intTypePromotion=1

Tiểu luận: Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản- thực trạng và tiềm năng

Chia sẻ: Hà Nguyễn Thúy Quỳnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:20

0
66
lượt xem
21
download

Tiểu luận: Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản- thực trạng và tiềm năng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bản chất của thị trờng. Về bản chất thị trờng là lĩnh vực trao đổi mà thông qua đó ngời bán và ngời mua có thể trao đổi sản phẩm, dịch vụ cho nhau tuân theo các quy luật kinh tế hàng hóa. THị trường al2 lĩnh vực trao đổi được tổ chức theo quy luật kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Thị trường là sự trao đổi ngang giá .....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản- thực trạng và tiềm năng

  1. TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- TIỂU LUẬN Đề tài: Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản- thực trạng và tiềm năng
  2. Thị trường đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản- thực trạng và tiềm năng CHƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRỜNG BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRỜNG. 1- Bản chất của thị trờng. Về bản chất thị trờng là lĩnh vực trao đổi mà thông qua đó ngời bán và ngời mua có thể trao đổi sản phẩm, dịch vụ cho nhau tuân theo các quy luật kinh tế hàng hóa. Nh vậy, ta có thể hiểu thị trờng đợc biểu hiện trên ba nét lớn sau: - Thị trờng là lĩnh vực trao đổi đợc tổ chức theo quy luật kinh tế hàng hoá nh: quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh.... - Thị trờng là sự trao đổi ngang giá và tự do đối với sản phẩm làm ra; gắn sản xuất với tiêu dùng, buộc sản xuất phải phục tùng nhu cầu tiêu dùng. Một thị trờng cân đối thì giá cả của nó phải phản ánh chí phí sản xuất xã hội trung - bình, do đó buộc ngời sản xuất phải giảm chi phí, tiết kiệm nguồn lực, nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm. 2- Chức năng của thị trờng. a- Cơ cấu của thị trờng. Cơ cấu tổ chức của thị trờng gồm các nhóm chủ thể kinh tế với chức năng riêng biệt của nó trong hệ thống thị trờng.
  3. Các nhóm chủ thể kinh tế này có quan hệ với nhau thông qua dây chuyền Marketinh sau: Ngời sản xuất - Ngời bán buôn - Ngời chế biến - Ngời bán lẻ - Ngời tiêu dùng. Mỗi mắt xích hay mỗi nhóm chủ thể trong dây chuyền Marketinh trên có một chức năng riêng biệt trong hệ thống thị trờng: + Ngời sản xuất: Ngời sản xuất bao gồm các doanh nghi ệp, công ty sản xuất, hợp tác xã, hộ gia đình, trang trại có chức năng tạo ra sản phẩm trên cơ sở sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất, tạo ra giá trị mới bổ sung vào giá trị cũ đợc chuyển từ các yếu tố đầu vào. + Ngời bán buôn: Ngời bán buôn gồm các doanh nghiệp thơng mại, hợp tác xã thơng mại, hộ gia đình có chức năng đa sản phẩm từ ngời sản xuất đến ngời chế biến và do phải thu gom, bảo quản, sơ chế...nên tạo thêm giá trị mới bổ sung vào sản phẩm làm tăng giá trị sản phẩm. + Ngời chế biến: Ngời chế biến cũng bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình có chức năng chế biến sản phẩm từ dạng thô sang sản phẩm có tính công nghi ệp làm chất lợng sản phẩm tăng thêm và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Do phải chi phí cho chế biến làm cho giá trị sản phẩm tăng thêm. + Ngời bán lẻ: Ngời bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp, đơn vị tập thể, t nhân có chức năng đa sản phẩm từ nơi chế biến đến ngời tiêu dùng cuối cùng. Do phải chi phí cho hoạt động thơng mại do đó làm cho giá trị sản phẩm tăng thêm. + Ngời tiêu dùng: Ngời tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xã hội có chức năng hoàn trả toàn bộ chi phí từ khâu sản xuất đến khâu dịch vụ cuối cùng của quá trình sản xuất và tiêu dùng. ã Qua cơ cấu trên, ngời ta có thể phân loại thị trờng thành: thị trờng các yếu tố đầu vào hay còn gọi là thị trờng t liệu sản xuất và thị trờng sản phẩm hay còn gọi là thị trờng hàng tiêu dùng. b- Chức năng của thị trờng. Bản chất của thị trờng còn thể hiện ở những chức năng của nó.Với tính cách là một phạm trù kinh tế, thị trờng có các chức năng cơ bản sau: ỉ Chức năng thừa nhận. Mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất hàng hoá đều thực hiện đợc việc bán, tức là chuyển quyền sở hữu nó với những giá nhất định, thông qua một loạt thảo thuận về giá cả, chất lợng, số lợng, phơng thức giao hàng, nhận hàng...trên thị trờng.Chức năng thừa nhận của thị trờng thể hiện ở chỗ ngời mua chấp nhận mua hàng hoá, dịch vụ của ngời bán và do vậy hàng hoá đã bán đợc. Thực hiện chức năng này
  4. nghĩa là thừa nhận các hoạt động sản xuất hàng hoá và mua bán chúng theo yêu cầu các quy luật của kinh tế thị trờng. ỉ Chức năng thực hiện. Hoạt động mua và bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm nhất của thị trờng. Trong nền kinh tế thị trờng phát triển, mọi yếu tố đầu vào cho sản xuất và đầu ra sản phẩm chủ yếu đều đợc tiền tệ hoá thì hoạt động mua và bán là cơ sở quan trọng quyết định các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế. Chức năng thực hiện của thị trờng thể hiện ở chỗ, thị trờng thực hiện hành vi trao đổi , thực hiện cân bằng cung cầu từng loại sản phẩm hàng hoá, hình thành giá cả và thực hiện giá trị của các sản phẩm hàng hoá. ỉ Chức năng điều tiết kích thích. Nhu cầu thị trờng là mục đích đáp ứng của mọi quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh. Thị trờng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế. Đây chính là cơ sơ khách quan để thực hiện chức năng điều tiết kích thích của thị trờng. Thực hiện chức năng này, thị trờng có vai trò quan trọng trong việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực khan hiếm của đất nớc cho quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm. ỉ Chức năng thông tin. Có nhiều kênh thông tin kinh tế, trong đó thông tin thị trờng là rất quan trọng. Chức năng thông tin thị trờng bao gồm: Tổng cung, tổng cầu hàng hoá, dịch vụ, cơ cấu cung cầu các loại sản phẩm hàng hoá trên thị trờng, chất lợng, giá cả hàng hoá, thậm chí cả thị hiếu, cách thức, phong tục tiêu dùng của ngời dân...Những thông tin thị trờng chính xác là cơ sở quan trọng cho việc ra các quyết định. Các chức năng trên của thị trờng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, làm cho thị trờng thể hiện đầy đủ vai trò bản chất của mình. Chức năng thừa nhận là quan trọng nhất, có tính quyết định. Chừng nào chức năng này đợc thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng. Nếu chức năng thừa nhận đã đợc thực hiện mà các chức năng khác không thể hiện ra thì chắc chắn đã có những yếu tố phi kinh tế nào đó can thiệp vào thị trờng làm cho nó biến dạng đi. 3- Vai trò của thị trờng. Thị trờng có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thị trờng . Thị trờng là lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ thông qua các quy luật của kinh tế hàng hoá, do đó nó là điều kiện cần và buộc phải có để kết thúc một chu trình sản xuất kinh doanh, thực hiện lợi nhuận cho nhà đầu t. Thông qua thị trờng, tất cả các chủ thể kinh tế đều có thể tự do mua những gì mình cần, bán những gì khách hàng muốn cũng nh mình có thể đáp ứng, nhằm thu lợi nhuận. Giá cả thị trờng đợc xác định bởi sự cân bằng cung – cầu, do đó bí quyết để thành công trong kinh doanh là phải làm sao chiếm đợc lòng tin của khách hàng, mở rộng thị trờng, thị phần cho sản phẩm của mình. Ngoài vai
  5. trò thực hiện lợi nhuận cho ngời kinh doanh, thị trờng còn có vai trò trong việc phân bổ những nguồn lực khan hiếm đều cho các ngành, các lĩnh vực và các chủ thể kinh tế thông qua giá cả thị trờng. Qua những vai trò trên, hơn ai hết những ngời làm kinh tế và những ngời nghiên cứu kinh tế phải đánh giá đúng tầm quan trọng của thị trờng, từ đó có những giải pháp để tìm kiếm và phát triển thị trờng cho sản phẩm của mình một cách phù hợp. Nắm đợc bí quyết để tiêu thụ tốt, nhiều sản phẩm trên thị trờng là một trong những thành công lớn mà bất cứ ngời làm kinh tế nào cũng mong đạt đợc. Nhng để đạt đợc thành công đó không phải là vấn đề đơn giản, mà là cả một quá trình nghiên cứu, tìm tòi cũng nh chấp nhận mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh do chính thị trờng mang lại. Việt Nam, từ khi xác định phát triển nền kinh tế theo hớng kinh tế thị trờng lấy việc tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật làm nền tảng, đã đa nền kinh tế nớc ta tiến đợc một bớc tiến đáng kể so với cơ chế kế hoạch hóa tập trung trớc đây. Trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tất cả các thành viên trong xã hội có đủ điều kiện kinh doanh theo luật doanh nghiệp Việt Nam đều đợc kinh doanh các mặt hàng mà nhà nớc không cấm. Các thông tin thị trờng luôn là những thông tin mở, nắm bắt nó một cách nhanh chóng, nhạy cảm sẽ đem lại những thành công lớn cho ngời làm kinh tế, qua đó góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nớc công nghiệp hiện đại trên thế giới. CHƠNG II CƠ CẤU, CHỨC NĂNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRỜNG THUỶ SẢN I- CƠ CẤU, CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRỜNG THUỶ SẢN. Cũng giống nh cơ cấu của thị trờng, cơ cấu của thị trờng thuỷ sản gồm các nhóm chủ thể kinh tế với những chức năng nhất định có mối liên hệ với nhau thông qua hệ thống dây chuyền Marketinh: Ngời sản xuất - Ngời bán buôn - Ngời chế biến - Ngời bán lẻ - Ngời tiêu dùng. Mỗi mắt xích hay mỗi nhóm chủ thể kinh tế trong hệ thống dây chuyền Marketinh trên có một chức năng riêng trong hệ thống chức năng chung của thị trờng: ã Ngời sản xuất. Ngời sản xuất sản phẩm thuỷ sản là những ngời làm công việc đánh bắt cá, tôm, hải sản các loại từ môi trờng nội đồng, biển khơi và cả nhóm ngời nuôi trồng hải sản để kinh doanh. Ngời sản xuất thuỷ sản có thể là những doanh nghiệp lớn với những hạm tầu khai thác cá ở ngoài biển khơi, có thể là trang trại gia đình nuôi trồng thuỷ sản và cũng có thể
  6. là những hộ gia đình cá thể đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ...Những ngời này có chức năng cung cấp sản phẩm thuỷ, hải sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu... ã Ngời bán buôn. Ngời bán buôn sản phẩm thuỷ sản có thể là các doanh nghiệp thơng mại, các hộ gia đình và các chủ thể nhỏ lẻ..Những ngời này đảm nhiệm công việc thu gom sản phẩm thuỷ sản từ các ng trờng hoặc các đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ trong cả nớc để cung cấp trực tiếp cho các đơn vị chế biến hoặc những ngời bản lẻ ở các chợ hàng. ã Ngời chế biến. Ngời chế biến thuỷ sản bao gồm các doanh nghiệp, các đơn vị tập thể, các hộ gia đình cá thể. Họ thực hiện công việc mua gom sản phẩm thuỷ sản sơ chế từ những ngời bán buôn, sau đó đem chế biến sản phẩm thuỷ sản này thành những sản phẩm có tính công nghiệp phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con ngời, ã Ngời bán lẻ. Ngời bán lẻ ở đây gồm các đơn vị tập thể, hộ gia đình cá thể có nhiệm vụ cung cấp hàng tiêu dùng thuỷ sản từ những đơn vị chế biến hoặc các đại lý tới tay ngời tiêu dùng cuối cùng. ã Ngời tiêu dùng. Ngời tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xã hội có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuỷ sản. Họ có trách nhiệm thanh toán tất cả các chi phí từ khi khai thác, chế biến, lu thông hay nói khác đi là từ khâu sản xuất tới lúc tiêu dùng. Các quá trình trên đợc diễn ra liên tiếp để đảm bảo quá trình sản xuất đợc khép kín, đồng vốn đợc quay vòng nhanh đem lại hiệu quả kinh doanh cho ngời sản xuất thuỷ sản. Qua mỗi một mắt xích, sản phẩm thuỷ sản lại đợc tăng thêm giá trị cho đến khi tới tay ngời tiêu dùng cuối cùng nó trở thành một sản phẩm hoàn hảo, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng. Mỗi một nhóm chủ thể kinh tế trong dây chuyền Marketinh trên, tuy có chức năng khác nhau nhng chúng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau, sản phẩm của mắt xích này là nguyên liệu đầu vào của mắt xích tiếp theo. Vì vậy, tất cả các quá trình lu thông hàng hoá qua các mắt xích trong dây chuyền Marketinh có diễn ra thông suốt thì mới đảm bảo cho thị trờng sản phẩm thuỷ sản đợc ổn định và phát triển, II- ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRỜNG THUỶ SẢN. Do đặc điểm của sản xuất, chế biến và tiêu dùng hàng thuỷ sản, thị trờng đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản là một thị trờng đa cấp. Việc tìm hiểu, phân tích thị trờng sản phẩm đầu ra cho thuỷ sản là phân tích trạng thái cân bằng ở mỗi cấp thị trờng. Mỗi một loại sản phẩm thuỷ sản ( sản phẩm tơi, sản phẩm chế biến, sản phẩm khô...) đáp ứng đòi hỏi của thị trờng về tất cả các mặt nh: thời gian, không gian, chất lợng,
  7. giá cả, số lợng...Do vậy, chủ thể kinh tế tham gia trên dây chuyền marketinh cần bỏ ra những chi phí nhất định để đáp ứng những đòi hỏi nói trên của thị trờng. Những chi phí này sẽ đợc phản ánh vào giá cả. Khi thị trờng chấp nhận giá, gồm giá sản phẩm thuỷ sản thô cộng với chi phí chế biến, chi phí marketinh thì chênh lệch giữa giá đó với giá ở cấp thị trờng trớc đó đợc gọi là độ cận biên thị trờng.Từ những lý luận trên, để thấy đợc trạng thái cân bằng của mỗi cấp thị trờng, ta đi tìm hiểu về độ cận biên thị trờng qua giá cả của sản phẩm. 1- Độ cận biên thị trờng và giá cả sản phẩm thuỷ sản. Độ cận biên thị trờng sản phẩm thuỷ sản là một khái niệm thể hiện giá trị dôi ra ở mỗi mắt xích nào đó trên dây chuyền marketinh sản phẩm. Chẳng hạn, ngời ta xem xét độ cận biên giá bán lẻ và giá bán buôn hoặc độ cận biên giữa giá bán buôn và giá bán lẻ . Nh vậy là ngời ta có thể xem xét độ cận biên thị trờng sản phẩm thuỷ sản giữa bất kỳ hai cấp thị trờng nào đã định giá. Chúng ta tiếp cận ở phía ngời tiêu dùng thủy sản từ hai khía cạnh của quá trình. Thứ nhất là với trình độ phát triển hiện nay của nền kinh tế nói chung và của ngành thuỷ sản nói riêng, ngời tiêu dùng các lợng sản phẩm thuỷ sản chế biến cha nhiều, nhng ở nông thôn ngời nông dân sử dụng sản phẩm thuỷ sản thô do mình tự đánh bắt hoặc nuôi trồng lấy nhiều hơn, còn ở thành phố thì ngời tiêu dùng các sản phẩm đã qua chế biến với số lợng lớn hơn. Điều đó chỉ ra rằng những ngời tiêu dùng khác nhau có những nhu cầu khác nhau về qui cách, mức chất lợng và dịch vụ cung cấp hàng hoá khác nhau. Thứ hai là xét về lâu dài, khi thu nhập và mức sống tăng lên cùng với sự phát triển cao hơn của nền kinh tế, nhu cầu của ngời tiêu dùng ở cả thành thị và nông thôn đều tăng lên đối với các dịch vụ làm tăng giá trị của sản phẩm thuỷ sản. Kết quả là trong cơ cấu giá mua hàng thuỷ sản của ngời tiêu dùng, phần trả cho cho các dịch vụ có chiều hớng tăng lên, còn trả cho sản phẩm thô, sơ chế có chiều hớng giảm xuống. Cùng với sự phát triển kinh tế, độ cận biên thị trờng sẽ tăng lên. Độ cận biên thị trờng giữa giá bán lẻ và giá tại các cơ sơ đánh bắt ( ng trờng, trang trại nuôi cá, hộ gia đình...) là sự chênh lệch giữa giá bán lẻ cuối cùng cho ngời tiêu dùng cuối cùng và giá mà ngời sản xuất thuỷ sản nhận đợc khi bán sản phẩm thuỷ sản sơ chế. Có thể coi nhu cầu ở cấp thị trờng bán lẻ bao gồm hai phần: Nhu cầu đối với sản phẩm thuỷ sản cha qua chế biến và nhu cầu đối với một loạt các dịch vụ. Nhu cầu đối với sản phẩm thuỷ sản cha qua chế biến gọi là nhu cầu phái sinh, xuất phát từ nhu cầu ban đầu ở cấp bán lẻ có kết hợp cả sản phẩm thuỷ sản thô và dịch vụ. Đờng cầu này đợc tạo ra khi đem mỗi điểm trên đờng cầu ban đầu trừ đi giá trị về các dịch vụ. Tơng tự nh vậy, đờng cung phái sinh cũng đợc tạo ra khi đem các giá trị trên đờng cung ban đầu cộng với
  8. các giá trị về các dịch vụ mà ngời tiêu dùng yêu cầu đối với ngời sản xuất. Giao điểm của các đờng cung và cầu này sẽ tạo nên giá cả của sản phẩm thuỷ sản trên thị trờng. Khi ngời tiêu dùng sẵn sàng trả giá cho độ thoả dụng mà hệ thống thị trờng tạo ra về thời gian, không gian, hình thức sản phẩm...thì ở đây độ cận biên thị trờng phản ánh mức chuẩn bị đầy đủ thoả dụng đó cho ngời tiêu dùng. Mức độ và các loại chi phí cho sự “ chuẩn bị “ này hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trờng Muốn phân tích đầy đủ và cụ thể ta phải đi xét hai trờng hợp cụ thể đó là: Trờng hợp độ cận biên thị trờng không thay đổi ( trong thời gian ngắn) và trờng hợp độ cận biên thị trờng thay đổi ( xét trong khoảng thời gian dài). 2- Sự hình thành giá cả theo thời vụ. Ngành nông nghiệp nói chung và thuỷ sản nói riêng là một ngành sản xuất vật chất có nhiều đặc điểm riêng, trong đó tình thời vụ khá cao là nét đặc trng nhất. Tình thời vụ của sản xuất thuỷ sản thể hiện rõ ở sự biến động của giá cả thị trờng theo thời vụ, đặc biệt là tính không ổn định của giá cả thị trờng đầu ra. ở đây, việc phân tích thị trờng đầu ra cho sản phẩm thuỷ sản tập trung vào sự hình thành giá cả thị trờng theo thời gian. Do đặc của ngành thuỷ sản, việc sản xuất kinh doanh phải dựa trên các qui luật sinh học động thực vật thuỷ sinh nên tính mùa vụ của ngành thuỷ sản là khá cao. Vào đúng mùa vụ, ngời sản xuất cung ứng sản phẩm theo nhu cầu của ngời tiêu dùng và do đó giá cả đợc hình thành dựa trên quan hệ cung cầu. Nhng vào lúc trái vụ, trong khi nhu cầu của ngời tiêu dùng là không thay đổi thì ngời sản xuất lại không có sản phẩm để bán hoặc do chi phí để dự trữ sản phẩm thuỷ sản là quá lớn làm cho giá cả của sản phẩm trên thị trờng tăng lên, và ta dễ dàng nhận thấy là mức tăng lên của giá phải lớn hơn chi phí mà ngời cung ứng bỏ ra để dự trữ sản phẩm( ở đây ta phải hiểu là sản phẩm thuỷ sản rất khó dự trữ vì đặc tính mau ơn, chóng hỏng của nó..) Qua những phân tích trên ta thấy rằng tính mùa vụ trong sản xuất thuỷ sản đã làm cho giá cả của sản phẩm thuỷ sản thay đổi rất lớn theo thời gian. Ngời sản xuất, cung ứng sản phẩm cần nắm rõ đặc điểm này để có chiến lợc kinh doanh phù hợp sao cho mức lợi nhuận từ hoạt động đầu t của mình là lớn nhất. 3- Tính độc quyền của thị trờng thuỷ sản. Trên thị trờng thuỷ sản ta thấy thờng chỉ tồn tại dạng độc quyền nhất thời. Tính chất độc quyền này do trình độ sản xuất của ngành thuỷ sản cha cao mang lại,thêm vào đó ngành thuỷ sản lại là ngành sản xuất phân tán ở nhiều vùng trên cả nớc dẫn tới tình trạng độc quyền nhất thời là không tránh khỏi. Ta hiểu, độc quyền nhất thời trên thị trờng thuỷ sản nh sau: Với một hệ thống các cơ sở sản xuất thuỷ sản phân bố ở khắp nơi trên cả nớc, trong khi đó trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và của ngành thuỷ sản nói riêng cón thấp dẫn tới trang thiết bị
  9. vận chuyển, cơ sở chế biến còn thiếu thốn lạc hậu, cả một vùng rộng lớn sản xuất và đánh bắt mới có một cơ sở mua gom, chế biến. Điều này dẫn tới sự độc quyền trong mua gom sản phẩm và phân phối các sản phẩm chế biến của các cơ sơ nói trên. Tuy nhiên, đây chỉ là tình trạng độc quyền nhất thời, khi trình độ phát triển của nền kinh tế cao hơn, sự trang bị cho ngành thuỷ sản hiện đại hơn, trình độ sản xuất, đánh bắt cũng nh chế biến của ngành thuỷ sản ở mức độ hiện đại hơn, các cơ sở mua gom đợc xây dựng nhiều hơn thì tình trạng độc quyền này sẽ mất đi và nh vậy việc ép giá của ngời mua với ngời sản xuất, nuôi trồng sẽ không còn nữa, tiến tới một thị trờng cạnh tranh hoàn hoả cho sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam. 4- Thị trờng sản phẩm trong nớc còn mang tính nhỏ, lẻ. Với vị thế của hệ thống bờ biển và sông ngòi, ao hồ của Việt Nam dẫn tới các cơ sở sản xuất thuỷ sản phân bố rộng khắp trên cả nớc. Trình độ phát triển của ngành thuỷ sản cha cao làm cho hệ thống thị trờng sản phẩm thuỷ sản cũng phân bố rộng khắp trên cả nớc với tính chất là nhỏ và lẻ. Ở trong nớc, sản phẩm thuỷ sản đợc bán chủ yếu tại các chợ ở các địa phơng với quy mô không lớn. Các khu chế biến cung ứng sản phẩm thuỷ sản lớn cha đợc hình thành hoặc đang manh nha, không đáng kể. Do vậy, hình thành nên một mạng lới hệ thống thị trờng nhỏ và lẻ phân bố rộng trên các vùng trong cả nớc. CHƠNG III THỊ TRỜNG SẢN PHẨM THUỶ SẢN THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG I- THỊ TRỜNG NỘI ĐỊA. 1- Cung - cầu và giá của các sản phẩm thuỷ sản trong nớc. Trong một vài năm gần đây, ngành thuỷ sản Việt Nam phát triển rất mạnh vơn lên là một ngành lớn trong hệ thống kinh tế của cả nớc. Năm 2000,tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản đạt 1.4 tỷ USD chiếm tỷ trọng gần 10% kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Đến năm 2003,ngành thuỷ sản quyết tâm đạt chỉ tiêu 2.3 tỷ USD đa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu thuỷ sản. Tuy vậy, có một thực trạng đặt ra là ngành thuỷ sản đã quá chú trọng tới xuất khẩu, trong khi đó theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia của FAO tiến hành tại Việt Nam từ cuối 2001 đến nay, thông qua 85 cuộc phỏng vấn và 2000 cuộc điều tra mẫu với các đối tợng ngời tiêu dùng khác nhau ở 12
  10. tỉnh, thành của cả ba miền thì có tới 70% lợng thuỷ sản hàng năm đợc tiêu thụ tại thị trờng nội địa. Nh vậy, có thể khẳng định thị trờng trong nớc cho sản phẩm thuỷ sản là rất lớn, cần đợc chú trọng phát triển. Vì là nghiên cứu nhấn mạnh vào thị trờng trong nớc nên ngời ta đặc biệt quan tâm đến các vấn đề vốn dĩ còn yếu kém của Việt Nam nh cách tiếp cận thị trờng ở ngay tại vùng nuôi, cảng cá cũng nh nhu cầu và tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản ở cấp độ ngời tiêu dùng liên quan đến các hoạt động của ngời bán sỉ, lẻ và các cơ sở chế biến. Tính đến năm 2002, tổng số dân cả nớc khoảng 80 triệu(17 triệu hộ gia đình), trong đó có khoảng 62.315 triệu ngời ( chiếm 77%) đang sống ở vùng nông thôn, cho thấy phần lớn ngời tiêu dùng trong nớc hiện đang sống ở vùng nông thôn. Về mặt dân tộc, tôn giáo không thấy có rào cản hoặc hạn chế nào đối với ngời tiêu thụ thuỷ sản vì phần lớn dân c thuộc dân tộc Kinh và theo đạo Phật hoặc các tôn giáo khác. Tất cả những khía cạnh này tạo ra cơ sở có lợi cho tiêu thụ thuỷ sản trong ngời tiêu dùng nội địa dựa vào nghề nghiệp và thu nhập của ngời dân, đặc biệt là phải u tiên cho chiến lợc phát triển thị trờng vào ngời tiêu dùng ở đô thị và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ. Xét về hành vi tiêu thụ thuỷ sản của ngời tiêu dùng dựa vào thói quen ăn uống thì hộ gia đình đợc coi là đơn vị tiêu dùng cơ bản, hầu hết các thành viên trong gia đình ăn tại nhà(95% thành viên có mặt trong bữa tối) do đó thờng thấy hành vi tiêu thụ thuỷ sản trong mô hình tiêu thụ hộ gia đình. Ngoài ra có tới 34.4% số ngời ăn ở các hàng ăn bình dân. Từ đấy cho thấy rằng, sản phẩm thuỷ sản đợc chấp nhận rộng rãi trong ngời tiêu dùng. Có tới 79.7% số ngời rất thích ăn cá và không có sự khác biệt về vùng, miền nơi họ đang sống, chỉ có một số rất ít nói rằng họ không thích. Vậy mô hình tiêu thụ thuỷ sản nào là phù hợp với ngời tiêu dùng trong nớc? Về tần suất mua hàng, trong một gia đình ngời phụ nữ thờng đảm trách vai trò này ( 83.8%). Cứ hai ngày ngời ta đi mua thuỷ sản một lần, mỗi lần mua khoảng chừng 1kg, ở thành thị ngời tiêu dùng sẵn sàng bỏ trung bình 20 ngàn đồng/lần còn ở khu vực cận đô thị và nông thôn các con số tơng ứng là 15 và 10 ngàn đồng/lần. Nói tóm lại, hiện nay mức tiêu dùng thuỷ sản đủ lớn trong các hộ gia đình, tuy nhiên có hạn chế là đa số thuỷ sản tiêu dùng có trọng lợng dới 1 kg. Nhu cầu tiêu dùng hàng thuỷ sản trong nớc là lớn nh vậy, song phần lớn là cha đợc đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ, nếu biết khai thác tiềm năng về thị trờng trong nớc sẽ còn lớn hơn rất nhiều. Ở nông thôn, ngoài sản phẩm thuỷ sản do ngời nông dân tự đánh bắt đợc qua hệ thống sông ngòi , ao hồ tự nhiên thì nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản ngon cũng khá lớn nhất là trong điều kiện hiện nay, do việc đánh bắt bừa bãi, không khoa học đã làm cho lợng cá, tôm ở các dòng sông lâm vào tình trạng cạn kiệt.
  11. Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, ở các tỉnh phía Bắc pha trộn tính ôn đới. Đặc điểm này tạo cho ngành thuỷ sản một số thuận lợi đó là: sự phong phú về giống loài sản phẩm dẫn tới sự đa dạng trong các mặt hàng thuỷ sản đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu; việc nuôi trồng thuỷ sản diễn ra quanh năm làm cho thị trờng thuỷ sản luôn phong phú. Một số loại sản phẩm thuỷ sản nội đồng đợc a chuộng trên thị trờng nh: - Đối với vùng nông thôn: cá mè, cá chép, cá bống, cá trắm cỏ, trắm đen,trê, rô phi, tôm đồng, trôi ấn độ.... - Đối với vùng thành phố và đô thị thì những sản phẩm đợc tiêu dùng chủ yếu là: Cá ba sa, trê lai, trắm cỏ, tôm rảo, chim trắng, chim hồng, cá nục, cá đối, mực, cua, ram..... Để thấy đợc sự đa dạng của thị trờng thuỷ sản trong nớc ta tìm hiểu một vài thị trờng cá chủ yếu ở các, vùng, mi ền trong cả nớc: a- Thị trờng miền Bắc Ở mi ền Bắc, thị trờng cá chủ yếu là ở các chợ, đối với vùng nông thôn thì chợ cá có quy mô nhỏ, vừa. Sản phẩm chủ yếu là các loài cá nội đồng, tôm, sản phẩm biển không nhiều. Một vài con số thống kê cho thấy thị trờng tôm ở mi ền Bắc ( gồm 8 tỉnh nh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) trong mấy năm gần đây phát triển khá nhanh: Năm 1998 nuôi tôm trên diện tích 6153 ha cho 838 tấn, năm 1999: 9155 ha cho 1612 tấn, năm 2000: 14305 ha cho 3090 tấn. Đến năm 2002 trở lại đây, mô hình nuôi tôm công nghiệp( thâm canh), bán thâm canh với năng suất cao đã phát triển ở các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình,...đã làm cho thị trờng tôm đợc mở rộng và phong phú hơn. Khối lợng tôm cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nớc tăng nhanh đáng kể: năm 2002, sản lợng tôm sú của 8 tỉnh mi ền Bắc đã đạt 12805 tấn cao gấp 3 lần sản lợng tôm năm 2000 với đà phát triển trên, năm nay Bộ Thuỷ sản dự kiến sẽ phấn đấu tổ chức nuôi đạt sản lợng 15000 tấn và kết quả này sẽ đợc tổng kết vào cuối năm nay. Riêng đối với sản phẩm cá ba sa, sau thất bại tại thị trờng Mỹ Agifish đã quyết định mở rộng, tìm kiếm thị trờng ở ngoài Bắc cho sản phẩm này và đã chọn Công ty TNHH Thái Bình An Giang-một đối tác có bề dày về tiêu thụ sản hàng thuỷ sản làm tổng đại lý phân phối độc quyền cá ba sa tại khu vực phía Bắc. Thành lập từ tháng 12/2002 (trụ sở tại 345 phố Vọng-Hà Nội), đến nay Thái Bình An Giang đã có 42 đại lý phân phối sản phẩm từ Nghệ An, Thanh Hoá đến Quảng Ninh, Lạng Sơn,... Các mặt hàng mang thơng hiệu Agifish rất đa dạng và phong phú, với danh mục dài hơn 50 món, gồm 4 nhóm sản phẩm chính: khai vị, làm sẵn, khô, sơ chế nh lạp xởng cá ba sa, bánh phồng, khô cá, chà bông, kho tộ, ốc biêu nhồi ba sa hoành thánh, cải cuộn ba sa... Các bà mẹ biết đến bởi nó có giá trị dinh dỡng rất cao đặc biệt là thành phần DHA, ômêga3 giúp tăng cờng trí não,
  12. chống lão hoá. Đa số khách hàng đều cho rằng, các món ăn cá ba sa của Agifish đa dạng hấp dẫn, tiện dụng cho nhu cầu ngời tiêu dùng trong thời đại công nghiệp. Những sản phẩm đợc ngời tiêu dùng Hà Nội mua nhiều nhất là cá kho tộ, philê đông lạnh, chả quế, canh chua ba sa. Khảo sát thực tế ở một số đại lý phân phối tại Hà Nội cho thấy tình hình kinh doanh của công ty nói chung tại các đại lý nói riêng là rất khả quan. Doanh thu tại một số đại lý là 25-30 triệu đồng/tháng, siêu thị 45 triệu đồng/tháng. Đa số ngời dân Hà Nội đã bắt đầu quen với tên tuổi loại thực phẩm này. Trớc đây, Thanh Trì là địa bàn thờng xuyên trung chuyển cá tơi cho ngời dân trong thành phố, cá nhiều, giá lại rẻ nhng khi sản phẩm của Agifish xuất hiện trên thị trờng, ngời dân nơi đây đã và thờng xuyên dùng cá ba sa cho bữa ăn hàng ngày. Hiện nay, Thái Bình An Giang đã có một số mạng lới phát triển thị trờng vững mạnh tại một số tỉnh, tạo tiền đề để thơng hiệu Agifish thâm nhập đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong mọi thành phần dân c. Mở rộng thị trờng, mở rộng mạng lới kinh doanh, đặc biệt tại một số tỉnh, nhằm đa sản phẩm cá ba sa đến đợc với mọi ngời dân một cách nhanh, hiệu quả, chất lợng và chiếm thị phần ngày càng lớn trên thị trờng nội địa là tham vọng của Thái Bình An Giang nói riêng và của ngời sản xuất thuỷ sản nói chung. b- Thị trờng miền Trung. Đối với miền Trung, do điều kiện địa lý tạo nên cho vùng một lợi thế lớn để phát triển thuỷ sản dẫn tới các thị trờng thuỷ sản rất đa dạng. Việc đánh bắt hải sản ngoài biển khơi phát triển hơn các vùng khác. Các chợ cá mi ền trung thờng sôi động và mang nhiều nét riêng. Trớc hết, đó chủ yếu là những chợ bán buôn, là nơi trung chuyển sản phẩm đánh bắt, nuôi trồng từ những ng dân qua tay các chủ nậu vựa, ngời mua buôn. Phải qua một vài bàn tay nữa sản phẩm mới đến đợc với tay ngời tiêu dùng. Thứ hai, các chợ này đều hoạt động từ nửa đêm đến sáng. Ví dụ nh tại cảng cá Thuận Phớc-cảng cá lớn nhất của Đà Nẵng- là một trong những cảng cá đợc xây dựng trong dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá mới đa vào sử dụng. Cập cảng Thuận Phớc ngoài tàu thuyền bản địa còn là nơi tập trung nguồn nguyên liệu từ các nơi khác đến cung cấp cho thị trờng trong nớc và xuất khẩu. Thời gian hoạt động chính của cảng từ 2 giờ đến 11 giờ, cao điểm từ 3 đến 7 giờ. Tuỳ thuộc vào lợng cá đa về từng ngày, trung bình có 1000-2000 ngời tham gia vào các hoạt động buôn bán ở đây. Cảng có Ban quản lý và những đơn vị phục vụ nh: đội bảo vệ, đội thu phí, đội vệ sinh môi trờng, tổ dịch vụ điện nớc, văn phòng giao dịch. Ngoài ra còn tổ giữ hàng, ngời gánh thuê, tổ cho thuê bạt thuê cân, đội xuồng vận chuyển nhỏ. Nghĩa là mo ị nhu cầu dịch vụ đều đợc đáp ứng. Các chủ nậu có vai trò rất quan trọng. Họ là những ngời cung ứng nhu yếu phẩm, nhiên liệu cho tầu cá, đồng thời cũng là ngời tiếp nhận hàng từ các tàu thuyền cập cảng
  13. giao cho ngời buôn, chịu trách nhiệm thu tiền giao cho các chủ thuyền. Họ thờng là ngời địa phơng, có nhiều kinh nghiệm, manh mối trong làm ăn, gồm khoảng 20 đến 30 ngời. Ngời buôn đợc phân làm hai loại, những ngời buôn với số lợng lớn tập trung để xuất khẩu và những ngời mua với lợng nhỏ hơn để tiêu thụ tại địa phơng. Quang cảnh của chợ cá Thuận Phớc càng về sáng càng sôi động. Tại mi ền Trung, tuy nghề thuỷ sản phát triển từ khá sớm, rất đông các hộ tham gia làm thuỷ sản nhng ngoài cảng Thuận Phớc của Đà Nẵng là khá lớn thì các chợ cá khác chỉ vừa và nhỏ nh cảng cá Cù Lao-Nha Trang. Tại đây, lợng hàng nhập rất tha thớt, một vài năm gần đây tàu không đa cá về cảng nữa do diện tích cảng chật hẹp, không có đủ các cơ sở dịch vụ hậu cần và những t thơng tại đây mua sản phẩm với giá không cao. Hiện nay, Nha Trang đang bắt tay vào để xây dựng một cảng mới-cảng Hòn Rớ với hy vọng thị trờng sản phẩm thuỷ sản ở đây phát triển hơn. Giá cá và hàng thuỷ sản khác thờng xuyên giao động nhng ở mức độ không lớn. Tuỳ theo lợng hàng về bến hay nhu cầu tiêu thụ mà sản phẩm có giá khác nhau, nhng đợc chia làm hai nhóm rõ rệt: nhóm sản phẩm cao cấp có giá trị rất cao chỉ dành cho xuất khẩu và một số ít đợc đa vào các nhà hàng, chẳng hạn nh cá mú 70000 đồng/kg, ngừ đại dơng 72000 đồng/kg, mực ống 70000 đồng/kg...nhóm còn lại có giá trị phải chăng, phù hợp với tiêu thụ nội địa nh cá dũa 7000 đồng/kg, cá thu 22000 đồng/kg. c- Thị trờng miền Nam. Thị trờng miền Nam, đây là một thị trờng hết sức đa dạng và phong phú, có thể nói là thị trờng rộng và lớn nhất trong cả nớc. Với lợi thế tự nhiên nhiều ao hồ, cộng với một hệ thống sông ngòi dày đặc, miền Nam là một nơi lý tởng để nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển. Trớc đây, trong những năm tháng chiến tranh, khi mà nền kinh tế nớc nhà còn nghèo nàn, lạc hậu, ngời dân đồng bằng Nam bộ đã coi nghề đánh bắt cá là nghề nuôi sống họ qua những năm tháng đói khổ. Giờ đây, khi đất nớc đang trên đà phát triển, ngời dân đồng bằng sông Cửu Long đã biết tận dụng những lợi thế do thiên nhiên u đãi để phát triển nghề cá một cách khá thành công, điều đó đợc minh chứng qua sự sôi động của thị trờng thuỷ sản. Các sản phẩm thuỷ sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long rất đa dạng và phong phú bao gồm tất cả các loại cá, tôm nội đồng và hải sản biển nh: cá trê lai, cá quả, cá rô phi, cá tra, cá ba sa, tôm nội đồng và tôm biển, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long có nghề nuôi cá lồng, bè rất phát triển cung cấp rất nhiều sản phẩm thuỷ sản cho thị trờng trong nớc và nớc ngoài. Một số thị trờng sản phẩm thuỷ sản lớn của khu vực phía Nam là: Bạc Liêu, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu.... Ở Bạc Liêu, với diện tích nuôi trồng thuỷ sản lên tới 38000 ha, bờ biển dài 56 km, diện tích các ng trờng rộng hàng chục ngàn km2...Bạc Liêu là một trong những vùng biển
  14. có trữ lợng hải sản lớn nhất của cả nớc, cung cấp cho thị trờng một lợng lớn sản phẩm hải sản các loại, đặc biệt là trong đó có các loại tôm chiếm đến 20% tổng sản lợng khai thác của vùng. Trong hai năm qua ngành thuỷ sản Bạc Liêu đã có tốc độ tăng trởng về năng lực sản xuất, sản lợng và giá trị kim ngạch xuất khẩu (khoảng 30%/năm) Đối với ngành thuỷ sản của Bà Rịa-Vũng Tàu, sản lợng hải sản đánh bắt đạt51.845 tấn, sản lợng nuôi trồng thực hiện đợc 735 tấn. Nói chung, ngành thuỷ sản của nơi đây khá phát triển, đặc biệt là ngành nuôi trồng, đánh bắt, chế biến xuất khẩu và công tác dịch vụ hậu cần... Trong năm qua, tuy ngành thuỷ sản của đồng bằng sông Cửu Long có nhiều biến động, nhng nói chung thị trờng của nó vẫn rất sôi động và thu hút đối với nhà đầu t ngành thuỷ sản, và có thể khẳng định rằng đây vẫn là một thị trờng hấp dẫn, mang lại lợi nhuận cao cho những ngời đầu t vào lĩnh vực thuỷ sản, trở thành một thành viên trong kênh phân phối của san phẩm thuỷ sản. 2- Những yếu tố ảnh hởng tới thị trờng thuỷ sản nội địa. - Thứ nhất: Bên cạnh những thuận lợi mà thiên nhiên đã u đãi, ban tặng cho nớc ta những điều kiện tuyệt vời để phát triển ngành sản xuất thuỷ sản, thì đồng thời cũng chính những yếu tố tự nhiên đã làm cho ngành thuỷ sản nớc ta gặp không ít những rủi ro do hạn hán, bão, lụt gây nên. Tất cả những điều đó làm cho ngành sản xuất thuỷ sản luôn ở thế bấp bênh dẫn tới thị trờng sản phẩm thuỷ sản luôn biến động bất thờng, giá cả hàng thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên này. Khi thời tiết thuận lợi, ngời sản xuất nuôi trồng, đánh bắt đợc nhiều làm cho lợng hàng thuỷ sản cung cấp trên thị trờng nhiều hơn, giá cả rẻ hơn. Ngợc lại, lúc mất mùa do thiên tai gây nên, lợng cung sản phẩm trên thị trờng ít hơn đẩy giá hàng hoá cao lên. Và những biến động do thiên tai gây nên này là khó tránh khỏi đồng thời cũng khó biết trớc đợc. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn tới sự biến động của thị trờng sản phẩm thuỷ sản. - Thứ hai: Do điều kiện phát triển kinh tế của nớc ta cha cao, trình độ phát triển của ngành thuỷ sản còn ở mức lạc hậu so với thế giới dẫn tới thị trờng của sản phẩm thuỷ sản cha phát triển ở trình độ cao. Những sản phẩm thuỷ sản khi đánh bắt, nuôi trồng với số lợng nhiều nhng khâu bảo quản, chế biến còn cha đáp ứng đợc một cách thoả đáng làm cho hàng thuỷ sản nớc ta cha đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và khó tính của ngời tiêu dùng trong cũng nh ngoài nớc. Tình trạng công nghệ bảo quản, chế biến, thu gom còn thấp dẫn tới nhiều sản phẩm thuỷ sản sau khi đánh bắt bị hỏng, ôi làm lãng phí một lợng đáng kể, và đây là một nguyên nhân quan trọng làm ảnh hởng trực tiếp tới sự phát triển của thị trờng thuỷ sản trong nớc. -Thứ ba: Do những biến động về kinh tế trong khu vực và trên thế giới làm cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam trên thị trờng thế giới khó tiêu thụ và điều này cũng ảnh hởng
  15. trực tiếp tới sự biến động của thị trờng thuỷ sản trong nớc. Sản phẩm hàng hoá không xuất khẩu đợc dẫn tới lợng tạm trữ trong nớc cũng nh lợng hàng cung cấp cho thị trờng trong nớc tăng lên, giá sản phẩm rẻ, gây nên những biến động không nhỏ trên thị trờng. - Thứ t: Một vài năm gần đây, để tạo điều kiện cho ngành sản xuất thuỷ sản Nhà nớc ta đã cho phép ngành thuỷ sản tự tìm kiếm thị trờng trong và ngoài nớc để giới thiệu sản phẩm đồng thời tự trang trải kinh phí để phát triển do đó đã làm cho thị trờng sản phẩm của thuỷ sản đợc mở rộng và có những bớc phát triển đáng kể. Đó là một vài nguyên nhân chính ảnh hởng trực tiếp tới sự biến động và phát triển của thị trờng thuỷ sản nội địa của nớc ta. 3- Những tiềm năng của thị trờng thuỷ sản nội địa. Khai thác, nuôi trồng và xuất khẩu thuỷ sản đã đợc xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam trong thế kỷ 21. Và phải khẳng định rằng, thời gian qua, chúng ta đã làm đợc không ít tiền đề quan trọng trong việc tạo lực bẩy, khơi thông luồng ra, phát triển năng suất và phát huy hiệu quả kinh tế của ngành. Tuy nhiên, để nâng ngành thuỷ sản lên tơng xứng với tầm vóc của nó, chúng ta đang rất cần có những chiến lợc lâu dài và sự phối hợp đồng bộ của nhiều ban ngành khác nhau đặc biệt là việc khơi thông tiềm năng về thị trờng đầu ra cho sản phẩm. Ở phạm vi bài này, em xin đợc nêu một số tiềm năng nội lực cơ bản để phát triển thị trờng đầu ra cho sản phẩm hàng hoá nh sau; ỉ Trớc tiên, về mặt thông tin-tiếp thị thị trờng, ngành thuỷ sản đã có nhiều nỗ lực cải thiện trong thời gian qua. Tuy nhiên, đi vào thực tế, vẫn có nhiều vấn đề khách quan cần phải đợc nhìn nhận. Cũng nh nhiều ngành nghề khác, hiện nay, ngành kinh doanh thuỷ sản đang rất chú trọng tới phát triển thị trờng cho sản phẩm đầu ra. Có thể nói thị trờng trong nớc đối với sản phẩm này đang có rất nhiều tiềm năng lớn: số lợng ngời tiêu dùng đông đảo, việc tiêu dùng cá trong mỗi bữa ăn của các hộ gia đình đã trở thành một thói quen, phong tục; Việt Nam đang xây dựng và phát triển một thị trờng cạnh tranh hoàn hảo, trong đó mọi thông tin thị trờng đều đợc cung cấp một cách tự do và đặc biệt luật cạnh tranh cho ngành thuỷ sản đang còn nhiều thuận lợi... ỉ Bên cạnh vấn đề thông tin- tiếp thị thị trờng, một việc quan trọng cũng cần đợc quan tâm nghiên cứu nh là một tiềm năng lớn đó là tăng cờng đầu t nâng cấp công nghệ chế biến sau đánh bắt để khai thác hết giá trị của sản phẩm thuỷ sản Việt Nam, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của khách hàng. Không ai có thể phủ nhận trong thời gian qua nớc ta đã có nhiều nỗ lực cải tiến trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tế mà nói, những gì phần đông doanh nghiệp trong nớc đã và đang có vẫn cha thể gọi là hiện đại, đủ để đáp ứng yêu cầu gắt gao của ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc. Sản phẩm sản xuất ra cha đợc đa vào chế biến một cách kịp thời, đúng cách dẫn tới chất lợng hàng hoá cha cao
  16. đồng thời cùng không khai thác đợc hết những giá trị vốn có của sản phẩm tơi sống.. Với điều kiện công nghệ hiện đại nh hiện nay, việc áp dụng những thành tựu phù hợp để khai thác giá trị của sản phẩm chế biến đang đợc coi là một tiềm năng lớn của ngành thuỷ sản của nớc ta và nó đang đợc chú trọng khai thác. ỉ Cuối cùng, đó là việc tận dụng những tiềm năng sẵn có mà thiên nhiên ban tặng cho nớc ta để phát triển một ngành thuỷ sản tơng xững với tiềm năng sẵn có của Việt Nam. II- THỊ TRỜNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM. 1- Thị trờng các nớc Châu Á Ngoài việc xuất khẩu sang các nớc của khu vực ASEAN ,Đài Loan, Trung Quốc thì hàng thuỷ sản của Việt Nam đợc bán chủ yếu tại thị trờng Nhật Bản- đây cũng là thị trờng xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất của nớc ta trong một số năm gần đây (sáu tháng đầu năm nay chiếm 27% giá trị kim ngạch thuỷ sản xuất khẩu). Trong bài viết này, để tìm hiểu thị trờng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tại khu vực CHÂU Á, em xin nêu một số tình hình về xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật Bản. Có thể nói thị trờng Nhật Bản là một thị trờng lớn, hấp dẫn đối với các sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam, tuy ngành thuỷ sản của Nhật Bản phát triển cao nhng họ vẫn nhập rất nhiều sản phẩm của Việt Nam do hàng thuỷ sản của nớc ta có chất lợng tốt, giá cả phải chăng và đặc biệt là do chủng loại sản phẩm của nớc ta rất đa dạng và phong phú nhất là các sản phẩm cá, tôm nớc ngọt và nớc lợ. Hai mơi năm qua, Nhật Bản vẫn là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản với khối lợng lớn từ Việt Nam, bởi vậy đã có 150 doanh nghi ệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng này. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trờng Nhật Bản năm 1999 đạt 353 triệu USD; năm 2000 đạt 469 triệu USD; tới năm 2002 đạt hơn 500 triệu USD. Những sản phẩm chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu sang Nhật là: tôm, hải sản biển, cá nớc ngọt và một số loại hải sản quý hiếm khác... Với những tiềm năng thuỷ sản mà chúng ta sẵn có, nếu biết khai thác, chế biến phù hợp đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của ngời dân Nhật Bản thì đây sẽ còn là một thị trờng lý tởng cho các nhà kinh doanh xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam. 2- Thị trờng EU. Thị trờng EU có 15 thành viên với 337 triệu dân, GDP hơn 9000 tỷ USD/năm, tiêu thụ các mặt hàng thuỷ sản có chất lợng cao. Hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu vào EU những năm gần đây xếp vào danh sách II, đến năm 2000 đa lên danh sách I. Một số nhà xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam cho rằng, EU đã mở rộng cánh cửa cho thị trờng này. Thị trờng EU không phải là thị trờng đồng nhất mà là thị trờng của 15 nớc khác biệt, trên thực tế các nhóm dân c, các vùng địa lý với những nét đặc trng ẩm thực khác nhau.
  17. Do đó kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trờng này chỉ ổn định trong khoảng 80-100 triệu USD. Trên đây là một số thành tựu mà ngành thuỷ sản Việt Nam đã đạt đợc tại thị trờng EU, nhng chúng ta không thể không nhìn ra một thực tế là thị trờng EU là một thị trờng khó tính, những đòi hỏi của thị trờng này đối với các sản phẩm thuỷ sản nớc ta ngày càng cao, trớc tiên là về vệ sinh an toàn thực phẩm, sau đó đến mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Muốn mở rộng thị trờng tại nơi đây, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chỉ có một con đờng duy nhất là giữ đợc chữ tín trong lòng khách hàng thông qua việc không ngừng đổi mới chất lợng, mẫu mã sản phẩm của mình. Có nh vậy ngành thuỷ sản mới mong giữ đợc thị trờng Châu Âu nói chung và thị trờng EU nói riêng. Trong một vài năm gần đây, tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Châu Âu tơng đối ổn định , nhng nhìn chung có xu hớng giảm, mà rõ rệt nhất là ở mặt hàng tôm- sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất của ta. Những biến động dù là nhỏ này cũng nói lên một điều là sản phẩm thuỷ sản của nớc ta cha thoả mãn một cách tốt nhất những nhu cầu của ngời tiêu dùng nơi đây. Thấy đợc những đặc điểm này là một trong những tín hiệu thị trờng giúp cho các nhà đầu t vào lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam có hớng điều chỉnh sao cho phù hợp để EU mãi là một thị trờng lớn cho sản phẩm thuỷ sản của nớc ta. 3- Thị trờng Mỹ. Thị trờng Mỹ luôn là một thị trờng hấp dẫn không chỉ đối với các nớc Châu á (trong đó có Việt Nam), mà còn là mục tiêu của nhiều nớc châu lục khác. Bởi không chỉ có 270 triệu dân với GDP năm 1997 là 800 tỷ USD, kinh tế liên tục tăng trởng: năm 1998 là 3.4%; năm 1999 là 3.6%; năm 2000 kìm hãm tốc độ cũng đạt 3% đến 3.2%. Sức mua của ngời dân Mỹ lớn, giá cả ổn định mặt hàng chất lợng cao càng đắt giá lại càng dễ tiêu thụ. Năm 1999 nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ đạt con số kỷ lục 9.3 tỷ USD. Vào thị trờng Mỹ có nghĩa là hàng hoá uy tín chất lợng cao, bởi vì phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Nắm bắt đợc tính cách và tiềm năng của thị trờng này, Việt Nam đã cử chuyên gia thuỷ sản đầu tiên tham gia lớp tập huấn quốc tế về HACCP(Hazard Analysis critical control Point) từ năm 1991. Ngành thuỷ sản cũng đã thành lập cơ quan kiểm tra chất lợng hàng thuỷ sản, cho nên năm 1998 đã có 27 nhà máy đông lạnh chế biến thuỷ sản đạt tiêu chuẩn HACCP, năm 1999 lên 47 nhà máy, năm 2000 có 67 nhà máy đạt tiêu chuẩn HACCP. Năm 1997 hàng thuỷ sản Việt Nam xuất sang thị trờng Mỹ mới đạt 39.3 triệu USD; năm 1998 lên 80.15 triệu USD tăng 204% so với năm 1997; năm 1999 lên 130 triệu USD , tăng 162.2 % so với năm 1998; năm 2000 tăng 220%. Trong những mặt hàng
  18. thuỷ sản vào thị trờng Mỹ thì con tôm vẫn là mặt hàng chủ lực, năm 1997 xuất đợc 3074 tấn tôm với giá trị kim ngạch 31.32 triệu USD, chiếm 79.6% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng Mỹ; năm 1998 xuất khẩu đợc 6125.7 tấn với giá trị kim ngạch 66.89 triệu USD; năm 1999 xuất đợc 9100 tấn với giá trị kim ngạch 96.5 triệu USD, chiếm 74.23% kim ngạch năm 1999. Giá tôm ở thị trờng Mỹ tơng đối cao so với các thị trờng khác. Ngoài tôm sú, các mặt hàng khác thờng đợc xuất khẩu sang Mỹ bao gồm các loại thuỷ sản khác nh: cá ba sa, cá tra, cá nheo, cá bơn nuôi nớc ngọt và cá ngừ biển khơi...Tất cả những mặt hàng trên đều đợc thị trờng Mỹ chấp nhận với giá cả tơng đối cao. Tuy nhiên, trong năm vừa qua, sau thất bại của vụ kiện về việc bán phá giá cá tra, cá ba sa của Việt Nam trên thị trờng Mỹ thì tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Mỹ gặp phải nhiều khó khăn. Để tránh gặp phải tình trạng này, đồng thời cũng là cách tốt nhất để bảo vệ ngời sản xuất cá của Việt Nam, chúng ta phải làm sao xây dựng đợc một thơng hiệu có giá trị cho các sản phẩm của mình, và hơn thế nữa ngành thuỷ sản phải không ngừng cải tiến sản phẩm của mình về chất lợng, mẫu mã, chũng loại...Có nh thế sản phẩm thuỷ sản Việt Nam với khẳng định đợc vị trí của mình trên thị trờng Mỹ nói riêng và thị trờng thế giới nói chung. Để thị trờng xuất khẩu luôn là một thị trờng rộng lớn, hấp dẫn đối với ngời sản xuất thuỷ sản của Việt Nam. ã Ngày nay, khi trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới cao hơn thì nhu cầu của con ngời đối với sản phẩm thuỷ sản càng đợc chú trọng, do đó thị trờng sản phẩm đầu ra của thuỷsản trên thế giới không ngừng đợc mở rộng. Tuy nhiên, do đặc điểm, thị hiếu tiêu dùng của mỗi quốc gia là khác nhau vì vậy mà yêu cầu đối với từng thị trờng cũng khác nhau. Để mở rộng thị trờng xuất khẩu cho thuỷ sản thì những ngời kinh doanh không thể không chú ý tới việc nghiên cứu thị trờng, từ đó có những chiến lợc kinh doanh hợp lý, đáp ứng một cách tốt nhất, phù hợp nhất những nhu cầu ngày càng cao của thị trờng thế giới. Có nh vậy ngành thuỷ sản nói chung và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng mới có cơ hội để phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, khai thác một cách tối u những tiềm năng thuỷ sản dồi dào mà thiên nhiên đã ban tặng cho đất nớc chúng ta. III- MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG. 1- Khai thác hải sản. Ở Việt Nam nghề khai thác hải sản xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên nó lại phát triển rất chậm, chỉ đến một vài năm gần đây mới đạt đợc một thành tựu đáng kể. Trớc đây, do trình độ phát triển kinh tế còn kém, đất nớc lại bị chiến tranh tàn phá, ngời làm nghề biển không có điều kiện để tiếp cận với khoa học hiện đại vì vậy mà trong một thời gian rất dài nghề đánh bắt, khai thác hải sản phát triển rất chậm. Hiện nay, khi đất nớc đang trong thời kỳ mở cửa, điều kiện chuyển giao công nghệ đợc thuận lợi, ở
  19. Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những hạm tầu đánh bắt cá xa bờ do đó mà khối lợng hải sản khai thác đợc ngày một nhiều hơn. Đứng trớc một thực tế là do tình trạng đánh bắt ven bờ quá bừa bãi dẫn tới những vùng biển ven bờ lâm vào tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm, vì vậy mà xu hớng đánh bắt cá ngoài biển khơi là một xu hớng khách quan, tuy nhiên trình độ khai thác hải sản biển của Việt Nam còn khá lạc hậu so với thế giới, cha khai thác hết đợc nguồn tài nguyên biển dồi dào mà thiên nhiên đã u ái ban tặng cho chúng ta. Nghề khai thác thuỷ sản biển của Việt Nam còn khá thô sơ. Phơng tiện tàu công suất thấp, trang thiết bị ng cụ nghèo nàn và quy mô nhỏ, lại kiêm nhiệm tất cả các khâu: khai thác, bảo quản, dịch vụ trên một tàu. Công nghệ khai thác chủ yếu tầng mặt nớc, thời gian bám biển ngắn, trình độ hợp tác trên biển thấp. Khả năng khai thác tầng nớc sâu trên 50 m kém, trong khi rất nhiều loài hải sản quý hiếm, có giá trị kinh tế cao, khả năng xuất khẩu lớn lại chủ yếu sống ở tầng nớc sâu. Tính đến hiện nay, cả nớc ta mới chỉ có đợc 7 hạm tầu lớn khai thác xa bờ, nhng những hạm tầu này cũng không sử dụng hết công suất do trình độ chế biến, bảo quản của ta còn thấp, cá khai thác xong không đợc bảo quản tốt, thời gian trên biển dài nên khi về đến bờ một lợng cá khá lớn bị h hỏng không sử dụng đợc rất lãng phí. Tiềm năng hải sản biển của nớc ta rất dồi dào, diện tích vùng biển rộng lớn, phần nhiều cha đợc khai thác nên khối lợng hải sản có thể khai thác là đáng kể. Vấn đề hiện nay là làm sao để khai thác đợc hết tiềm năng biển dồi dào này để đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của ngời tiêu dùng trong nớc và trên thế giới. Trớc thực trạng trên, ngành thuỷ sản đã tập trung đầu t cho khai thác hải sản biển trên một số lĩnh vực sau: - Hiện đại hoá trang thiết bị lới ng cụ; bảo quản sau thu hoạch tốt, tổ chức sản xuất, khai thác theo tập đoàn. - Tổ chức đội tàu dịch vụ hậu cần, tổ chức dịch vụ thu gom sản phẩm trên biển, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch để tăng chất lợng và đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu cá ăn tơi, ngon. - Tăng cờng công tác đào tạo chuyển giao công nghệ cho ng dân. Cải tiến trang thiết bị bảo quản sau thu hoạch.Nghi ên cứu cải tiến ng cụ hiện có phù hợp với tàu hiện có để phát huy đội tầu của ng dân. - Khuyến khích các hình thức thuê mớn chuyên gia, tổ chức cho nh dân tham quan học tập kinh nghiệm của đơn vị khai thác thuỷ sản có hiệu quả trong nội bộ địa phơng và tỉnh bạn, cũng nh của nớc ngoài khi có điều kiện. - Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng u đãi đầu t và đủ vốn lu động cho các doanh nghiệp khai thác hải sản xa bờ.
  20. - Biển Việt Nam còn một số loài cá có giá trị xuất khẩu cao, đợc thị trờng thế giới a chuộng, cần đợc tổ chức khai thác tốt, đi đôi với tăng cờng hậu cần dịch vụ để đảm bảo chất lợng nh: cá Mú, cá Cam, cá Thu, cá Hồng.. 2- Chế biến và dự trữ. Theo xu hớng hiện nay, nhất là các thị trờng lớn đang hớng sang tiêu thụ các mặt hàng chế biến giá trị gia tăng và yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm ngày một khắt khe hơn. Các xí nghiệp chế biến hàng thuỷ sản đã và đang nâng cấp, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, đáp ứng yêu cầu cao của thị trờng, tăng sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Vài năm qua, có nhiều doanh nghiệp chế biến đã tích cực đầu t đổi mới công nghệ, thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Đến cuối năm 2000 đã có 61 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đợc vào danh sách xuất hàng hải sản vào EU. Hiện nay, sản lợng chế biến ngày càng lớn(7 tháng có trên 30 vạn tấn), để chủ động cho thị trờng, cần một kho lạnh hiện đại trong cả nớc. Yêu cầu vận tải tăng, vận tải đờng sắt cần có toa vận tải lạnh cho hàng thuỷ sản... Cũng chính vì công tác chế biến thuỷ sản đợc tổ chức tốt hơn vì vậy mà lợng cá đợc dự trữ để tránh yếu tố thời vụ và sự d thừa sản phẩm hàng hoá đã đợc thực hiện tốt hơn. Lấy ví dụ nh trong năm vừa qua, chúng ta đã tiến hành dự trữ một lợng lớn cá tra và cá ba sa do không xuất khẩu đợc để chuyển sang tiêu thụ tại miền Bắc và miền Trung. Công tác dự trữ tốt đã làm cho khối lợng hàng thuỷ sản cung cấp trên thị trờng ổn định và tránh lãng phí một lợng lớn sản phẩm thuỷ sản đem lại hiệu quả kinh tế cao. 3- Tiêu thụ sản phẩm. Có thể nói, thị trờng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản cả trong và ngoài nớc đều rất lớn và có nhiều khả năng mở rộng. Đối với thị trờng trong nớc việc tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản có chất lợng cao ở khu vực nông thôn đang rất cần đợc chú trọng khai thác vì phần lớn dân số Việt Nam sinh sống tại nông thôn. Hơn nữa thị trờng này cha đợc phát triển một cách thoả đáng, còn rất nhiều tiềm năng, nhất là trong điều kiện đời sống của ngời nông dân đang ngày càng đợc cải thiện nh hiện nay. Đối với thị trờng thế giới, một vài năm gần đây có một số biến động lớn làm cho khối lợng thuỷ sản tiêu thụ xuất khẩu của nớc ta giảm đi đáng kể. Nhng nhìn chung đây vẫn là một thị trờng lớn cho sản phẩm thuỷ sản của nớc ta, ngời tiêu dùng trên thế giới có những nhu cầu rất khác nhau và ngày càng tăng về chất lợng và số lợng, vấn đề đặt ra đối với chúng ta để mở rộng thị trờng này là phải làm sao tăng chất lợng, quy cách, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng quốc gia trên thế giới. Và hơn thế nữa là phải tạo cho sản phẩm của nớc ta một thơng hiệu xác định nhằm xây dựng lòng tin đối với ngời tiêu dùng. Có nh vậy mới mong mở rộng đợc thị trờng xuất khẩu cho sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đa ngành thuỷ sản Việt Nam lên ngang tầm với các quốc gia phát triển trên thế giới.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2