ em để ngăn ngừa tổn hại được đề cập ở 5.2; độ tuổi phát triển của trẻ
em so với độ tuổi theo thời gian được đề cập ở 5.3;
c) Điều 6 đề cập đến sự liên quan của môi trường thể chất và xã hội của trẻ và những xem xét cụ thể
liên quan đến môi trường ngủ của trẻ;
d) Điều 7 mô tả những mối nguy mà trẻ có thể gặp phải trong quá trình sử dụng hay tương tác với
một sản phẩm, cùng với các khuyến cáo riêng đối với việc giải quyết các mối nguy này;
e) Điều 8 mô tả phương pháp có cấu trúc để xem xét tính đầy đủ của các biện pháp bảo vệ.
Ngoài ra, Phụ lục A còn có danh sách kiểm tra để đánh giá tiêu chuẩn. Trong đó đưa ra cái nhìn khái
quát về các mối nguy, các thương tích tiềm ẩn và cách tiếp cận có cấu trúc với các giải pháp. Tuy
nhiên, cần phải đọc phần này cùng với phần chính của tiêu chuẩn, vì phụ lục chỉ đưa ra một vài ví dụ
về cách tiếp cận có cấu trúc.
0.6 Khác biệt so với ISO/IEC Guide 50:2014
Tiêu chuẩn này chấp nhận tương đương có sửa đổi ISO/IEC Guide 50:2014 Safety aspects -
Guidelines for child safety in standards với điểm khác biệt là:
ISO/IEC Guide 50:2014 quy định độ tuổi của trẻ em là người dưới 14 tuổi. Trong tiêu chuẩn này quy
định trẻ em là người dưới 16 tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam.
CÁC KHÍA CẠNH AN TOÀN - HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO TRẺ EM TRONG TIÊU CHUẨN
Safety aspects - Guidelines for child safety in standards
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này đưa ra hướng dẫn cho các chuyên gia xây dựng và sửa đổi, thay thế tiêu chuẩn cũng
như các quy định kỹ thuật và các tài liệu tương tự. Mục đích là đề cập đến các nguồn tiềm ẩn gây tổn
hại cơ thể đối với trẻ em từ các sản phẩm mà trẻ em sử dụng hoặc có khả năng tiếp xúc, ngay cả khi
sản phẩm không để dành riêng cho trẻ em.
Tiêu chuẩn này không đưa ra hướng dẫn về ngăn ngừa tổn hại do cố tình (ví dụ: lạm dụng trẻ em)
hoặc các hình thức tổn hại phi vật chất như là tổn hại về tâm lý (ví dụ: hăm dọa ngược đãi trẻ em).
Tiêu chuẩn này không đề cập đến hậu quả kinh tế của những vấn đề trên.
CHÚ THÍCH: Thuật ngữ 'sản phẩm” được định nghĩa ở 3.5.
2 Tài liệu viện dẫn
Trong tiêu chuẩn này không có tài liệu nào được viện dẫn.
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này sử dụng thuật ngữ, định nghĩa dưới đây.
3.1
Người trông nom trẻ (carer)
Người thực hiện trách nhiệm, tuy nhiên chỉ là tạm thời, đối với sự an toàn (3.7) của từng đứa trẻ.
VÍ DỤ: Cha mẹ; ông bà; anh chị em ruột được giao trách nhiệm hạn chế đối với trẻ; họ hàng khác,
người quen là người trưởng thành; người trông nom trẻ; giáo viên; lãnh đạo thanh niên; huấn luyện
viên thể thao; hướng dẫn viên cắm trại; nhân viên chăm sóc ban ngày.
3.2
Trẻ em (child)
Người dưới 16 tuổi [41].
Chú thích 1: Độ tuổi có thể thay đổi tùy theo luật pháp; trong ISO/IEC Guide 50:2014 là dưới 14 tuổi.

Chú thích 2: Xem 4.2 để biết thêm thông tin.
3.3
Tổn hại (harm)
Thương tích hoặc tổn thương đến sức khỏe của con người hoặc thiệt hại về tài sản hay môi trường.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.1].
3.4
Mối nguy (hazard)
Nguồn gây tổn hại tiềm ẩn (3.3).
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.2].
3.5
Sản phẩm (product)
Mặt hàng được sản xuất, quá trình, kết cấu, lắp đặt, dịch vụ, môi trường được tạo ra hoặc sự kết hợp
của bất kỳ trong số này.
Chú thích 1: Trong trường hợp hàng tiêu dùng, bao bì (dù dự kiến hay không dự kiến hoặc có khả
năng được giữ lại như là một phần của sản phẩm) được coi là một phần không thể thiếu của sản
phẩm (xem thêm 7.1).
3.6
Rủi ro (risk)
Sự kết hợp của khả năng xảy ra tổn hại (3.3) và mức độ nghiêm trọng của tổn hại đó.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.9, đã sửa đổi - bỏ Chú thích 1].
3.7
An toàn (safety)
Không có rủi ro (3.6) không thể chấp nhận được.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.14].
3.8
Rủi ro có thể chấp nhận được (tolerable risk)
Mức độ rủi ro (3.6) được chấp nhận trong bối cảnh nhất định dựa trên các giá trị hiện tại của xã hội.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.15, đã sửa đổi - bỏ Chú thích 1].
4 Tiếp cận chung về an toàn cho trẻ em
4.1 Khái quát
Khi xây dựng hoặc sửa đổi, thay thế một tiêu chuẩn đối với một sản phẩm, tổ chức xây dựng tiêu
chuẩn cần xem xét liệu trẻ em có khả năng tương tác với các sản phẩm mà tiêu chuẩn đó đề cập đến
hay không và bằng cách nào, bất kể sản phẩm đó có nhằm dành riêng cho trẻ em hay không. Các
khái niệm an toàn để phân biệt an toàn cho trẻ em và an toàn nói chung được giải thích trong điều
này. Các khái niệm này là bổ sung cho nội dung của TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51).
4.2 Mô tả độ tuổi được sử dụng trong tiêu chuẩn này
Một số thuật ngữ liên quan đến độ tuổi đề cập đến sự phát triển của trẻ em đang được sử dụng phổ
biến. Các thuật ngữ này không loại trừ lẫn nhau và phụ thuộc vào ngữ cảnh, có thể được sử dụng
một cách tương đối hoặc với ý nghĩa chính xác như sau:
- Thuật ngữ “trẻ sơ sinh” thường dùng để chỉ những đứa trẻ chưa biết đi.
- Thuật ngữ “trẻ mới biết đi” thường dùng để chỉ những đứa trẻ có thể đi lại nhưng kỹ năng di chuyển
chưa được phát triển đầy đủ và thể hiện hành vi khám phá mạnh mẽ.
- Thuật ngữ “trẻ nhỏ” thường dùng để chỉ những đứa trẻ đã qua giai đoạn chập chững biết đi, nhưng
vẫn đang phát triển các kỹ năng cơ bản, như là trẻ từ 3 đến 8 tuổi. Chúng có thể có các kỹ năng vận
động cơ bản phát triển tốt, đang bắt đầu thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản của người lớn và dần dần
ít chịu sự giám sát hơn, nhưng hành vi của những đứa trẻ này có thể vẫn bốc đồng và khó đoán. Điều
quan trọng cần lưu ý là sẽ có sự khác biệt đáng kể giữa các kỹ năng và hành vi của trẻ ở độ tuổi này.
- Thuật ngữ “trẻ lớn” đề cập đến những trẻ em chưa phải là thanh niên: giới hạn độ tuổi trên có thể
khác nhau, vì vậy thuật ngữ này có thể đề cập đến trẻ trong độ tuổi từ 9 đến dưới 16 tuổi. Đây là
nhóm tuổi ngày càng độc lập, có khả năng thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của người lớn (dù với các
mức độ năng lực khác nhau) mặc dù trẻ có thể vẫn hành động không nhất quán và có thể đoán được,

có thể phản ứng trước áp lực từ bạn bè và có thể không hiểu hết về những hậu quả trong hành động
của mình. Đó là giai đoạn khi có thể có xung đột cảm xúc vì mong muốn cả sự an toàn và độc lập. Ở
giai đoạn cuối của nhóm tuổi này, trẻ em có động lực mạnh mẽ đối với sự độc lập và có khả năng tìm
kiếm những trải nghiệm mới.
4.3 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là một bước quan trọng trong bất kỳ biện pháp ngăn ngừa thương tích nào. Điều quan
trọng là xác định tất cả các tình huống hoặc chuỗi tình huống có thể gây tổn hại đối với từng mối
nguy.
Cách tiếp cận chung được nêu trong TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51), xác định các rủi ro liên quan
đến một tình trạng nguy hại cụ thể là hàm số phụ thuộc mức độ nghiêm trọng của tổn hại và xác suất
xảy ra tổn hại đó. Cụ thể là, mức độ nghiêm trọng của tổn hại và xác suất xảy ra cần được xác định
một cách khách quan và dựa trên các sự việc có liên quan chứng minh quan hệ nhân quả thay vì ra
quyết định tùy tiện và trực quan. Khi đề cập đến an toàn cho trẻ em, các yếu tố dưới đây cần được
đặc biệt chú ý liên quan đến các rủi ro đối với trẻ em:
a) các tương tác của chúng với con người và sản phẩm;
b) sự phát triển và hành vi của trẻ;
c) mức độ nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm của trẻ và người trông nom trẻ;
d) các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường; khả năng bị thương tích liên quan đến đặc điểm thể
chất và hành vi của trẻ;
e) mức độ giám sát của người trông nom trẻ.
4.4 Ngăn ngừa và giảm tổn hại
4.4.1 Tổn hại có thể xảy ra do các mối nguy chẳng hạn như thiếu nhu cầu thiết yếu (ví dụ: oxy, như
đuối nước hoặc ngạt thở), truyền năng lượng (ví dụ: cơ, nhiệt, điện, chất bức xạ), hay tiếp xúc với các
tác nhân (ví dụ: hóa học, sinh học) lớn hơn khả năng chịu đựng của cơ thể (xem Điều 7). Có thể ngăn
ngừa hay làm giảm nhẹ các tổn hại này bằng sự can thiệp vào một chuỗi các tình huống dẫn đến tổn
hại hoặc tiếp theo sự xuất hiện của chúng. Thiết kế các sản phẩm an toàn thường mang lại kết quả
phòng ngừa ban đầu.
4.4.2 Các biện pháp có thể bao gồm một hoặc nhiều nội dung sau đây:
- loại bỏ mối nguy và/hoặc tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ 1, ví dụ: thiết kế các sản phẩm
an toàn hơn); ví dụ, thay thế chất lỏng dễ cháy bằng chất lỏng không bắt cháy;
- loại bỏ sự tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ 1);
- làm giảm khả năng tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ 2, ví dụ: sử dụng bao bì ngăn ngừa
trẻ em);
- làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn hại (ngăn ngừa ở cấp độ 2, ví dụ: sử dụng phương tiện bảo
vệ cá nhân hoặc giảm nhiệt độ nước nóng sinh hoạt);
- làm giảm ảnh hưởng lâu dài của tổn hại thông qua việc cứu chữa, xử lý hoặc phục hồi (ngăn ngừa ờ
cấp độ 3).
CHÚ THÍCH: Cách tiếp cận làm giảm rủi ro cũng được trình bày trong TCVN 6844 (ISO/IEC Guide
51:2014, 6.3).
4.4.3 Ngoài ra, các biện pháp có thể là bị động hay chủ động. Đối với các biện pháp bị động thì các
cá nhân không cần có hành động gì để được bảo vệ, còn các biện pháp chủ động thì yêu cầu các cá
nhân thực hiện một số hành động để làm giảm tổn hại. Các biện pháp bị động loại bỏ hoặc đề phòng
đối với mối nguy đảm bảo khả năng thành công cao hơn các biện pháp chủ động.
Việc cải thiện an toàn sản phẩm, nghĩa là loại bỏ hoặc giảm thiểu rủi ro có thể dẫn đến các thương
tích nghiêm trọng, nên bắt đầu từ giai đoạn thiết kế sản phẩm, nhằm kết hợp cách tiếp cập ngăn ngừa
ở cấp độ 1, hoặc nếu không thể, thì cách tiếp cận ngăn ngừa ở cấp độ 2. Ngăn ngừa ở cấp độ 2 có
thể bao gồm việc cung cấp thông tin cho những người sử dụng về rủi ro tồn dư, những rủi ro mà
người sử dụng có thể phải giải quyết. Bất cứ khi nào có thể, thiết kế sản phẩm nên hướng tới việc kết
hợp các biện pháp ngăn ngừa bị động.
CHÚ THÍCH: Cách tiếp cận làm giảm rủi ro cũng được nêu trong TCVN 6844 (ISO/IEC Guide
51:2014), 6.3.
Có thể sử dụng các nguồn khác nhau để xác định nguy cơ gây tổn hại liên quan đến một sản phẩm.
Các nguồn này bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
- các dữ liệu thống kê về thương tích;
- thông tin chi tiết có sẵn từ các hệ thống giám sát thương tích;

- các kết quả nghiên cứu;
- dữ liệu thử nghiệm (mặc dù đã qua thử nghiệm nhưng không có nghĩa là sản phẩm không có mối
nguy).
- các điều tra liên quan đến các báo cáo vụ việc;
- các dữ liệu liên quan đến khiếu nại;
- ngoại suy dữ liệu liên quan về các đặc tính nguy hiểm từ các loại sản phẩm khác. Dữ liệu giám sát,
thu hồi và các hành động tương tự khác trong phạm vi quyền hạn khác cần được xem xét.
THẬN TRỌNG: Việc không có các tổn hại được báo cáo không có nghĩa là không có mối nguy
nào.
Do các tổn hại của trẻ em nói chung có liên quan chặt chẽ đến giai đoạn phát triển của trẻ và các tiếp
xúc của chúng với các mối nguy ở các lứa tuổi khác nhau, nên việc phân loại dữ liệu về thương tích
của trẻ em theo nhóm tuổi để xác định các kiểu tổn hại là rất quan trọng.
VÍ DỤ 1: Số vụ bỏng do cửa lò, bỏng nước nóng, bị ngộ độc do thuốc và các hóa chất sử dụng trong
gia đình và chết đuối có tỷ lệ cao nhất đối với trẻ em dưới 5 tuổi.
VÍ DỤ 2: Các thương tích do bị ngã từ các thiết bị trong sân chơi cao nhất ở lứa tuổi từ 5 đến 9 tuổi.
Ví DỤ 3: Các thương tích do bị ngã và các va đập liên quan đến các hoạt động thể thao cao nhất ở
lứa tuổi từ 10 đến 14 tuổi.
Việc xác định các biện pháp đối phó thích hợp là kết quả từ các nghiên cứu và đánh giá, đặc biệt là
được dựa trên dữ liệu thương tích, hành vi của trẻ em, kỹ thuật và cơ chế sinh học. Phản hồi, ví dụ từ
những người tiêu dùng có thể cung cấp thông tin có giá trị về nhu cầu thiết kế lại sản phẩm.
Khi lựa chọn các biện pháp ngăn ngừa, cần nhận thức được rằng rủi ro chấp nhận được cho người
lớn có thể không áp dụng cho trẻ em. Khi đưa ra các biện pháp thiết kế để bảo vệ cho người lớn thì
cần phải xem xét các rủi ro gia tăng và/hoặc bổ sung đối với trẻ em (ví dụ: túi khí bên hành khách
trong ô tô).
4.5 Tính “vô hình” ở trẻ em
4.5.1 Trẻ em là “vô hình”, nghĩa là sự hiện diện của chúng rất khó phát hiện, vì một số lý do:
- kích thước cơ thể nhỏ bé của trẻ khiến người lớn khó nhìn thấy;
- sự thiếu khả năng phán đoán để hiểu các mối nguy hiểm và hành vi không thể đoán trước được của
trẻ có thể đặt trẻ vào những tình huống nguy hiểm mà người lớn không lường trước được.
4.5.2 Thị lực của con người có những hạn chế, như hạn chế về tầm nhìn xa. Trẻ em ngoài tầm quan
sát của người lớn có mối nguy gặp phải những tai nạn nghiêm trọng. Ví dụ:
- trẻ ở gần phương tiện giao thông có thể nằm trong điểm mù của người lái xe và vô tình bị phương
tiện đó đâm phải;
- trẻ có thể nhảy ra trước một phương tiện giao thông đang di chuyển và bị đâm;
- trẻ có thể không được nhìn thấy khi một người khác mở hoặc đóng cửa.
4.5.3 Cần xem xét các biện pháp khả thi để tránh hoặc giảm thiểu rủi ro tại các điểm mù, ví dụ:
- ngăn ngừa trẻ đi vào các vị trí có rủi ro cao, như đường xe chạy, bằng cách lắp đặt các rào chắn
hoặc rào chắn tay xoay để ngăn trẻ vượt qua phía trước xe buýt trường học mà tài xế xe buýt không
nhìn thấy.
- loại bỏ các điểm mù trên phương tiện giao thông bằng cách lắp gương hoặc hệ thống nhận dạng;
- mở rộng cửa sổ trong suốt ở cửa ra vào ở mức thấp hơn.
4.6 Nhu cầu của trẻ khuyết tật
Một tỷ lệ nhỏ nhưng đáng kể trẻ em bị khuyết tật. Một số trẻ em sinh ra đã bị khuyết tật hoặc tình
trạng sức khỏe suy giảm, trong khi các trẻ em khác bị khuyết tật do bệnh tật, thương tích hoặc dinh
dưỡng kém. Một số trẻ chỉ có một khuyết tật duy nhất trong khi các trẻ khác lại có nhiều khuyết tật. Ví
dụ, một đứa trẻ bị bại não có thể bị suy giảm về khả năng vận động, giao tiếp và trí tuệ. Sự tương tác
phức tạp giữa tình trạng sức khỏe hoặc sự suy giảm sức khỏe với các yếu tố môi trường và cá nhân
có nghĩa rằng trải nghiệm của mỗi đứa trẻ khuyết tật là khác nhau.
QUAN TRỌNG - Vì những lý do này, nên tham vẫn các chuyên gia.
Đối với trẻ khuyết tật, các yêu cầu đáp ứng nhu cầu của trẻ, ngoài các yêu cầu được nêu trong tiêu
chuẩn này, có thể thích hợp, mặc dù có thể có các tình huống khi các cách tiếp cận chung không thể
thực hiện được và cần phải có các cách tiếp cận riêng.
Thuật ngữ "khuyết tật” bao gồm nhiều tình trạng khác nhau, khác nhau về tính chất, mức độ nghiêm

