LỜI MỞ ĐẦU

Kinh tế thị trường đòi hỏi sự gắn bó mật thiết gữa sản xuất và tiêu thụ,

chính vì vậy thị trường là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh

nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn mà các doanh nghiệp cùng ngành cạnh tranh

ngày càng gay gắt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển

được thì một mặt phải củng cố thị trường đã có, mặt khác phải tìm kiếm và

phát triển thị trường mới. Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã

nỗ lực cố gắng hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thông qua chính sách kinh

tế mở cửa nhằm đẩy mạnh hơn nữa tốc độ tăng trởng kinh tế, góp phần làm

giảm tỉ lệ lạm phát, nâng cao đời sống nhân dân. Trong một vài năm trở lại

đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta đã đạt được ở mức khá cao so với

khu vực và thế giới. Đạt được kết quả đó, có một phần đóng góp của các tổ

chức đơn vị kinh doanh thương mại quốc tế (kinh doanh xuất nhập khẩu) góp

Ngày nay khi xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh

phần đưa nền kinh tế Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

chóng, thì việc các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu là điều

tất yếu. Hoạt động xuất nhập khẩu giúp chúng ta trao đổi lợi thế so sánh của

nước mình với các nước trên thế giới, tiếp nhận những khoa học kỹ thuật mới

trên thế giới, mặt khác việc các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập

khẩu cũng góp phần vào việc tăng nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua

thuế xuất nhập khẩu. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nên em chọn đề tài “Nội

dung của thuế xuất nhập khẩu. Trình bày một doanh nghiệp mà sinh viên

biết phải đóng thuế xuất nhập khẩu”

I. NỘI DUNG CỦA THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU

1. Khái niệm

Thuế xuất nhập khẩu (còn gọi là thuế quan): là loại thuế gian thu đánh

vào hàng hoá xuất nhập khẩu của một nước.

2. Nội dung

Chính sách thuế quan có thể nhằm vào mục đích tài chính hay mục

đích bảo họ sản xuất trong nước. Tương ứng, thuế quan gồm có:

- Thuế quan tài chính – là loại thuế có mục tiêu trực tiếp nhằm tăng thu

nhập cho ngân sách quốc gia.

-Thuế quan bảo hộ – là thuế nhằm mục đích bảo hộ nền sản xuất trong

nước thông qua việc đánh thuế để giảm bớt sức cạnh tranh của hàng hoá nhập

khẩu.

Thường các nước duy trì thuế quan bảo hộ ở mức hợp lý, dao động trong

khoảng 20-65% và thời gian bảo hộ từ 2 –5 năm, nhưng với điều kiện các

ngành được bảo hộ phải bảo đảm rằng giá cả của họ tiến dần tới mức quốc tế.

Thuế xuất khẩu và nhập khẩu đều tác động tới giá cả hàng hoá có liên

quan. Nhưng thuế xuất khẩu lại khác thuế nhập khẩu ở chỗ: một là, nó áp

dụng cho hàng xuất khẩu chứ không phải hàng nhập khẩu. Hai là nó làm giá

cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế vượt giá cả trong nước, dẫn đến bất lợi

cho khả năng sản xuất. Mức thuế xuất khẩu cao và duy trì lâu sẽ có lợi cho

đối thủ cạnh tranh, vì vậy, các nước phát triển hầu như không có đánh thuế

xuất khẩu. Riêng ở Việt Nam, thuế xuất khẩu chỉ áp dụng đối với một số

mựat hàng nhằm bổ sung nguồn thu ngân sách và nhằm hạn chế xuất khẩu

những thứ không khuyến khích.

Luật thế xuất nhập khẩu mới của Việt Nam (thay chó Luật thuế xuất

nhập khẩu cũ) bao gồm 3 loại thuế suất gồm:

Thuế suất thông thường áp dụng cho các nước không có MFN đối -

với Việt Nam;

- Thuế suất ưu đãi áp dụng với các nước có MFN cho Việt Nam

2

- Thuế suất đặc biệt ưu đãi cho các nước mà Việt Nam tham gia

khối thương mại.

Ngoài ra, gần đây Nhà nước còn ban hành 3 mức thuế bổ sung để tự vệ,

gồm:

- Thuế chống bán phá giá

- Thuế chống trợ giá - là những loại thuế áp dụng đối với một công

ty, một quốc gia bán hàng vào Việt Nam gây ảnh hưởng đến

ngành sản xuất tương tự của Việt Nam

- Thuế đối kháng – là loại thuế chống phân biệt đối xử trong

thương mại, các nước sử dụng chính sách phân biệt với Việt Nam

thì Việt Nam cũng sẽ áp dụng lại.

Để khuyến khích xuất khẩu, Bộ Tài chính cùng các Bộ liên quan đã xác

định thuế xuất khẩu cho hầu hết các mặt hàng đều có thuế suất là 0%.

II. CÔNG TY CENTRIMEX – CHI NHÁNH HÀ NỘI

1. Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CENTRIMEX -

Chi nhánh Hà Nội

Ngày 04/1/1988, để giải quyết chính sách đối với các bộ công nhân

viên dôi dư qua sặp xếp lại bộ máy và lao động của cơ quan Bộ, Bộ vật tư ra

quyết định 03/VT-QĐ thành lập xí nghiệp dịch vụ trực thuộc văn phòng Bộ

vật tư. Xí nghiệp dịch vụ được hoạt động theo phương thức thanh toán, được

mở tài khoản chuyên thu chuyên chi. Khi thành lập xí nghiệp dịch vụ này chủ

yếu kinh doanh các loại vật tư theo kế hoạch của Bộ vật tư giao.

Do nhu cầu kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp ngày

24/03/1988 Bộ vật tư ra quyết định 073/VT-CB sửa đổi bổ sung quyết định

03/VT-QĐ chuyển xí nghiệp thành đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.

Nhờ có sự cố gắng nỗ lực để củng cố và phát triển, qua một năm hoạt

động theo cơ chế thị trường, xí nghiệp không những củng cố được quá trình

3

phát triển, vị trí tồn tại, xí nghiệp đã vượt ra khỏi lĩnh vực dịch vụ đã tổ chức

sản xuất hàng trong nước và xuất khẩu, mở rộng địa bàn khắp cả nước và ra

cả nước ngoạ. Vì vậy ngày 10/1/1990, Bộ vật tư ra quyết định số 10/VT-QĐ

đổi tên xí nghiệp dịch vụ thành xí nghiệp dịch vụ và sản xuất vật tư.

Từ chỗ mới thành lập chỉ được cấp 4,2 triệu đồng tiền vốn, sau 2 năm

hoạt động xí nghiệp đã nâng tổng số vốn lên tới 535 triệu đồng và doanh số

1,33 tỉ. Với quy mô phát triển như vậy và khả năng phát triển ngày càng cao,

ngày 16/3/1990 Bộ trưởng Bộ vật tư ra quyết định số 72/VT-QĐ chuyển xí

nghiệp trực thuộc văn phòng Bộ thành xí nghiệp trực thuộc Bộ vật tư.

Qua 3 năm hoạt động, quy mô xí nghiệp không ngừng mở rộng và phát

triển, văn phòng xí nghiệp phải mở rộng phạm vi và quy mô mới đáp ứng

được nhu cầu quản lý các đơn vị trục thuộc.

Trước tình hình đó, ngày 22/4/1991, Bộ trưởng Bộ thương nghiệp ra

quyết định số 412/TN/TCCB chuyển đổi xí nghiệp thành công ty kinh doanh

và sản xuất vật tư hàng hoá, trực thuộc Bộ Thương nghiệp ( nay là Bộ

Thương Mại), tên giao dịch quốc tế là Material Trading Company

(MATECO), đặt trụ sở chính tại 399 Minh Khai.

Trong điều kiện thương nghiệp nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế

thị trường có sự quản lý cuả Nhà Nước, thương nghiệp Quốc doanh phần lớn

rơi vào lúng túng bị động, nhằm giúp cho công ty có thể chủ động giải quyết

được mọi vấn đề, ngày 17/6/1998 Bộ Thương Mại ra quyết định 233/CT-QĐ

cho phép Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội được áp dụng hình thức

khoán trong kinh doanh.

Hiện nay, công ty có 6 phòng kinh doanh xuất nhập khẩu trực thuộc và

4 đơn vị trực thuộc cùng một chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là:

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu I.

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu II.

4

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu III.

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu IV.

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu V.

-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu VI.

-Trạm dịch vụ sản xuất vật tư và nhà khách 12 - Quán Chính - Gia

Lâm.

-Trạm dịch vụ sản xuất vật tư và nhà khách 399 – Minh Khai.

-Cửa hàng kinh doanh kim khí số 1 – Gia Lâm.

-Cửa hàng kinh doanh săm lộp 399 – Minh Khai.

-Chi nhánh TP Hồ Chí Minh 16 – Nguyến Huệ – Quận 1.

Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội có chức năng là thông qua

hoạt động kinh doanh sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu để tạo thêm quỹ

vật tư, nguyên liệu, hàng hoá góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh dịch

vụ tăng nguồn thu nhập cho đất nước.

Theo quyết định của Bộ Thương Mại, Công ty CENTRIMEX - Chi

nhánh Hà Nội có phạm vi hoạt động và nhiệm vụ như sau:

* Phạm vi hoạt động của công ty.

-Tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ các loại vật tư hàng hoá trên thị

trường.

-Thực hiện đại lý bán buôn, bán lẻ và giới thiệu các loại vật tư hàng

hoá cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài nghành.

-Sản xuất, gia công vật tư hàng hoá, vật liệu xây dựng, bao bì các loại

để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường.

-Xuất khẩu các mặt hàng do công ty sản xuất hoặc do công ty liên

doanh, liên kết đầu tư, góp vốn tạo ra.

5

-Nhập khẩu các loại vật tư, nguyên liệu, hàng hoá để phục vụ sản xuất

và tiêu dùng trong nước.

-Tổ chức các dịch vụ, chuyển giao, ửng dụng công nghệ khoa học kỹ

thuật giữ thuê hàng hoá và cho gửi xe, bảo dưỡng xe, nhà khách và phục vụ

ăn uống.

* Nhiệm vụ của công ty.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, sản xuất dịch vụ

và kế hoạch khác có liên quan (dài hạn, từng năm), đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ của công ty.

- Quản lý, sử dụng và tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ

của công ty có hiệu quả. Đảm bảo đầu tư, mở rộng sản xuất, chế biến kinh

doanh dịch vụ, làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.

- Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý tài chính, quản lý xuất nhập

khầu và các quy định về giao dịch đối ngoại.

-Thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp

đồng kinh tế, hợp đồng liên doanh hợp tác đầu tư đã ký kết.

-Thực hiện tốt chính sách cán bộ, chế độ quản lý tài sản, lao động tiền

lương, sử dụng phân công lao động hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ

công nhân viên của công ty để không ngừng nâng cao trình độ văn hoá,

nghiệp vụ chuyên môn.

-Làm tốt công tác bảo hộ an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi

trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc phòng.

2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của Công ty CENTRIMEX - Chi

nhánh Hà nội

Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội là một công ty có quy mô

khá lớn. Đây là một doanh nghiệp vừa thực hiện chức năng thương mại, vừa

6

thực hiện chức năng sản xuất, do đó cơ cấu vốn của nó có những nét đặc thù

riêng và hiệu quả hoạt động của công ty chịu sụ tác động của cả hai mảng

này, trong đố chủ yếu là hoạt động thương mại. Tổng số vốn của công ty hiện

nay là 6 tỉ đồng VN, vốn lưu động chiếm tỉ trọng rất lớn 33,4% trong tổng số

vốn. Số vốn này được dùng chủ yếu cho hoạt động kinh doanh mà chủ yếu là

kinh doanh xuất nhập khẩu. Lợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm từ 60

–65% trong tổng số lợi nhuận thu được của công ty từ các nguồn.

Kể từ khi được đổi thành công ty kinh doanh và sản xuất vật tư hàng

hoá, các nghành nghề kinh doanh, mặt hàng chủ yếu của công ty là: ngoại

thương, cung ứng vật tư, dịch vụ, các loại vật tư và vật tư bổ sung, đồ mộc,

thiết bị bổ sung, khách sạn. Cho đến nay thì nghành nghề kinh doanh và mặt

hàng kinh doanh của công ty hầu như không có gì thay đổi, phát triển khá tốt

và đem lại hiệu quả cao.

Trong hoạt động xuất nhập khẩu trực tiệp và xuất nhập uỷ thác, phổ

biến là hình thức xuất nhập khẩu trục tiếp, hình thức này có thể giúp cho công

ty chủ động được trong mọi vấn đề. Tính riêng về hoạt động nhập khẩu thì

nhập khẩu trực tiếp mang lại 65% lợi nhuận cho công ty.

Mặt hàng kinh doanh phần nào đã quyết định đến thị trường của công

ty. Đối với hoạt động nhập khẩu, thị trường nhập khẩu của công ty chủ yếu là

các nước thuộc khu vực Châu Á . Đó là những nước có nền kinh tế phát triển

mạnh, có thể đem lại cho nền kinh tế nước ta những thuận lợi nhất định thông

qua việc nhập khẩu hàng hoá của họ.

3. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty CENTRIMEX - Chi

nhánh Hà Nội

Trong những năm đầu thành lập, công ty đã gặp một số khó khăn, đặc

biệt là vấn đề thiếu vốn trong hoàn cảnh nền kinh tế đất nước mới chuyển

sang kinh tế thị trương. Không chỉ riêng công ty mà phần lớn các doanh

7

nghiệp nhà nước đều rơi vào tình trạng này. Tuy nhiên nhờ vào sự phấn đấu

nỗ lực của bản thân, luôn luôn tìm cách chuyển hướng kinh doanh, công ty đã

đạt được những thành công nhất định. Cùng với sụ giúp đỡ của nhà nước

cũng như Bộ Thương Mại mà giá trị tổng doanh thu trên các mặt sản xuất

kinh doanh của công ty (kể cả kinh doanh nội địa và kinh doanh xuất nhập

khẩu) có sự tăng đáng kể.

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội

TT

Năm

1996

1997

1998

1999

Chỉ tiêu

1 Doanh thu

80.248.760.630 107.703.347.032 124.548.276.301 185.970.458.135

2 Giá vốn

75.434.215.728

99.215.316.402 112.960.635.210 168.470.318.210

3 Thuế

927.215.316

1.796.673.205

3.035.655.440

8.421.665.391

4 Chi phí

3.828.763.264

6.665.345.110

8.445.673.366

8.937.166.732

5 Lãi

14.566.322

26.003.315

106.312.285

141.317.902

Đơn vị : VNĐ.

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh (1996-1999).

3.1- Các mặt hàng nhập khẩu.

Công ty kinh doanh và sản xuất vật tư hàng hoá MATECO là doanh

nghiệp nhà nước, trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước công ty

phải luôn cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Một mặt coi trọng hoạt động

kinh doanh, một mặt công ty luôn lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo trong

kinh doanh, công ty không vì lợi ích trước mắt mà tự nhập khẩu hàng hoá,

danh mục hàng hoá nhập khẩu của công ty đều đã được sự đồng ý của Bộ

8

Thương Mại và là những mặt hàng cần thiết, bổ sung nhu cầu tiêu dùng trong

nước khi sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ. Các mặt hàng đó là

Săm lốp ô tô : Săm lốp ô tô là loại mặt hàng kinh doanh nhập khẩu chủ

yếu của công ty, Hiện nay, trong nước cũng có một số công ty sản xuất săm

lốp ô tô như cao su sao vàng.. song nhu cầu sửa chữa, lắp ráp ô tô là tương

đối lớn, sản phẩm trong nước sản xuất ra chất lượng tuy có đạt yêu cầu song

vẫn chưa đáp ứng đủ. Vì vậy nhập khẩu mặt hàng này của công ty là rất cần

thiết.

Phương tiện vận tải : Song song với sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở

hạ tầng thì sự gia tăng các phương tiện vận tải ngày càng lớn mạnh. Đặc biệt

là các loại xe vận tải hạng nặng rất cần thiết cho nhu cầu vận chuyển hàng

hoá ngày càng nhiều trong các tổ chức kinh tế cũng như trong nhân dân.

Trong hoàn cảnh hệ thống giao thông công cộng chưa phát triển công ty cùng

các đơn vị khác được giao nhiệm vụ nhập khẩu phương tiện vận tải để đáp

ứng nhu cầu trong nước.

Hàng tiêu dùng : Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, do nhu

cầu và đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng gia tăng

bắt nguồn từ đó. Trình độ khoa học ngày càng phát triển thì nhu cầu của

người tiêu dùng không dừng lại ở số lượng chất lưọng hàng hoá mà ở cả bao

bì, mẫu mã, chủng loại. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nhập khẩu

hàng tiêu dùng trong những năm qua, Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà

Nội đã góp phần vào việc đa dạng hoá nhằm bổ sung thêm về mặt hàng tiêu

dùng ở thị trường trong nước. Các mặt hàng công ty nhập như : Bếp ga, quạt

điện, rượu, mì chính, cà phê.

Ngoài ra, công ty còn nhập các loại ắc quy, vật liệu xây dựng như:

Gạch lát nền, sắt thép xây dựng, sơn, kính xây dựng, vật liệu điện như : que

hàn điện, dây dẫn, công tắc điện.

9

Đối với các mặt hàng này, công ty nhập về chủ yếu đáp ứng cho các

đơn vị kinh doanh thương mại, các đại lý tiêu thụ cũng như cửa hàng bán lẻ.

Bên cạnh đó, công ty còn nhập một số máy móc thiết bị như : máy bào,

máy cưa, máy ép nhựa, máy phôtô.

3.2- Kim nghạch nhập khẩu các mặt hàng trong những năm qua

Là đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, Công ty CENTRIMEX

- Chi nhánh Hà Nội đã ý thức được trách nhiệm và nhiệm vụ to lớn đó cùng

với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận. Trong những năm qua, ban lãnh đạo

công ty cùng với sự nỗ lục của tập thể, các phòng kinh doanh đã có những cố

gắng nhất định luôn đảm bảo kim nghạch nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn hơn

trong tổng giá trị sản phẩm của công ty. Điều đó thể hiện qua bảng sau:

Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng

Đơn vị : 1000USD

1996

1997

1998

1999

Năm

MẶT HÀNG

Săm lốp ôtô

2815

3200

4000

4500

Ăc quy

312.2

600

650

720

Phương tiện vận tải

216

309

325

435

Vật liệu điện

135

145

200

424

Hàng tiêu dùng

126

432

150

180

Máy móc thiết bị

312.82

400

450

500

Vật liệu xây dựng

219.98

514

225

241

Tổng cộng

4137

5500

6000

7000

Nguồn : Thống kê kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng (1996-1999).

4. Thị trường nhập khẩu của công ty

Trong hoạt động nhập khẩu, việc tìm kiếm để mở rộng thị trường là

một vấn đề quan trọng đảm bảo cho hoạt động nhập khẩu hàng hoá được diễn

10

ra liên tục và đạt hiệu quả cao. Nhận thức được vai trò to lớn này Công ty

CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội đã cố gắng tìm kiếm mở rộng thị trường

với mục đích đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế, chủ động nguồn hàng trong

hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên trong sự cố gắng đó thì cho tới nay Công ty

CENTRIMEX - Chi nhánh Hà Nội mới quan hệ với 7 nước, trong đó đều là

những nước thuộc khu vực Châu Á.

11

Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường (1996-1999).

TT

Năm

1996

1997

1998

1999

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tên

Giá trị

trọng

Giá trị

trọng

Giá trị

trọng

Giá trị

trọng

thị trường

%

%

%

%

Hàn Quốc

1572

38

880

16

15

900

1120

1

16

Singapore

165

4

302.5

5.5

6

30

434

2

6.2

Trung Quốc

608

51.3

3549

14.7

2821.5

3090

51.5

3

50.7

Ân Độ

591.6

14.3

973.5

17.7

18

1080

1295

4

18.5

Hồng Kông

537.8

13

401.5

7.3

7

420

455

5

6.5

Nga

579

14

104.5

1.9

1.5

90.0

70

6

1

Đài Loan

83.6

2

52.5

0.9

1

60

77

7

1.1

Tổng cộng

4137

100

5500

100

6000

100

7000

100

Đơn vị :1000USD.

Nguồn : Thống kê kim ngạch nhập khẩu theo thị trường.

5. Hình thức nhập khẩu của Công ty CENTRIMEX - Chi nhánh Hà

Nội

Trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty có hai loại hình

thức sau: Nhập khẩu (tự doanh) trực tiếp và nhập khẩu uỷ thác.

Kết quả nhập khẩu theo hình thức (1996-1999)

1996

1997

1998

1999

Giá trị (USD)

Giá trị (USD)

Giá trị (USD)

Giá trị (USD)

Tỷ trọng %

Tỷ trọng %

Tỷ trọng %

Tỷ trọng %

Năm Hình thức nhập khẩu Nhập khẩu trực

2689

65

3190

58

3180

53

3640

52

tiếp

Nhập khẩu uỷ

1448

35

2310

42

2820

47

3360

48

thác

Tổng giá trị

4137

100

5500

100

6000

100

7000

100

Đơn vị :1000USD.

12

KNNK

KẾT LUẬN

Như vậy thuế nhập khẩu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất

kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngược lại các doanh nghiệp tham gia hoạt

động xuất nhập khẩu làm ăn có hiệu quả thì cũng góp phần làm tăng ngân

sách nhà nước thông qua việc nộp ngân sách trong đó có thuế xuất nhập khẩu.

Công ty Centrimex – chi nhánh Hà nội là một ví dụ điển hình.Tuy nhiên thuế

xuất nhập khẩu có tác động hai mặt. Nếu thu thuế cao sẽ ảnh hưởng tới hoạt

động kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng bảo hộ nền sản xuất trong

nước, còn nếu thu thuế thấp sẽ tạo điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp

nhưng sẽ làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Vì vậy chính sách thuế cần

điều chỉnh hợp lý để các doanh nghiệp đều có thể kinh doanh thuận lợi

13

TÀI LIỆU TAM KHẢO

1. Luật thuế

2. Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội

3. Tạp chí Tài chính số 2

4. Tạp chí Tài chính số 3

5. Tạp chí Tài chính số 5

6. Tạp chí Tài chính số 6

14