
TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ - SỐ 93/2025
30
DOI: 10.58490/ctump.2025i93.4317
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ SỰ TUÂN THỦ
CỦA BỆNH NHÂN TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ TRI TÔN, TỈNH AN GIANG NĂM 2025
Nguyễn Văn An1*, Nguyễn Thị Thùy Trang1, Đỗ Trí Ngoan1, Nguyễn Minh Thức2
1. Trường Đại học Nam Cần Thơ
2. Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang
*Email: nguyenvanan167176@gmail.com
Ngày nhận bài: 29/10/2025
Ngày phản biện: 20/11/2025
Ngày duyệt đăng: 25/11/2025
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tăng huyết áp là bệnh lý không lây nhiễm phổ biến, gây gánh nặng bệnh tật
trên toàn cầu. Dù tuân thủ điều trị thuốc là nền tảng để kiểm soát huyết áp, nhưng thực tế có đến
52% bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị, dẫn đến chỉ 18-23% bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát huyết
áp. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và đánh giá sự tuân thủ điều trị tăng
huyết áp tại Trung tâm Y tế Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu: Nghiên cứu cắt ngang, thu thập số liệu tiến cứu, được thực hiện trên 296 bệnh nhân tăng huyết
áp đang điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Trung tâm Y tế Tri Tôn, tỉnh An Giang. Dữ liệu
được thu thập từ bệnh án điện tử và phỏng vấn trực tiếp bằng thang điểm Morisky 8 câu phiên bản
nhị phân (Có/Không), điểm cắt ≥ 6 được quy ước là tuân thủ. Kết quả: Tuổi trung bình là 60,6 ±
12,4; nữ giới chiếm 55,7%. Bệnh đồng mắc phổ biến nhất là rối loạn lipid máu (63,2%), trào ngược
dạ dày - thực quản (46,3%) và đái tháo đường (41,9%). Về sử dụng thuốc, nhóm chẹn thụ thể chiếm
ưu thế (71,3%), tiếp theo là chẹn kênh canxi (36,8%) và chẹn beta (27,0%). Phác đồ đơn trị liệu
chiếm tỉ lệ cao (57,4%), trong khi phối hợp 2 thuốc và 3 thuốc lần lượt là 39,2% và 3,4%. Tỉ lệ tuân
thủ điều trị đạt 82,4%, rào cản chính là quên liều (24,0%) và khó khăn ghi nhớ (18,9%). Chưa ghi
nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ tuân thủ giữa nhóm đơn trị và phối hợp thuốc. Kết
luận: Tỉ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Tri Tôn đạt mức cao.
Từ khóa: Tăng huyết áp, Tuân thủ điều trị, Sử dụng thuốc.
ABSTRACT
MEDICATION UTILIZATION AND ADHERENCE
AMONG PATIENTS UNDER HYPERTENSION TREATMENT
AT TRI TON MEDICAL CENTER, AN GIANG PROVINCE IN 2025
Nguyen Van An1*, Nguyen Thi Thuy Trang1, Do Tri Ngoan1 , Nguyen Minh Thuc2
1. Nam Can Tho University
2. Kien Giang Medical College
Background: Hypertension is a prevalent non-communicable disease posing a significant
global disease burden. Although medication adherence is the cornerstone of blood pressure control,
in reality, up to 52% of patients are non-adherent, resulting in target blood pressure control rates of
only 18-23%. Objectives: To survey the situation of medication utilization and evaluate treatment
adherence for hypertension at Tri Ton Medical Center, An Giang Province in 2025. Materials and
methods: A cross-sectional study with prospective data collection was conducted on 296 hypertensive
outpatients at the Examination Department of Tri Ton Medical Center, An Giang province. Data were
collected from electronic medical records and direct interviews using the 8-item Morisky Medication
Adherence Scale (MMAS-8) binary version (Yes/No), with a cut-off score of ≥ 6 defined as adherence.

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ - SỐ 93/2025
31
Results: The mean age was 60.6 ± 12.4 years; females accounted for 55.7%. The most common
comorbidities are dyslipidemia (63.2%), gastroesophageal reflux disease (46.3%), and diabetes
mellitus (41.9%). Regarding medication use, angiotensin receptor blockers predominated (71.3%),
followed by calcium channel blockers (36.8%) and beta-blockers (27.0%). Monotherapy regimens
accounted for a high proportion (57.4%), while two-drug and three-drug combinations were 39.2%
and 3.4%, respectively. The treatment adherence rate reached 82.4%, with the main barriers being
forgetting doses (24.0%) and difficulty remembering (18.9%). No statistically significant difference in
adherence levels was recorded between the monotherapy and combination therapy groups.
Conclusion: The rate of hypertension treatment adherence at Tri Ton reached a high level.
Keywords: Hypertension, Treatment Adherence, Medication utilization.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh lý không lây nhiễm phổ biến nhất
và là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn cầu. Phân tích gộp
dữ liệu trên 104 triệu người trưởng thành tại 200 quốc gia cho thấy năm 2019 có khoảng
1,28 tỉ người với độ tuổi từ 30-79 mắc THA, tỉ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu chỉ 18-
23% [1]. THA không được kiểm soát gây gánh nặng lớn về kinh tế và góp phần vào sự khởi
phát các biến chứng như đột quỵ, bệnh tim mạch và tử vong sớm.
Kiểm soát huyết áp là mục tiêu sống còn trong điều trị tăng huyết áp, song một trong
những rào cản của việc đạt huyết áp mục tiêu chính là sự thiếu tuân thủ điều trị, đáng chú
ý, một phân tích gộp đã chỉ ra tỉ lệ không tuân thủ này lên tới 52% [2]. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới, tuân thủ điều trị được định nghĩa là mức độ hành vi của người bệnh khớp với các
khuyến cáo từ nhân viên y tế, sự tuân thủ này không chỉ phụ thuộc vào cá nhân mà còn chịu
tác động đa chiều bởi yếu tố kinh tế - xã hội, hệ thống y tế, đặc điểm liệu pháp, tình trạng
bệnh lý và các yếu tố liên quan trực tiếp đến bệnh nhân [3]. Một trong những phương pháp
để đánh giá tuân thủ điều trị được sử dụng phổ biến là thang điểm Morisky (MMAS-8), đây
là một công cụ tự báo cáo đơn giản và có giá trị để đo lường hành vi dùng thuốc của bệnh
nhân tại các quốc gia có nguồn lực nghiên cứu hạn chế như Việt Nam [4]. Các nghiên cứu
về tình hình sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị THA hiện nay còn hạn chế đối với tuyến y
tế cơ sở như Trung tâm Y tế Tri Tôn. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá
thực trạng về tình hình sử dụng thuốc và sự tuân thủ điều trị THA tại Trung tâm Y tế Tri
Tôn, tỉnh An Giang, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp với đặc thù địa phương.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Trung tâm Y
tế Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán THA theo
mã ICD-10 (I10) và được chỉ định ít nhất 1 thuốc hạ áp, có thể trả lời phỏng vấn và đồng ý
tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Phụ nữ có thai, THA thứ phát, đang mắc các bệnh lý cấp tính.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, thu thập số liệu tiến cứu.
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa Khám bệnh - Trung tâm Y tế Tri Tôn,
tỉnh An Giang, từ ngày 01/03/2025 cho đến khi đủ cỡ mẫu (ngày 16/09/2025).
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Sử dụng công thức ước lượng một tỉ lệ:

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ - SỐ 93/2025
32
𝑛 =
𝑍1−𝛼
2
2⋅ 𝑝 ⋅ (1 − 𝑝)
𝑑2
Với Z1-α/2 = 1,96, d = 0,05, p = 0,74 tương ứng với tỉ lệ tuân thủ điều trị 73,8% theo
nghiên cứu của Nguyễn Thị Tố Uyên [5], thay vào công thức ta tính được n = 296.
Chọn mẫu thuận tiện: Tất cả các bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu và không
thuộc tiêu chuẩn loại trừ khi đến khám bệnh định kỳ tại Trung tâm Y tế Tri Tôn trong thời
gian nghiên cứu sẽ được mời tham gia vào nghiên cứu. Quá trình thu thập mẫu được tiến
hành liên tục cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu là 296 bệnh nhân.
- Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
+ Trích xuất từ bệnh án điện tử dữ liệu tuổi, giới tính, lâm sàng, chẩn đoán và điều trị.
+ Phỏng vấn trực tiếp khi bệnh nhân đến khám bằng thang điểm Morisky 8 câu hỏi
[6]. Nhằm tối ưu hoá tính phù hợp với đặc điểm dân số địa phương, bản dịch tiếng Việt
được sử dụng trong nghiên cứu dựa trên tham khảo các nghiên cứu tương tự tại Việt Nam
[7], [8], quy trình dịch thích nghi văn hóa [4], dưới sự thẩm định của hội đồng chuyên môn
tại cơ sở. Cấu trúc câu số 8 được điều chỉnh sang định dạng nhị phân (Có/Không) nhằm
đồng nhất hóa toàn bộ thang đo và tối ưu hóa khả năng phản hồi của bệnh nhân. Bộ câu hỏi
đã được đánh giá lại độ tin cậy nội tại trên mẫu nghiên cứu thực tế (n=296). Kết quả, bộ câu
hỏi có độ tin cậy nội tại tốt với hệ số Cronbach’s alpha tổng thể là 0,795 (95% CI: 0,762 -
0,828). Tất cả các biến số đều thể hiện tính nhất quán cao với chỉ số alpha nếu loại bỏ biến
dao động trong khoảng 0,740 - 0,801.
+ Cách tính điểm: Tính 1 điểm cho mỗi câu trả lời "Không" (ở câu 1, 2, 3, 4, 6, 7 và
8) và câu trả lời "Có" (ở câu 5).
- Nội dung nghiên cứu
+ Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Chỉ số nhân khẩu học (tuổi trung bình,
giới tính), lâm sàng (số lượng bệnh đồng mắc, các loại bệnh đồng mắc phổ biến).
+ Tình hình sử thuốc điều trị THA: Đặc điểm phác đồ điều trị (đơn trị, phối hợp 2
thuốc, phối hợp 3 thuốc), tỉ lệ các nhóm thuốc được sử dụng.
+ Tình hình tuân thủ điều trị thuốc: Kết quả phỏng vấn và tỉ lệ bệnh nhân tuân thủ
điều trị qua thang điểm MMAS-8, xếp loại tuân thủ nếu đạt từ 6-8 điểm (bao gồm mức tuân
thủ trung bình và cao) và không tuân thủ nếu dưới 6 điểm (tuân thủ kém) [6].
- Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft
Excel 2019 và R phiên bản 4.4.2. Biến định tính được thống kê tần số (tỉ lệ %), biến định
lượng được mô tả bằng trung bình (độ lệch chuẩn) đối với biến phân phối chuẩn hoặc trung
vị (Q1-Q3) với biến có phân phối không chuẩn. Mô hình hồi quy Logistic đơn biến được sử
dụng để xác định mối liên quan giữa phác đồ điều trị và sự tuân thủ qua tỉ số số chênh (OR)
và khoảng tin cậy 95%. Mức ý nghĩa thống kê được quy ước với α = 0,05. Kết quả được
xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05.
- Đạo đức trong nghiên cứu: Nghiên cứu được chấp thuận và thông qua bởi Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học cấp cơ sở trường Đại học Nam Cần Thơ (số:
01YSH/PCT-HĐĐĐ ngày 11 tháng 04 năm 2025).

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ - SỐ 93/2025
33
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu gồm 296 bệnh nhân.
3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của mẫu
Đặc điểm
Kết quả (n=296)
Tuổi
TB (ĐLC)
60,6 (12,4)
Giới tính:
- Nam
- Nữ
n (%)
131 (44,3)
165 (55,7)
Bệnh đồng mắc
thường gặp nhất
- Rối loạn lipid máu
- Trào ngược dạ dày - thực quản
- Đái tháo đường
- Bệnh mạch vành
- Viêm khớp
n (%)
187 (63,2)
137 (46,3)
124 (41,9)
79 (26,7)
38 (12,8)
Nhận xét: Tuổi trung bình của mẫu là 60,6 ± 12,4. Nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn nam
giới (55,7% so với 44,3%). Bệnh đồng mắc thường gặp nhất là rối loạn lipid máu (63,2%),
trào ngược dạ dày - thực quản (46,3%) và đái tháo đường (41,9%).
3.2. Tình hình sử dụng thuốc
Bảng 2. Phác đồ sử dụng thuốc
Phác đồ
Tần suất (n=296)
Phần trăm (%)
Đơn trị
170
57,4
Phối hợp 02 thuốc
116
39,2
Phối hợp 03 thuốc
10
3,4
Nhận xét: Phác đồ đơn trị được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 57,4%. Phối hợp hai
loại thuốc được ghi nhận ở 39,2%, chỉ 3,4% bệnh nhân được phối hợp ba thuốc.
Bảng 3. Nhóm thuốc được sử dụng
Nhóm thuốc
Tần suất (n=296)
Phần trăm (%)
Chẹn thụ thể angiotensin II
211
71,3
Chẹn kênh canxi
109
36,8
Chẹn thụ thể beta-adrenergic
80
27,0
Ức chế men chuyển angiotensin
20
6,8
Lợi tiểu
12
4,1
Nhận xét: Nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin II được dùng nhiều nhất (71,3%),
tiếp đến là chẹn kênh canxi (36,8%) và chẹn beta-adrenergic (27,0%). Các nhóm thuốc ức
chế men chuyển angiotensin (6,8%) và lợi tiểu (4,1%) được sử dụng với tỉ lệ thấp hơn.
3.3. Tình hình tuân thủ điều trị thuốc
Bảng 4. Kết quả phỏng vấn qua thang điểm Morisky
Câu hỏi
Có
n (%)
Không
n (%)
1. Thỉnh thoảng ông/bà có quên dùng thuốc không?
71 (24,0)
225 (76,0)
2. Hai tuần gần đây, có khi nào ông/bà không dùng thuốc không?
42 (14,2)
254 (85,8)
3. Có bao giờ ông/bà giảm hoặc ngưng dùng thuốc mà không báo cho
bác sĩ vì ông/bà cảm thấy tệ hơn khi dùng thuốc không?
21 (7,1)
275 (92,9)

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ - SỐ 93/2025
34
Câu hỏi
Có
n (%)
Không
n (%)
4. Khi đi du lịch hoặc đi xa nhà, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang
theo thuốc không?
15 (5,1)
281 (94,9)
5. Ngày hôm qua, ông/bà có dùng đủ các thuốc trong ngày không?
248 (83,8)
48 (16,2)
6. Khi ông/bà cảm thấy triệu chứng được kiểm soát, thỉnh thoảng
ông/bà có ngưng thuốc không?
25 (8,4)
271 (91,6)
7. Ông/bà có cảm thấy phiền khi phải tuân thủ chế độ điều trị?
31 (10,5)
265 (89,5)
8. Ông/bà có thường gặp khó khăn khi nhớ uống tất cả loại thuốc không?
56 (18,9)
240 (81,1)
Nhận xét: Kết quả phỏng vấn cho thấy rào cản chính đối với tuân thủ điều trị là quên
liều (24,0%) và khó khăn khi tổ chức dùng thuốc (18,9%), trong khi việc tự ý ngưng thuốc
có chủ đích chiếm tỉ lệ rất thấp (dưới 9%).
Bảng 5. Sự tuân thủ điều trị thuốc
Tình trạng
Tần suất (n=296)
Phần trăm (%)
Tuân thủ
244
82,4
Chưa tuân thủ
52
17,6
Nhận xét: Trong tổng số 296 bệnh nhân, có 244 trường hợp (82,4%) tuân thủ điều
trị thuốc, trong khi 52 bệnh nhân (17,6%) chưa tuân thủ.
Bảng 6. Mối liên quan giữa sự tuân thủ và phác đồ điều trị THA
Phác đồ điều trị
Tuân thủ
n (%)
Chưa tuân thủ
n (%)
OR
(95% CI)
P*
Đơn trị
138 (81,2)
32 (18,8)
1
Tham chiếu
Phối hợp 2 thuốc
97 (83,6)
19 (16,4)
0,84 (0,45-1,58)
0,596
Phối hợp từ 3 thuốc
9 (90,0)
1 (10,0)
0,48 (0,06-3,92)
0,493
*Phép kiểm định: Likelihood Ratio Chi-square test
Nhận xét: Kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị duy trì ở mức cao ở cả ba
nhóm, phép kiểm định Likelihood Ratio Chi-square cho thấy không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về mức độ tuân thủ giữa nhóm đơn trị và các nhóm phối hợp thuốc.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu tại Tri Tôn đại diện cho quần thể cao tuổi (tuổi trung bình 60,6
tuổi), bệnh đồng mắc thường gặp nhất là rối loạn lipid máu (63,2%), trào ngược dạ dày -
thực quản (46,3%) và đái tháo đường (41,9%). Kết quả này tương tự với nghiên cứu của
Đoàn Thị Phương Thảo (2023) ghi nhận đái tháo đường chiếm 47,62% [8]. Sự kết hợp của
THA, đái tháo đường, rối loạn lipid máu tạo thành "bộ ba nguy cơ" điển hình trong hội
chứng chuyển hóa, làm tăng đáng kể sự phức tạp của việc quản lý và chi phí điều trị.
4.2. Tình hình sử dụng thuốc
Mô hình kê đơn thể hiện sự chiếm ưu thế rõ rệt của nhóm chẹn thụ thể angiotensin II
(71,3%) và tỉ lệ sử dụng ức chế men chuyển angiotensin thấp (6,8%), mô hình này khác biệt
đáng kể so với kết quả của tác giả Đinh Thị Thúy Hà và Trần Phúc (2023) cho thấy nhóm
chẹn kênh canxi (69,3%) và chẹn beta (66,7%) chiếm ưu thế hơn [9]. Sự khác biệt này có
thể liên quan đến mô hình kê đơn và danh mục thuốc tại từng tuyến điều trị.

