intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ: Vica999 Vica999 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

14
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của luận văn là đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bình đằng giới. Trên cơ sở đó, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi. Đưa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/…… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LÊ ANH NHƯ Ý THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI – TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8 38 01 02 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HUỲNH VĂN THỚI Phản biện 1: .................................................................... Phản biện 2: ................................................................... Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng ....., Giảng đường B, Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Huế. Số 201 đường Phan Bội Châu, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Thời gian: Vào hồi ... giờ...phút....ngày .. tháng năm 2018 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính quốc gia hoặc tại trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính quốc gia
  3. MỞ ĐẦU 1. Cơ sở lựa chọn đề tài Hiện nay, phụ nữ ngày càng thể hiện, khẳng định rõ được vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam được coi là một chế định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định trong hệ thống pháp luật, là cơ sở để thể chế hóa các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ta đã và đang có những chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới từ yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội đồng thời là chủ trương, đường lối củ Đảng, Nhà nước, nhu cầu của phụ nữ, của nhân dân và của xã hội hiện nay. Hoạt động bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước. Đây là chủ trương của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế, xã hội. Việc ngày càng phát triển của đất nước đặt ra yêu cầu to lớn phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của xã hội, mặt khác tạo điều kiện cho phụ nữ được bình đẳng phát triển, cống hiến nhằm thực hiên đầy đủ quyền con người, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế. Hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ra đời là một nhu cầu tất yếu khách quan của Nhà nước ta. Đây là quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế. Do chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao nên người phụ nữ ngày càng nhận thức được vai trò của mình trong xã hội, đòi hỏi quyền lợi của mình cao hơn về quyền lợi cũng như việc tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội một cách bình đẳng và ngang bằng với nam giới. Vấn đề pháp luật về bình đẳng giới được điều chỉnh trong Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29 tháng 11 năm 2006 đồng thời đươc quy định trong các văn bản chuyên ngành có liên quan và những văn bản hướng dẫn có giá trị pháp lý thấp hơn. Hệ thống pháp 1
  4. luật này đã đạt được nhiều hiệu quả trong việc duy trì sự bình đẳng về mọi mặt của nam và nữ, bảo vệ quyền lợi của mọi công dân trên tinh thần Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện hoạt động bình đẳng giới có những vấn đề cần được quan tâm và giải quyết, tại một số địa phương vẫn có những tình trang bất bình đẳng, không coi trọng người phụ nữ do những định kiến xã hội, những quan niệm trọng nam khinh nữ. Đây là một trong những thực tế cần được quan tâm và chấn chỉnh nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ được thực hiện những quyền và nghĩa vụ như nam giới, cùng tạo môi trường quốc tế chuyên nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới đồng thời thấy được những thực tiễn áp dụng của nó vào đời sống kinh tế, xã hội là một vấn đề bức thiết và có hiệu quả trong việc tạo môi trường cho người phụ nữ được thực hiện vai trò của mình trong xã hội. Từ các quy định của pháp luật, việc thực hiện bình đẳng giới của một số địa phương cũng khác nhau do điều kiện địa lý, phong tục tập quán và những vấn đề liên quan đến nhận thức, phat triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, để pháp luật bình đẳng giới đi vào thực tiễn của địa phương được hiệu quả cần phải có những chính sách, chiến lược phù hợp đang là yêu cầu cấp thiết. Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, đây là điều kiện để rà soát lại các quy định của pháp luật về bình đẳng giới để chỉ ra những điểm vướng mắc trong pháp luật và trong quá trình thực hiện để tìm ra giải pháp hoàn thiện. 2. Tình hình nghiên cứu Với tình hình hiện nay, khi mà vấn đề bình đẳng giới là xu thế tất yếu, đang ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm của cộng đồng thế giới nói chung và người dân Việt Nam nói riêng thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bình đẳng giới cũng ngày càng trở nên bức thiết hơn. Việc nghiên cứu vấn đề trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về pháp luật hiện hành của nước ta. 2
  5. - GS Lê Thi (1998) “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi men ở Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, là một trong những công trình nghiên cứu chỉ rõ thực trạng đời sống lao động nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước và những vấn đề cần quan tâm giải quyết. - GS Lê Thi (1999): “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, “ Việc làm, đời song phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã làm rõ sự cần thiết phải tạo các điều kiện, cơ hội đề người phụ nữ nông thôn được vươn lên, phát huy vai trò của mình trong công cuộc đổi mới hiện nay. - Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai tr của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đề tài này chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định lớn trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ được khẳng định hơn đối với các vấn đề này. - TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao động nữ. - Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công trình nghiên cứu này đã phân tích về sự biến đổi gia đình ngày nay, cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di cư, sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa 3
  6. các thế hệ, phân công lao động trong gia đình, số con và khoảng cách sinh con.. - PGS,TS Phan Thanh Khôi, PGS,TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007) “Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích về vấn đề giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các xã hội có tình trạng đối kháng giai cấp, áp bức, bất công. Các tác giả còn đi sâu phân tích quan điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước... - GS,TS Trịnh Quốc Tuấn, PGS, TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2008) Khoa học giới những vẩn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Công trình nghiên cứu này ngoài việc nêu bật quan điểm về giới và bình đẳng giới của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh còn đề cập đến vấn đề giới trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý, văn hóa, giáo dục đào tạo, giới trong chiến lược giảm nghèo, trong gia đình và chiến lược dân số, giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động. -Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong luật tổ chức Chính phủ được quan tâm qua bài viêt của hai tác giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Kỳ trong bài “Báo cáo kết quả nghiên cứu về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật Tổ chức Chính phủ”; tác giả Nguyễn Thị Hoàng Giang đã có bài nghiên cứu năm 2014 về vấn đề “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân - gia đình Việt Nam”1, trong nghiên cứu của mình tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bình đẳng giới theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời có những giải pháp nhằm thực thi pháp luật về hôn nhân gia đình nhằm cải thiện tình hình bất bình đẳng giới trong nước hiện nay. Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lĩnh 1 Nguyễn Thị Hoàng Giang (2014), Bình đẳng giới trong pháp luật Hôn nhân gia đình Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ ngành Pháp luật về quyền con người. 4
  7. vực xã hội khác nhau, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường đã có bài nghiên cứu trong lĩnh vực tuyển dụng người lao động cụ thể với đề tài nghiên cứu “Bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in”, bài viết đã có những nghiên cứu số liệu thực tiễn về việc có phân biệt hay không phân biệt giữa nam và nữ trong quá trình tuyển dụng lao động. Ngoài ra, việc nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới tại một địa bàn cụ thể được quan tâm và nghiên cứu, cụ thể tác giả Lê Thị Thu Hường có bài nghiên cứu về “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thưc tiễn thành phố Đà Nẵng”2. Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí bàn về việc thực hiện bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong luật tổ chức Chính phủ được quan tâm qua bài viêt của hai tác giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Kỳ trong bài “Báo cáo kết quả nghiên cứu về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật Tổ chức Chính phủ”; tác giả Nguyễn Thị Hoàng Giang đã có bài nghiên cứu năm 2014 về vấn đề “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân -gia đình Việt Nam”3, trong nghiên cứu của mình tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bình đẳng giới theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời có những giải pháp nhằm thực thi pháp luật về hôn nhân gia đình nhằm cải thiện tình hình bất bình đẳng giới trong nước hiện nay. Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực xã hội khác nhau, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường đã có bài nghiên cứu trong lĩnh vực tuyển dụng người lao động cụ thể với đề tài nghiên cứu “Bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in”, bài viết đã có những nghiên cứu số liệu 2 Lê Thị Thu Hường (2016), Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Khoa học Xã hôi thuộc Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam. 3 Nguyễn Thị Hoàng Giang (2014), Bình đẳng giới trong pháp luật Hôn nhân gia đình Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ ngành Pháp luật về quyền con người. 5
  8. thực tiễn về việc có phân biệt hay không phân biệt giữa nam và nữ trong quá trình tuyển dụng lao động. Ngoài ra, việc nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới tại một địa bàn cụ thể được quan tâm và nghiên cứu, cụ thể tác giả Lê Thị Thu Hường có bài nghiên cứu về “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thưc tiễn thành phố Đà Nẵng”4. Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí bàn về việc thực hiện bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trên bình diện khoa học, pháp luật về bình đẳng giới có rất nhiều bài viết, “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là đề tài từ những quy đinh cụ thể của pháp luật áp dụng vào thực tiễn thi hành tại địa phương Quảng Ngãi. Nó là vấn đề phức tạp, cũ mà luôn mới. Nói đây là vấn đề cũ vì đã có không ít các bài viết, công trình khoa học nghiên cứu, còn xét đây là một vấn đề mới ở chỗ các bài viết và công trình nghiên cứu khoa học đó nghiên cứu vấn đề theo những cách nhìn, cách đánh giá khác nhau và các địa phương các nhau cũng có những hiệu quả nghiên cứu khác nhau. Chính vì thế, nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới một cách toàn diện vẫn là một vấn đề có vai trò quan trọng. 3. Mục tiêu nhiệm vụ 3.1 .Mục tiêu -Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cuả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. -Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Đánh giá công tác thực hiện, quản lý và những bất cập tồn tại tại tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện. 3.2 Nhiệm vụ -Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bình đằng giới. Trên cơ sở đó, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong thực 4 Lê Thị Thu Hường (2016), Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Khoa học Xã hôi thuộc Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam. 6
  9. hiện pháp luật bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi -Đưa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào việc thực hiện pháp luật của chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước có liên quan và các chủ thể khác… 4.2. Phạm vi nghiên cứu: -Về lý luận: luận văn tập trung đánh giá hoạt động thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa bàn Quảng Ngãi . -Về thực tiễn: các số liệu, thông tin làm cơ sở đánh giá được thu thập trong khoảng thời gian 5 năm (từ năm 2013 đến 2017) 5.Phương pháp nghiên cứu -Phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước về thực hiện quyền con người, bình đẳng giữa nam và nữ. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp phân tích, so sánh ,tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về bình đẳng giới. - Phương pháp thống kê để thấy được số lượng, hiện trạng thực hiện bình đẳng giới tại Quảng Ngãi. Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu về bình đẳng giới. 6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận: Trong thời gian qua, đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp luật bình đẳng giới, tuy nhiên những đề tài này chỉ đề cập đến một số khía cạnh này hay khía cạnh khác của bình đẳng giới, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu pháp 7
  10. luật một cách tương đối toàn diện về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Quảng Ngãi Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan đến quyền của phụ nữ, công tác cán bộ nữ. 7.Kết cấu của khóa luận Đề tài với tiêu đề: “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” được chia làm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Chương 2: Thực trạng áp dụng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. 8
  11. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.1.Khái quát thực hiện pháp luật về bình đẳng giới 1.1.1.Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới 1.1.1.1.Pháp luật về bình đẳng giới Giới tính là một quá trình kết hợp và pha trộn những đặc điểm di truyền học của sinh vật thường dẫn đến kết quả là sự chuyên môn hóa thành giống đực và giống cái5. Sự tách biệt giới tính là một tất yếu của tự nhiên và xảy ra một cách khách quan trong tự nhiên và việc điều chỉnh về sự phát triển đó là trách nhiệm và định hướng của xã hội. 1.1.1.2.Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cũng có nghĩa là thực hiện những quy định của pháp luật trao nghĩa vụ bắt buộc thực hiện một cách tích cực bằng việc các chủ thể tuân thủ các quy định của pháp luật về bình đẳng giới một cách tích cực và hiệu quả. Thực hiện pháp luật về bình đẳn giới được thể hiện qua việc tuân thủ pháp luật về bình đẳng giới, thi hành pháp luật về bình đẳng giới, áp dụng pháp luật về bình đẳng giới. Pháp luật về bình đẳng giới ra đời là cơ sở cho việc hình thành nên những cơ sở pháp lý mà các bên phải tuân theo và thực hiện hiệu quả. Nhà nước đảm bảo thực hiện pháp luật bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành một cách hiệu quả. 1.1.1.3.Đặc điểm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Pháp luật về bình đẳng giới thể hiện qua những vấn đề mang tính đặc thù của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới. Thực hiện 5 Wikipedia, Khái niệm giới tính https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BB%9Bi_t%C3%ADnh 9
  12. pháp luật bình đẳng giới mang tính liên kết với các nội dung khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam và thể hiện ở việc bình đẳng giới được thực hiện đồng bộ, phát triển cùng các chính sách khác của Nhà nước. Pháp luật về bình đẳng giới thể hiện cụ thể ở những đặc điểm gồm: Thứ nhất, thực hiện pháp luật bình đẳng giới là thực hiện quyền con ngưởi. Thứ hai, thực hiện pháp luật bình đẳng giới thể hiện ở nhiều lĩnh vực bao gồm: lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo. Thứ ba, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật. 1.1.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước và các mục tiêu cụ thể của quốc gia đã đề ra. Mỗi một chế định pháp luật có những nguyên tắc để thưc hiện khác nhau, thể hiện trong quá trình thực hiện hiệu quả của pháp luật về bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới 2016 có quy định cụ thể về các nguyên tắc trong bình đẳng giới, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của bình đẳng giới, bao gồm: Thứ nhất, thực hiện nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Thứ hai, thực hiện chủ trương nguyên tắc nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới. Thứ ba.biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới. 10
  13. Thứ tư,chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Thứ năm, bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật. Thứ sáu, thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân. 1.1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Mỗi một môi trường có những vấn đề áp dụng pháp luật khác nhau và hiệu quả áp dụng pháp luật bình đẳng giới khác nhau. Để pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn đặc biệt là một số địa phương các nhau, những yếu tố khác nhau ảnh hưởng rất khác biệt đối với mọi hoạt động của công tác thực hiện bình đẳng giới. Để đảm bảo hoạt động bình đẳng giới được thực hiện thì cần quan tâm đến những yếu tố gồm: 1.2.Nội dung thực hiện pháp luật về bình đẳng giới 1.2.1. Chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện triển khai hiệu quả dựa trên chủ trương chính sách của Đảng cũng như các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam. Sau gần 10 năm Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành, việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bài bản hơn. Năm 2016, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bình đẳng giới đã được Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành hoặc trình ban hành theo thẩm quyền đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới. 1.2.2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhất là trong lĩnh vực bình đẳng giới, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vai trò và chức năng của hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. 11
  14. 1.2.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới Bộ máy Nhà nước là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội đồng thời là phương thức đảm bảo hệ thống pháp luật được thực thi hiệu quả đối với chư trương bình đẳng giới. Hiện nay, hệ thống cơ quan nhà nước và cán bộ biên chế của nhà nước về lĩnh vực bình đẳng giới bao gồm: 1.2.4. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới Từ những cơ quan nhà nước về thực hiện bình đẳng giới, Nhà nước ta có một đội ngũ cán bộ quản lý về bình đẳng giới ở mọi mặt. Thực hiện quy định về cơ cấu tổ chức của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, hầu hết các địa phương đã giao việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cho Phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới đảm nhiệm. Riêng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của một số tỉnh thành vẫn giữ Phòng Bình đẳng giới tiếp tục giao cho Văn phòng Sở thực hiện công tác này.Nâng cao nhận thức, chuyên môn về bình đẳng giới là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ quản lý để có những kiến thức nền tảng để tuyên truyền sâu rộng. Các Bộ, ngành và .địa phương tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bình đẳng giới, lồng ghép vấn đê bình đắng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và xây dựng, phát triển các tài liệu, góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các cán bộ pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương cũng được chú trọng thông qua các lớp tập huấn và các hoạt động triển khai Luật Ban hành văn bản quy 6 phạm pháp luật 6 Năm 2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức 03 lóp tập huấn (tại 03 miền Bắc, Trung, Nam) triển khai thi hành Luật Ban hành vãn bản quv phạm pháp luật cho đội ngù làm côn» tác xây đựne pháp luật tại cảc Bộ. ngành và địa phưong và 02 lóp tập huấn chuyên sâu cho Nhóm chuvén gia và một số cán bộ làm công tác pháp chế tại các Bộ. co quan nsang 12
  15. 1.2.5.Bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Có nhiều yêu tố để đảm bảo thực hiện hiệu quả trong công tác thực thi pháp luật về bình đẳng giới. Ngoài nhận thức của người dân, những điều kiện về trình độ nhận thức thì việc bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được thực thi hiệu quả nếu nguồn tài chính được đảm báo hiệu quả. 1.2.6. Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới Vai trò giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động giáo dục thực hiện pháp luật về bình đẳng giới có vai trò rất quan trọng. Theo căn cứ Điều 36 Luật Bình đẳng giới 2016 quy định Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. 1.3.Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới 1.3.1. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở một số nước Để xác định tiến bộ của thế giới trong vấn đề bình đẳng giới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã thiết lập Chỉ số Bình đẳng giới Toàn cầu (Global Gender Gap Index). 1.3.2.Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại một số địa phương Ở Việt Nam, mỗi địa phương có những thành tựu khác nhau trong công cuộc thực hiện bình đẳng giới. Mỗi địa phương có những điều kiện kinh tế xã hội, địa lý cũng như những đặc điểm về tự nhiên khác nhau. Đặc biệt, trình độ dân trí được thể hiện được những ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi bình đẳng giới ở một số địa phương khác nhau. Bộ với sự tham °ia của các chuyên gia về si ới và pháp luật của Canada và Việt Nam. 13
  16. 1.3.3.Kinh nghiệm đúc kết cho công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi Qua nghiên cứu những đặc điểm của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới của các nước cho ta thấy được những đặc điểm về thực hiện bình đẳng giới có thể học hỏi và có kinh nghiệm trong việc thực hiện bình đẳng giới gồm: Thứ nhất, hệ thống chính trị và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là vô cùng quan trọng trong công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Thứ hai, để thực hiện tốt công cuộc bình đẳng giới của Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân cần có những chiến lược ngắn hạn, dài hạn cụ thể cho đặc điểm của tỉnh nhà sẽ giúp chúng ta thực hiện hiệu quả. Thứ ba, việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân ở địa phương là rất quan trọng. Tiểu kết Chương 1 Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được hiểu là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về bình đẳng giới thành các hành vi thực tế, hợp pháp nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bao gồm 3 nội dung sau đây: Một là, Nhà nước nói chung và các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền nói riêng triển khai các hoạt động tổ chức thực hiện và đưa chính sách pháp luật về bình đẳng giới vào cuộc sống. Hai là, các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền tổ chức thực hiện các hoạt động áp dụng pháp luật bình đẳng giới và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ hoặc xử lý các tranh chấp, vướng mắc, vi phạm 14
  17. pháp luật hoặc các sự kiện pháp lý khác phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện; khen thưởng, tôn vinh các hành vi tích cực. Ba là, tổ chức và hỗ trợ để các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật bình đẳng giới trên thực tế được thuận lợi. Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỈNH ĐẲNG GIỚI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI 2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - hành chính, văn hóa – xã hội tác động đến công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của tỉnh Quảng Ngãi Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ tây sang đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển. Khí hậu ở Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới và gió mùa, nên nhiệt độ cao và ít biến động. Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình 25- 26,9 °C. Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, gồm có mùa mưa và mùa nắng7 Những điều kiện tự nhiên của Quảng Ngãi đã có những ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm dân cư, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh nhà đồng thời hiệu quả thực hiện các chính sách của nhà nước về bình đẳng nói chunng và bình đẳng giới nói riêng. 7 Wikipedia: Quảng Ngãi https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_Ng%C3%A3i 15
  18. 2.2.Tình hình triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi 2.2.1.Về chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Trong quá trình xây dựng và phát triển Tỉnh Quảng Ngãi, bình đẳng giới thực sự là vấn đề được quan tâm là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Nhận thức về bình đẳng giới với sự quyết tâm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi và của các cơ quan, ban ngành, đội ngũ cán bộ công chức cũng như nhân dân được nâng lên. Thực hiện tốt chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới là tạo điều kiện cho cả nam và nữ được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới được triển khai nghiêm túc, toàn diện. 2.2.2. Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới Công tác truyền truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới được triển khai rộng khắp từ trung ương tới địa phương bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần chuyển đổi nhận thức, hành vi của các cấp, các ngành, đơn vị và người dân trong thực hiện bình đẳng giới ngày một tốt hơn. Nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã chủ trì và phối họp với các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai các hoạt động truyền thông về lĩnh vực này. Một số kết quả nổi bật đạt được như sau: 2.2.3. Về kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng Năm 2013, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 557/QĐ-UBND ngày 17/4/2013 về việc kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi. Qua nhiều lần kiện toàn, đến ngày 13/9/2017 UBND tỉnh kiện toàn lại Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi tại Quyết định số 1701/QĐ-UBND. 16
  19. 2.2.4. Về xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới Công tác tổ chức và bộ máy cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ của các ngành, các cấp thường xuyên được kiện toàn, phù hợp với thực tế của từng địa phương, đơn vị, đảm bảo mỗi cấp, ngành đều có cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. 2.2.5. Về bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Năm 2014, thực hiện chủ trương về tiết kiệm chi ngân sách, các cơ quan thuộc Sở đã phối hợp, điều hành, phân bổ kinh phí ngân sách cho hoạt động bình đẳng giới tại các phòng ban địa phương và tổ chức triên khai thực hiện Chiến lược và Chương trình hành động quốc gia vê bình đăng giới theo hướng tiết kiệm, hiệu quả. Chủ tịch UBND tỉnh quan tâm và dành tỷ lệ kinh phí phù hợp cho công tác bình đẳng giới trong quá trình xem xét, thông qua ngân sách nhà nước bằng việc ban hành một số Quyết định như sau:. 2.2.6. Về giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới Công tác kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch hành động được thực hiện thường xuyên và đảm bảo chất lượng. Hàng năm, Đoàn kiểm tra liên ngành gồm đại diện Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Sở Thông tin- Truyền thông, Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch... tổ chức kiểm tra, giám sát công tác Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các huyện, thành phố. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức về Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ cho các cấp ủy Đảng, cơ quan, đoàn thể của địa phương, đồng thời giúp địa phương khắc phục những hạn chế, tồn tại trong giai đoạn 2011- 2020. 17
  20. 2.3.Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi 2.3.1.Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực - Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị -Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm -Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo -Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ -Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao -Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình 2.3.2..Đánh giá chung 2.3.2.1.Kết quả đạt được 2.3.2.2.Hạn chế Một là, do hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới. Hai là, do hạn chế về năng lực quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Ba là, nhận thức của cộng đồng, xã hội và gia đình. 2.3.2.3.Nguyên nhân và kinh nghiệm đúc kết Trước hết, phải nói đến vai trò cấp lãnh đạo. chỉ đạo của địa phương, Thứ hai, do sự tự ti và ỷ lại không muốn vươn lên cũng là một rào cản trong thực hiện bình đẳng giới. Thứ ba, do công tác tuyên truyền pháp luật. Thứ tư, do thực hiện pháp luật bình đẳng giới chưa nghiêm. 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2