
GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”Page1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
HHII
ĐỀ TÀI MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
KHỦNG HOẢNG NỢ DƯỚI CHUẨN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
RÚT RA TỪ KHỦNG HOẢNG CHO HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Khóa : K21
Lớp : Ngày 3
Nhóm : 5
GVHD : TS. Diệp Gia Luật
THÀNH VIÊN NHÓM
1. Nguyễn Thanh Quế Anh 7. Nguyễn Văn Phúc
2. Trần Đức Dương 8. Nguyễn Thị Thảo
3. Lê Thanh Điệp 9. Đỗ Minh Tuấn
4. Nguyễn Thị Hà 10. Phạm Vũ Tuấn
5. Trần Minh Hậu 11. Phạm Thị Vân ( nhóm trưởng )
6. Phạm Thị Hoà 12. Trần Thị Thanh Vân

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”Page2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………..3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG ...................................................................... 4
1.1 Các khái niệm & đặc điểm cảu tín dụng thứ cấp ....................................... 4
1.1.1 Khái niệm ................................................................................................ 4
1.1.2 Các đặc điểm của tín dụng thứ cấp ........................................................ 4
1.2 Nguyên nhân khủng hoảng tín dụng thứ cấp .............................................. 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỦNG HOẢNGTHỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG THỨ
CẤP ..................................................................................................................... 11
2.1 Thực trạng khủng hoảngthị trường tín dụng thứ cấp tại Mỹ ................ 12
2.2 Thực trạng khủng hoảngthị trường tín dụng thứ cấp tại các nước khác, đặc biệt
là khu vực châu Âu ............................................................................................ 16
2.3 Tác động của khủng hoảng ......................................................................... 17
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Ở VIỆT NAM 26
3.1 Ảnh hưởng khủng hoảng nợ của Mỹ đến Việt Nam ................................ 26
3.2 Bài học rút ra từ khủng hoảng vay dưới chuẩn Mỹ ................................. 31
3.3 Kiến nghị cho Việt Nam .............................................................................. 35
3.3.1 Nguy cơ xảy ra khủng hoảng ở Việt Nam ............................................ 35
3.3.2 Một số kiến nghị ................................................................................... 38
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………..40

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”Page3
LỜI MỞ ĐẦU
Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp
dưới chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác
động mạnh đến cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính
của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài
chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải quyết khủng hoảng.
Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá các
khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn.
Thứ nhất, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá, dựa hoàn toàn vào những đánh giá của
các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều khoản vay không đủ chuẩn.
Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không
đủ chuẩn, gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán.

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”Page4
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Các khái niệm và đặc điểm của tín dụng thứ cấp
1.1.1. Khái niệm
Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latinh: Gredittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm. Tín
dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn. Trong thực tế tín dụng
hoạt động rất phong phú và đa dạng nhưng ở bất cứ dạng nào tín dụng cũng thể hiện 2
mặt cơ bản:
- Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác sử dụng
trong một thời gian nhất định.
- Đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người sử dụng hoàn lại cho người sở hữu 1
giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo ngôn ngữ kinh tế là lãi
suất.
Tín dụng thứ cấp còn gọi là cho vay dưới chuẩn, là các khoản cho vay các đối tượng
có mức tín nhiệm thấp. Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không
có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không
tốt trong quá khứ. Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ
đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốn
chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn. Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro
tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn và còn bằng tài sản thế chấp.
1.1.2. Các đặc điểm của tín dụng thứ cấp
Độ rủi ro cao
Tài sản thế chấp là tài sản hình thành từ nguồn tín dụng. Tài sản thế chấp cho các
khoản vay này thường chính là các bất động sản mà người vay vốn mua.
Hạn mức cho vay cao.
Thời hạn cho vay dài. Các khoản vay thế chấp này thường được kéo dài thời gian
trả nợ của người đi vay.
Lãi suất cao.
Khả năng chi trả và điểm tín dụng của người đi vay không được xét theo quy định.
Do vậy, khi thị trường suy thoái, những người đi vay dạng này không có điều kiện trả
nợ.
Quá trình phân bổ rủi ro rộng

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”Page5
Hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn có quá trình lan truyền, phân bổ rủi ro
rộng do sau khi cho vay, ngân hàng chuyển nhượng khoản vay cho công ty cho vay thế
chấp. Sau đó, các công ty này thực hiện phát hành “trái phiếu tái thế chấp” chuyển
nhượng rộng rãi trên thị trường chứng khoán. Dưới hình thức này, người cho vay thực
(người nắm giữ “trái phiếu tái thế chấp”) và người đi vay không biết nhau.
Mức độ lan tỏa rủi ro rộng là do sự mua đi bán lại các công cụ tài chính phát sinh
kéo theo quá nhiều các thành phần đầu tư trong nước cũng như nước ngoài vào cuộc
chơi.
Tính thanh khoản cao
Do những khoản vay đã được “trái phiếu hoá” thành sản phẩm tài chính thông
dụng có thể chuyển nhượng, mua bán dễ dàng và rộng rãi trên thị trường chứng khoán
nên tín dụng có tính thanh khoản cao.
1.2. Nguyên nhân khủng hoảng tín dụng thứ cấp
Chính sách tiền tệ mở rộng của FED trong giai đoạn 2001-2004
Cuối năm 2001, khi nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, FED đã liên tục cắt giảm lãi
suất. Chính sách tiền tệ mở rộng đã khuyếch trương các hoạt động kinh tế. Đến giữa năm
2002, nền kinh tế đã thực sự phục hồi nhưng mối lo ngại về việc suy thoái có thể quay trở
lại đã khiến Chủ tịch FED, Alan Greenspan, và đồng nghiệp quyết định giữ nguyên lãi
suất chỉ đạo ở mức 1% trong suốt 2 năm 2003 và 2004.
Căn cứ vào “tín hiệu” của ngân hàng trung ương, lãi suất trên hầu khắp các thị
trường tài chính đều đã giảm mạnh. Đặc biệt, lãi suất đối với khoản vay cố định 30 năm
chỉ ở mức 4% đến 5%, thấp nhất trong vòng 40 năm qua.
Tháng 9.2001, FED cũng đã bơm một số tiền lên tới 38,25 tỷ USD vào hệ thống
ngân hàng Mỹ để duy trì sự lưu thông tiền tệ thông suốt và tuyên bố sẵn sàng bơm thêm
tiền nếu cần thiết. Bên cạnh đó khối lượng tín dụng còn được thúc đẩy bởi dòng vốn nước
ngoài chảy vào ổn định.
Như vậy với việc hạ lãi suất, bơm tiền vào nền kinh tế làm cho lượng cung tiền
tăng mạnh nhưng FED không hề thực hiện bất kỳ một biện pháp nào để “trung hòa hóa”
tác động của dòng vốn vào đối với cung tiền vì họ tin rằng nền kinh tế vẫn đang trong

