
VAI TRÒ VÀ CƠ SỞ CỦA ĐOÀN KẾT XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
PHẠM VĂN ĐỨC (*)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái quát những tư
tưởng, quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam về đoàn kết xã hội; đồng thời, phân tích và luận giải từ
góc độ triết học vai trò động lực và cơ sở của đoàn kết xã hội ở Việt
Nam hiện nay. Theo tác giả, sự đồng thuận và đoàn kết xã hội là kết
quả của việc giải quyết các mâu thuẫn xã hội. Chính sự kết hợp hài
hoà các lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân là cơ sở
quan trọng tạo nên sự đồng thuận và đoàn kết xã hội. Đó cũng là cơ
sở cho sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh toàn cầu
hoá và hội nhập quốc tế hiện nay.
Đàn kết xã hội là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống đó đã được hun đúc và tôi luyện qua hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước, được thử thách qua cuộc đấu tranh với thiên
nhiên và các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Nhờ có
truyền thống đó, mỗi khi có giặc, mọi người như một đứng dậy với
quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Do được hun đúc và thử
thách qua nhiều điều kiện và các giai đoạn khác nhau của lịch sử,
đoàn kết đã trở thành giá trị truyền thống quý báu của dân tộc ta.
Nói như vậy không có nghĩa là, chỉ có ở dân tộc ta, đoàn kết mới là
truyền thống, còn các dân tộc khác thì không có truyền thống đó.
Hoàn toàn không phải như vậy, đoàn kết có thể là truyền thống của
nhiều dân tộc hoặc của đại đa số các dân tộc trên thế giới. Bởi một lý

lẽ đơn giản là khó có thể có một dân tộc nào không có tinh thần đoàn
kết mà có thể tồn tại và phát triển được; đặc biệt, trong điều kiện
ngày nay, để phát triển bền vững và hài hòa xã hội thì đoàn kết là
một yếu tố không thể thiếu được. Nhưng, có một điều chắc chắn
rằng, truyền thống đoàn kết của người Việt Nam khác với các nước
khác trên thế giới. Để làm rõ được điểm khác biệt đó cần có nhiều
công trình nghiên cứu chuyên sâu về các giá trị truyền thống của dân
tộc Việt Nam, về đất nước và con người Việt Nam. Trên nét chung
và khái quát nhất, có thể nhận thấy truyền thống đoàn kết của dân
tộc Việt Nam được tạo dựng bởi điều kiện sống của con người Việt
Nam luôn phải thường xuyên chống chọi với thiên tai và lụt lội,
đồng thời phải luôn đối phó và chống trả giặc ngoại xâm bên ngoài.
Chính điều kiện khắc nghiệt đó đã làm cho người Việt Nam phải cố
kết với nhau, dựa vào nhau để tồn tại và phát triển.
Thực tiễn những năm kháng chiến đã khẳng định rằng, nhờ có đại
đoàn kết dân tộc mà dân tộc ta mới có thể giành lại được độc lập,
thống nhất được đất nước. Do tầm quan trọng như vậy, vấn đề đoàn
kết và đại đoàn kết dân tộc luôn được quan tâm và đặt đúng tầm
quan trọng của nó.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về
đoàn kết xã hội
Trước hết, chúng tôi xin điểm qua một số quan điểm cơ bản của Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đại đoàn kết dân
tộc.
Kế thừa những tư tưởng của ông cha về vai trò của đại đoàn kết dân
tộc, cùng với sự từng trải trong những năm tháng bôn ba tìm đường
cứu nước, Hồ Chí Minh đã nêu ra nhiều tư tưởng về đoàn kết và đại

đoàn kết dân tộc.
Thực tiễn những năm kháng chiến đầy gian khổ cho thấy, nhờ có
tinh thần đoàn kết mà cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác, mặc dù lực lượng cách mạng yếu hơn lực lượng
của quân địch rất nhiều. Hồ Chí Minh đã nhận thấy vai trò quan
trọng của đoàn kết trong kháng chiến cũng như trong hòa bình xây
dựng. Người viết: “… trong kháng chiến ta gặp rất nhiều khó khăn,
lực lượng địch mạnh hơn ta nhiều, nhưng nhờ đoàn kết mà ta đã
thắng. Nay trong xây dựng hòa bình, ta cũng biết đoàn kết thì nhất
định thành công”(1). Từ đó, Người đã khái quát thành khẩu hiệu nổi
tiếng làm phương châm hành động cho dân tộc Việt Nam: “Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”(2).
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “đoàn kết là một chính sách dân tộc,
không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho
thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng
nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và
phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(3). Người còn nhấn mạnh
rằng, “đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố: Nền có
vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính
sách đoàn kết cần phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc hẹp
hòi và đoàn kết vô nguyên tắc…”(4). Trong tư tưởng của Người,
nguyên tắc quan trọng nhất, bất di bất dịch khi thực hiện đại đoàn
kết là nguyên tắc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ
bản của nhân dân Việt Nam.
Trong quan điểm đoàn kết Hồ Chí Minh, đoàn kết của nhân dân
đóng vai trò hết sức quan trọng. Với ý tưởng “dễ trăm lần không dân

cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, Người coi sức mạnh lớn
nhất là nằm ở nhân dân và nếu đoàn kết được nhân dân sẽ tạo ra
được sức mạnh tăng gấp bội: “Trong bầu trời không gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân”(5).
Nhưng, điều cần nhấn mạnh là ở chỗ, quan niệm đoàn kết của Hồ
Chí Minh là cơ sở để tập hợp đầy đủ các loại người thuộc các tầng
lớp, các đảng phái, các tôn giáo khác nhau, thậm chí cả những người
đã từng lầm đường lạc lối nhưng biết ăn năn hối cải. Người viết:
“Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân,… đoàn kết
tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ,… đoàn kết các dân tộc
anh em,… đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo”(6).
Người đặc biệt quan tâm đến đoàn kết lương giáo và đoàn kết dân
tộc giữa miền xuôi và miền núi. Chẳng hạn, khi nói về đoàn kết
lương giáo, Hồ Chí Minh viết: “Toàn thể đồng bào không chia lương
giáo, đoàn kết chặt chẽ… để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để
giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(7); “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng
bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống
hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc. Phải chấp hành đúng chính
sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo”(8).
Người còn nhấn mạnh thêm rằng, ““sống theo Đảng, chết theo
Chúa”. Câu nói ấy là tổng kết một nhận thức rất đúng tâm trạng của
những đồng bào theo đạo có tinh thần yêu nước, họ theo Đảng
nhưng vẫn tin Chúa. Chúng ta cần phải biến câu nói ấy thành khẩu
hiệu để giáo dục và động viên đồng bào có đạo hăng hái tham gia
sản xuất và chiến đấu”(9) và “Nguyện vọng của đồng bào giáo dân
là “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”. Muốn được như thế thì
phải ra sức… phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên. Đồng

thời phải đảm bảo tín ngưỡng tự do. Nhưng hoạt động tôn giáo
không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với
chính sách và pháp luật của Nhà nước”(10).
Tương tự như vậy, trong tư tưởng đoàn kết, Hồ Chí Minh đặc biệt
chú trọng đến đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt
Nam. Người thường xuyên căn dặn rằng, phải chăm lo đoàn kết các
dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, các dân tộc phải thương yêu giúp
đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng
nhau xây dựng Tổ quốc chung, làm cho các dân tộc đều được ấm no
hạnh phúc. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ với nhau; các dân
tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số, dân tộc nào đông hơn, nhiều
người hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến
bộ như nhau, đoàn kết như anh em một nhà(11). Người viết: “Đồng
bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay
Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều
là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng
nhau, no đói giúp nhau”(12).
Người còn khẳng định thêm rằng, “đối với những đồng bào lạc lối lầm
đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành
đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”(13). Chúng
ta có thể dẫn ra đây rất nhiều tư tưởng khác về đoàn kết và đại đoàn kết
dân tộc của Hồ Chí Minh mà cho đến nay vẫn còn mang đậm ý nghĩa
sâu sắc. Cho đến khi sắp qua đời, Người vẫn lo lắng và căn dặn lại thế
hệ sau phải giữ gìn đoàn kết mà trước hết là đoàn kết trong Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình. Người viết: “Đoàn kết là truyền thống
cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến
các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn
con ngươi của mắt mình”.

