1
Tiểu luận
Văn hóa m thực Châu Đốc
2
I. Nguồn gốc:
Nằm phía y Nam Tổ quốc, thị xã Châu Đốc là ngã ba sông nơi đầu
ngun tiếp giáp vi dòng Mê ng rnhánh chia đôi nên ng Tiền, ng
Hậu. Cũng như nhiều tỉnh thành khác ca đồng bằng sông Cu Long, Châu
Đốc là một địa danh phn ánh knét văn hóa của xsmiệt vườn sông
nước.
Châu Đốc - vùng đất mới hơn hai tm năm tuổi là nơi cộng cư, giao
thoa hi tụ giữa nhiều nền văn hóa khác nhau của các n tộc Kinh, Hoa,
Khơme, Cm chính điều đó đã góp phần tạo ra cho xứ sở này những sắc
thái văn hóa đặc trưng độc đáo vừa mang những nét tương đồng vừa chứa
đựng những tính cách riêng phản ánh i hồn văn hóa của mỗi tộc người.
Một trong những hiện tượng văn hóa đó chính là nghề làm mắm.
Mm Châu Đốc - một loại thức ăn được chế biến từ đồng (cá nước
ngọt) tlâu đã trthành n gọi quen thuộc của nhiu người n khắp miệt
đồng bằng ngày nay hương vđậm đà của đã lan tỏa đi khắp nơi c
trong và ngoài nước.
Nghlàm mm cá đồng vốn đã klâu đời do những cư n nông
nghiệp vùng ng nước làm ra từ sdồi dào đến dư thừa của nguồn thủy sản
nước ngọt tự nhiên. Như đã nói, Cu Đốc là ngã ba ng nơi mỗi
năm (khoảng ttháng 5 đến tháng 9 âm lịch) luôn được đón tiếp nguồn phù
sa t dòng kông đổ về biến tất ccác cánh đồng, ruộng lúa nơi đây trở
thành mt biển nước mênh mông mà người n quen gọi mùa nước ni.
Một ng lớn theo dòng nước ngọt t Biển hồ (Campuchia) đổ về và
chúng sinh sôi nẩy nở ngay trong mùa nước nổi y đã góp phần làm cho
ngun thực phẩm nơi đây trở nên di dào, phong phú. Ngh đánh bắt cá
bằng vó, ci, lưới, đặt đáy... đã ra đời trong điều kiện và hoàn cảnh tnhiên
như thế. Và ngun li thủy sản to ln kia cũng chính sở để ngh làm
3
khô, m mm nơi đây ra đời và phát trin một khi lượng cá đánh bắt được
đã vượt quá nhu cầu đáp ứng cho bữa ăn gia đình hàng ngày.
Ngày nay nghmắm Nam bộ nói chung và vùng Cu Đốc i
riêng tồn tại hai cách thức chế biến khác nhau của người Khơme người
Kinh.
Mm theo cách chế biến của người Khơme thì ngi nguyên liu
chính là các li nước ngọt còn thêm một số loài động vật khác như
ếch, nhái…tất cả nguyên liệu sau khi được rửa sạch người ta đem ướp
chung với nhau trong c lu, khạp vi một lượng muối hột vừa đủ (một lớp
mui với một lớp ) sau khi ướp xong người ta mang chúng đặt i tiếp
xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời t45 - 60 ngày. Dưới tác đng trực tiếp
của ánh nắng mặt trời trong các lu, khạp tự phân huỷ thành một loại chất
sền sệt u đen m mụi vị đặc trưng đó chính là mắm. Mm của người
Khơme còn tên gọi là Mắm Bò hóc”. Mm này ngoài việc được dùng
làm món ăn độc lập nó còn được dùng như một loại gia vị để chế biến ra các
loi thức ăn khác như bún nước lèo, bún mm, với ơng vị rất đậm đà, đặc
trưng.
Khác với cách làm mm của người Khơme, người Kinh chế biến mắm
trải qua nhiều giai đoạn công phu và phức tạp hơn. Nếu người Khơme chỉ có
một loại mắm chung từ nhiu loại thì mm của người kinh được phân
theo từng loại cá khác nhau như: mắm cá lóc, trèn, chốt, linh,
sặc, cá rô, cá lòng tong…
II. Cách thức làm mắm ca người kinh:
1. Giai đoạn muối cá: tươi được phân loại và làm sạch bằng ch mổ
bụng bỏ hết ruột (đối với các loại vảy như: cá lóc, sặc, rô…phải
đánh bsạch vảy cá). Sau đó người ta đem ướp chúng với muối hột đựng
trong các lu, khạp. mui sau khoảng 30 ngày thì dy mùi ươn, c này
thời điểm tới thính.
4
Đối với người Khơme thì vào giai đoạn này hcho mở nắp các lu,
khạp chứa muối ra, dùng đũa khuấy chúng lên ri tiếp tục pi cho
tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mt trời đến khi chín thành mm và có th
dùng được. Còn ch làm của người Kinh khác n, sau khi tới thính
hvớt tất cả ra rồi đem rửa sạch lại với ớc ngọt để tiến hành ng đon
tiếp theo là thính cá.
Giai Đoạn Muối Cá
thnói thính cá là giai đoạn công phu và quan trng nhất ca nghề
làm mắm. được xem là một sáng tạo đặc biệt của người Kinh trong nghề
làm mm và yếu tố cơ bản để phân biệt mắm của mỗi dân tộc.
2. Giai đoạn thính : muối được rửa sạch và đcho thật ráo nước
sau đó người ta đem tẩm ướp chúng với mt loại bột màu vàng, có mùi thơm
đặc trưng được chế biến từ gạo rang chín rồi xay nhuyễn ra người ta gọi
đó thính”. Sau khi đã ăn thính người ta tiến hành xếp từng lp cá đó
vào các lu, khạp rồi dùng một miếng mê r hay manh đệm bàng tri phủ vừa
đủ bề mặt lu, khạp sau đó dùng các thanh tre cài chéo li với nhau để giữ
cho tm manh đệm không bị h khỏi lớp và miệng lu, khạp. Sau khi gài
mm xong người ta đổ lên trên tm manh đệm y một lp nước mắm cốt
(nước mm được nấu bằng cá đồng).
5
Giai Đoạn Thính Cá
Kthuật gài mm tuy đơn gỉan nhưng đòi hi người làm phải tay
nghề” và kinh nghim để thực hiện được ba yêu cầu cơ bản sau:
- Thnhất: các lớp cá phải được xếp sao cho kng chặt quá mà cũng
không lơi qđể nước mm thể thấm qua ướt vừa đcác lớp trong
lu, khạp chứa chúng.
- Th hai: tấm manh đệm phi được cài vừa chặt với miệng lu, khạp để
không bbung ra đồng thời phải vừa chặt với lớp trên cùng đảm bảo thực
hiện được chức năng không cho nước mm chảy một cách ạt xuống các
lớp cá phía n dưới mà phải chy rò rtừ từ để các lớp bên trong thm
vừa đnước mm và đáy lu không đọng nhiu c mm. Nvy con
mm sau này skhông mặn hoặc mm nhũng ra đồng thời thịt cá thấm đủ
nước sẽ làm cho con mmmàu đỏ tươi trông rất hấp dẫn và ngon.
- Thứ ba: lượng nước mm phải luôn được giữ ngập đầy trên miệng lu,
khạp tnh để cho nước bị kcạn, vì khi nước khô đi mùi ươn bốc ra sẽ
tạo điều kiện cho ruồi bay đến đậu và sinh ra một loại tửa màu trắng, các
loi tửa này snhanh chóng tạo thành nhng con vòi ngay sau đó trên khắp
ming của lu, khạp.
Mm được gài kđúng cách thì sau khong 60 90 ngày lớp
nước mắm phía trên ming lu, khạp sẽ chuyển sang màu đỏ và rất trong. Đây
là tín hiu giúp chúng ta biết mắm đã th dùng được.
3. Giai đoạn chao (trộn) mắm: chao mắm ng đoạn cuối cùng đ
hoàn tất quy trình m mm. Mắm tới thời điểm có thể dùng được người ta