
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN VIẾT NHI
TỔ CHỨC DỰ ÁN STEAM NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO KHOA HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 9.14.01.01
TÓM TẮT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2026

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Bùi Thị Lâm
2. TS. Nguyễn Tuấn Vĩnh
Phản biện 1: GS. TS. Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Văn Hạnh
Đại học Bách khoa Hà Nội
Phản biện 3: PGS. TS. Nguyễn Hoài Nam
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
vào hồi …..giờ … ngày … tháng… năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh giáo dục toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ hướng tới các năng lực của
thế kỉ 21, sáng tạo không còn được xem là một năng khiếu nghệ thuật thuần túy mà là một
năng lực cốt lõi để thích ứng và giải quyết vấn đề. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD) nhấn mạnh rằng giáo dục cần trang bị cho người học khả năng kiến tạo giá trị mới.
Trong đó, sáng tạo khoa học (STKH) là một lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi sự kết hợp biện chứng
giữa tính mới lạ (tư duy phân kỳ) và tính hữu ích thực tiễn dựa trên các quy luật khách quan
(tư duy hội tụ).
Tại Việt Nam, Chương trình Giáo dục mầm non (GDMN) hiện hành đã có những bước
tiến đáng kể trong việc khuyến khích trẻ tích cực hoạt động. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy
vẫn tồn tại một mâu thuẫn lớn: chúng ta khuyến khích trẻ “hoạt động” (hands-on) nhưng chưa
thực sự kích hoạt tối đa “tư duy” (minds-on). Các hoạt động khám phá khoa học thường dừng
lại ở mức độ quan sát, gọi tên và giải thích (“Tại sao?”), trong khi để phát triển khả năng sáng
tạo thực sự, trẻ cần được thử thách với câu hỏi “Làm thế nào?” để kiến tạo giải pháp.
Giai đoạn 5-6 tuổi được các nhà tâm lí học phát triển xác định là “thời kì vàng” cho sự
chuyển pha từ tư duy trực quan sang tư duy trừu tượng sơ khởi. Dự án (DA) STEAM, với bản
chất tích hợp liên ngành và định hướng giải quyết vấn đề thực tiễn, được xác định là giải pháp
sư phạm tiềm năng để giải quyết mâu thuẫn trên, giúp chuyển dịch giáo dục từ mô hình “tái
lập” sang mô hình “kiến tạo”. Tuy nhiên, việc thiếu hụt các công cụ đo lường chuẩn hóa và một
quy trình tổ chức chuyên biệt cho lứa tuổi này đang là những rào cản lớn. Xuất phát từ những
lí do đó, đề tài được lựa chọn nghiên cứu nhằm lấp đầy khoảng trống này.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án xây dựng mô hình lí thuyết về phát triển KNSTKH của trẻ 5–6 tuổi thông qua
việc kích hoạt các cơ chế trung gian trong tổ chức DA STEAM, nhận diện các rào cản trong
thực tế triển khai ở trường MN; từ đó, đề xuất và kiểm chứng quy trình tổ chức DA STEAM
dựa trên kích hoạt cơ chế trung gian nhằm phát triển KNSTKH cho trẻ 5–6 tuổi, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở trường MN.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 04 nhiệm vụ trọng tâm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lí luận về
KNSTKH và tổ chức DA STEAM; (2) Phát triển và chuẩn hóa công cụ đo lường KNSTKH
(SCT-P); (3) Khảo sát, đánh giá thực trạng và nhận diện các rào cản sư phạm; (4) Xây dựng,
thực nghiệm và khẳng định hiệu quả của quy trình tổ chức DA STEAM.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể: Quá trình tổ chức hoạt động giáo dục STEAM nhằm phát triển KNSTKH
cho trẻ 5-6 tuổi.
Đối tượng: Quy trình tổ chức DA STEAM nhằm phát triển KNSTKH của trẻ 5-6 tuổi
ở trường mầm non.

2
5. Giả thuyết khoa học
KNSTKH ở trẻ 5-6 tuổi tại Việt Nam hiện đang ở mức độ tiềm năng với sự phát triển
không đồng đều giữa các thành tố. Thực hành giáo dục hiện tại chưa tạo đủ điều kiện tối ưu
để nuôi dưỡng các thành tố bậc cao của khả năng này. Nếu xây dựng và tổ chức được các DA
STEAM theo quy trình sư phạm chú trọng vào chu trình tìm tòi - khám phá khoa học và thiết
kế - giải quyết vấn đề kĩ thuật trong bối cảnh thực tiễn, sẽ tác động tích cực đến sự phát triển
toàn diện các thành tố của KNSTKH (lưu loát, linh hoạt, độc đáo) của trẻ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu giới hạn nội dung KNSTKH theo khung lí thuyết cấu trúc của Hu & Adey
(2002) và tiếp cận DA STEAM dựa trên mô hình Tiếp cận DA của Lilian Katz. Khảo sát và
thực nghiệm được tiến hành tại các trường mầm non công lập trên địa bàn tỉnh Thành phố Huế,
đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực thành thị và nông thôn.
7. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng
khung lí thuyết và khung khái niệm.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Trắc nghiệm tâm lí (sử dụng bộ công cụ
SCT-P đã thích ứng), Điều tra bằng bảng hỏi, Quan sát sư phạm, Phỏng vấn sâu và
Thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm Jamovi để xử lí dữ liệu với các
phép kiểm định hiện đại (EFA, CFA, ANCOVA robust) nhằm đảm bảo độ tin cậy và
giá trị khoa học của các kết luận.
8. Những luận điểm khoa học cần bảo vệ
1. KNSTKH của trẻ 5–6 tuổi phát triển tối ưu khi được đặt trong một quá trình học tập
có chủ đích, nơi GV tạo điều kiện (an toàn tâm lí, khơi gợi tò mò, giàn giáo vừa đủ,
điểm dừng phản tư, tương tác) trong DA STEAM để kích hoạt cơ chế trung gian của
quá trình STKH ở trẻ.
2. KNSTKH của trẻ 5–6 tuổi là một cấu trúc thống nhất, biểu hiện qua các đặc tính lưu
loát - linh hoạt - độc đáo và các thành tố cụ thể, có thể được đo lường khách quan, tin
cậy bằng bộ công cụ SCT-P (phiên bản thích ứng) trong bối cảnh nghiên cứu.
3. Quy trình DA STEAM 3 giai đoạn (khởi xướng – triển khai – tổng kết/chuyển tiếp) do
luận án đề xuất là một mô hình can thiệp sư phạm ưu tiên phát triển KNSTKH thông
qua cung cấp cơ hội để trẻ trải nghiệm các chu trình tìm tòi khoa học, thiết kế kĩ thuật
và biểu đạt qua nghệ thuật (kèm công cụ hỗ trợ/đánh giá quá trình), nhấn mạnh quá
trình kiến tạo hơn là sản phẩm cuối cùng.
4. Thực nghiệm sư phạm chứng minh quy trình tổ chức DA STEAM được luận án xây dựng
tạo tác động tích cực có ý nghĩa thống kê lên KNSTKH tổng thể và các thành tố so với

3
giáo dục thông lệ; dữ liệu quá trình giúp làm rõ cơ chế tác động gắn với chất lượng triển
khai các thực hành sư phạm và điều kiện học tập đặc trưng của dự án STEAM.
9. Những đóng góp mới của luận án
1. Xây dựng cơ sở lí luận của tổ chức DA STEAM nhằm phát triển KNSTKH, đồng thời
lí giải cơ chế tác động của DA STEAM lên KNSTKH ở trẻ 5-6 tuổi.
2. Thích ứng có điều chỉnh và kiểm nghiệm bước đầu độ tin cậy, độ hiệu lực của SCT-P
– bộ công cụ đo lường KNSTKH của trẻ 5-6 tuổi vào bối cảnh Việt Nam; mở đường
cho các nghiên cứu đo lường KNSTKH trong tương lai.
3. Khám phá và nhận diện thực trạng KNSTKH của trẻ 5-6 tuổi và thực trạng tổ chức
hoạt động giáo dục nhằm phát triển KNSTKH cho trẻ.
4. Đề xuất quy trình tổ chức DA STEAM và cung cấp bằng chứng TN ban đầu về tính
hiệu quả và khả thi của quy trình thông qua TN sư phạm.

