
Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát của Việt Nam
Bàitiểuluậnkinhtếvĩmô2 Page1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ -LUẬT
DÌE
GVHD: PGS – TS. Nguyễn Văn Luân
LẠM PHÁT
VÀ CÁC
GIẢI PHÁP
CHỐNG
LẠM PHÁT
CỦA VIỆT
NAM
TIỂU LUẬN MÔN
KINH TẾ VĨ MÔ 2
SVTH: Phan Thị Ngọc Ái
MSSV: K084010002
Lớp : K08401T

Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát của Việt Nam
Bàitiểuluậnkinhtếvĩmô2 Page2
Phần 1: Mở Đầu
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở
Việt Nam, thì lạm phát là một vấn đề đáng quan tâm bởi tác động của nó đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế. Là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát
triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trong những trở ngại lớn nhất
trong công cuộc phát triển đất nước. Càng ngày, cùng với sự phát triển đa dạng
phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân dẫn đến lạm phát cũng ngày càng trở
nên phức tạp hơn. Đối với nước ta, trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, cơ chế mới sẽ là môi
trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại. Trong đó,
lạm pháp nổi lên như là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Vì vậy, việc nguyên cứu
về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần
thiết, sẽ giúp ta có một cái nhìn tổng quan hơn, đúc kết được kinh ngiệm để xây
dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời gian sắp tới.

Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát của Việt Nam
Bàitiểuluậnkinhtếvĩmô2 Page3
Phần 2: Nội Dung
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà
kinh tế. Trong mỗi công trình của các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm về lạm
phát.
Theo K.Marx trong bộ tự bản: “lạm phát là việc làm tràn đầy các kênh, các
luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa dẫn đến giá cả tăng vọt”. Ở đây Marx đã
đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, dẫn tới người ta có thể hiểu lạm
phát là do nhà nước do giai cấp tư bản, để bóc lột một lần nữa giai cấp vô sản.
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: lạm phát là biểu thị một sự tăng lên của
mức giá chung.
Milton Friedmen thì quan niệm: “lạm phát và việc tăng giá cả nhanh và kéo
dài”. Ông cho rằng lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”.
1.2 Phân loại lạm phát
1.2.1 Căn cứ vào mức độ lạm phát
• Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, chỉ số lạm phát dưới
10%. Làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kì này, nền kinh tế hoạt
động bình thường, đời sống của người dân ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện
là giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi và tiền vay không tăng cao, không xảy ra tình
trạng mua bán và tích trữ hàng hóa với số lượng lớn. Trong thời gian này các hãng
kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro.
• Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với 2 hoặc 3 con số
một năm. Giá cả tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế.

Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát của Việt Nam
Bàitiểuluậnkinhtếvĩmô2 Page4
• Siêu lạm phát: lạm phát tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã,
tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt
động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn.
1.2.2 Căn cứ vào định tính
• Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng .
Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động
tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp. Do đó
không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền kinh
tế nói chung.
Lạm phát không cân bằng :Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao
động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
• Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì
tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát này có thể dự đoán
trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,người dân đã quen
với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không gây ảnh
hưởng đến đời sống, đến kinh tế .
Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện .Loại
lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi.
Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của
nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút .
Đối với các nước đang phát triển lạm phát thường kéo dài , do đó các nhà kinh
tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài
trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường
kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một
năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm .
1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là
do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp,
hay nói cách khác là nền kinh tế đã vượt qua mức sản lượng tiềm năng của nó.

Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát của Việt Nam
Bàitiểuluậnkinhtếvĩmô2 Page5
Lúc này thì đồng tiền cầu sẽ vượt quá mức cung hàng hóa có giới hạn và sẽ làm
cho chúng tăng giá. Khi nền kinh tế đạt tới hoặc vượt qua mức sản lượng tiềm
năng , việc tăng mức cầu dẫn tới lạm phát do cầu kéo . Vì tổng mức chi đối với C
+ I + G tăng, chi tiêu tăng lên trong khi có một mức cung hạn chế về sản lượng
thực tế, phần lớn tổng mức chi cao hơn dẫn đến giá cả cao hơn . Do đó chính mức
cầu cao hơn kéo giá lên cao hơn , đó là lạm phát do cầu kéo
1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Đây là sự gia tăng được duy trì của mức giá chung do sự gia tăng tự định của
các chi phí. Điều này có thể do quyết định của người công nhân yêu cầu lương
thực tế cao hơn, do chủ thuê tăng biên lợi nhuận của họ lên hoặc có thể do việc
tăng tự định giá nhập khẩu. Những điều này được minh họa bằng sự dịch chuyển
theo hướng đi lên của đường tổng cung.
Tuy nhiên, người ủng hộ lý thuyết trọng tiền cho rằng những mức tăng này sẽ
gây ra lạm phát nếu chúng đi kèm với tăng thích ứng trong lượng cung tiền danh
nghĩa khiến cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Nếu lượng cung tiền
không tăng, những người theo phái thích tiền mặt có thể cho rằng chi phí đẩy sẽ
dẫn đến giảm phát. Những người theo trường phái Keynes cực đoan sẽ phủ nhận
việc chính sách tiền tệ có thể tạo ra ảnh hưởng hạn chế đối với sức ép chi phí đẩy
trong khi những người theo trường phái Keynes ôn hòa lại nhấn mạnh rằng lượng
cung tiền chủ yếu đóng một vai trò thụ động và mở rộng để tạo điều kiện cho
những sức ép này.
1.3.3 lạm phát do cung cầu tiền tệ tăng cao và liên tục
Cung tiền tăng (chẳng hạn do [ngân hàng trung ương] mua ngoại tệ vào để giữ
cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân
hàng trung ương mua [công trái] theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền
trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát. Lạm phát loại này
nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt quá mức hấp thụ
của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế. Có thể do
ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các
nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng.

