
Văn học Nhật Bản
Bởi:
Wiki Pedia
Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất
thế giới[1] nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ
tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập[2]. Chúng ta không
biết ngọn nguồn của văn học thành văn Nhật Bản khởi điểm chính xác từ khi nào, chỉ có
thể ước định qua những tác phẩm khởi nguyên của văn học Nhật Bản vẫn được đánh giá
là kiệt tác cổ điển như Vạn diệp tập thế kỷ thứ 8, thi tuyển tập hợp 3 thế kỷ thi ca trước
đó của Nhật Bản và các cuốn sử Cổ sự ký và Nhật Bản thư ký văn bản hóa các truyền
thuyết, huyền thoại lập quốc Nhật Bản.
Theo một số học giả có lẽ do ảnh hưởng của Âu châu luận, lịch sử văn học Nhật Bản có
thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách
phân kỳ lịch sử kinh điển thường gặp trong văn học phương Tây. Tuy nhiên, trong cuốn
Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodanshā xuất bản, văn học Nhật Bản được chia
làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế,
Cận đại và Hiện đại[3].
Phân kỳ lịch sử
Thượng đại
Những sáng tác đầu tiên trong nền văn học khởi thủy của Nhật Bản là văn học truyền
miệng, do trong thời kỳ sớm của sự phát triển lịch sử dân tộc Nhật Bản chưa hề có chữ
viết. Khi chữ viết mới xuất hiện đã trở thành đặc quyền của những đẳng cấp cao của bộ
tộc Nhật Bản, lúc đầu là quý tộc thị tộc và bộ lạc, sau đó là giới quý tộc phong kiến.
Những sáng tác thượng đại được biết đến ngày nay không phải là những biểu hiện sớm
nhất mà có lẽ thuộc thời kỳ muộn hơn. Chúng được thực hiện bởi những đại biểu của
đẳng cấp quý tộc, những người đã không chỉ sưu tầm mà còn biên tập tư liệu, và họ đã
để dấu ấn của chính mình trên sản phẩm thông qua việc quyết định chất liệu và hình
thức văn học cũng như lựa chọn những nội dung mà họ cho rằng có giá trị và cần thiết.
Những dấu vết của sáng tác dân gian thời kỳ sớm có thể tìm thấy trong những công trình
chữ viết thời cổ, đó là Kojiki (năm 712), Nihongi (720) với những bài ca, thần thoại,
truyền thuyết; Manyoshu với các thi phẩm về tình yêu, thiên nhiên và cái chết; Fudoki
Văn học Nhật Bản
1/14

với truyền thuyết và truyện hoang đường v.v. và tất cả đều thuộc thế kỷ 7. Chất liệu của
các công trình này xuất xứ từ thời kỳ xa xưa, thậm chí từ thời kỳ đầu của chế độ công xã
nguyên thủy, hoặc có nguồn gốc từ thời kỳ đó. Tất cả đều cho thấy một bức tranh văn
học Nhật Bản thời cổ là văn học dân gian theo đúng nghĩa đầy đủ của từ này, tuy chúng
đã ít nhiều được tư liệu hóa và biên soạn theo chủ quan của tác giả.
Trung cổ
Sự tiếp xúc lâu dài với nền văn hóa Trung Hoa thời tiền Heian là tiền đề cho sự ra đời
của chữ viết và người Nhật Bản lần đầu tiên biết khái niệm "văn học" đến từ lân quốc,
họ biết có một loại văn học viết, văn học như một bộ môn riêng biệt. Điều này làm thay
đổi toàn bộ bức tranh sáng tạo văn học của Nhật Bản: bên cạnh nhân dân và văn học
truyền miệng sản phẩm của họ, đã xuất hiện một lớp người không hát những bài ca mà
sáng tác thơ, không sáng tạo ra các thần thoại mà soạn những truyện ngắn.
Văn học Heian trong các thế kỷ 9-12 cho thấy hai hệ thống riêng biệt: thứ nhất, đó là
những sáng tác dân gian vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ tuy ngày nay giới nghiên cứu
hầu như chỉ còn biết đến diện mạo của chúng qua cái mà giới quý tộc Heian quan tâm,
với các bài ca Sabara và Kagura-uta; là những truyện cổ tích và truyền thuyết dân gian
trong Konjaku monogatari và Kokonchomonshu. Thứ hai, xuất hiện nền văn học của
một đẳng cấp hạn hẹp: thơ và văn xuôi Heian, tách biệt khỏi văn học dân gian bởi chất
liệu là thế giới sinh hoạt và tư tưởng của quý tộc Heian. Về phương diện hình thức, thi
pháp của thơ tanka được hình thành với hợp tuyển Kokinshu (năm 95); hình thức tiểu
thuyết đã xuất hiện cùng với những sáng tạo khởi đầu là takatori monogatari, đi được
một nửa chặng đường đến Ise monogatari và đạt đỉnh cao với Genji monogatari; nhật ký
với Toka nikki và thể tùy bút với Makura no shoshi (936).
Trung thế
Thời kỳ mới (Kamakura, Muromachi) bắt đầu với sự xuất hiện đẳng cấp samurai ghi
dấu vào lịch sử bằng những cuộc nội chiến đẫm máu bao trùm toàn bộ nước Nhật và sự
đương đầu với thủy binh Mông Cổ trong hai lần chống ngoại xâm. Những cuộc chiến
đã làm nảy sinh dạng thức sử thi dân gian mới với không gian không còn là thần thoại
về các vị thần mà là truyền thuyết về những anh hùng, những gunki (quân ký) văn học
genki (chiến ký). Nhân vật trung tâm của tác phẩm chuyển hướng từ nhân vật thần thoại
trở thành cá nhân lịch sử, những người tham dự và những anh hùng của sử ca dân gian.
Dấu ấn văn chương trung thế là sự ra đời của những anh hùng ca phong kiến Nhật Bản,
như tác phẩm Heike monogatari, mô tả những võ sĩ đạo và bóng trăng mờ ảo sau những
trận mưa máu, mà cảm quan về sự phù du của cõi người còn in đậm ngay từ những dòng
thơ mở đầu tác phẩm.
Văn học samurai tồn tại không ít hơn bốn thế kỷ, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15 và đã trải
qua những hưng thịnh và suy vong. Các tác phẩm như Heike monogatari và Gempei
Văn học Nhật Bản
2/14

monogatari của thế kỷ 13 gắn bó chặt chẽ với thực tế lịch sử của thời kỳ này: lịch sử
cuộc chiến giữa hai tập đoàn quý tộc phong kiến Nhật Bản, dòng họ Minamoto và dòng
họ Taira. Những tác phẩm này thể hiện sự khốc liệt của cuộc chiến, và những người
tham gia vào nó được diễn tả trọn vẹn cả lý tưởng và lối sống. Về sau những anh hùng
ca này thay đổi tính chất và được tiểu thuyết hóa, tạo nên những truyện phiêu lưu hiệp
sĩ vốn rất quen thuộc với phương Tây đương thời, mà tác phẩm anh hùng ca về nhân vật
Yoshitsune, cuốn Gikeiki, là một điển hình.
Nền văn học của các võ sĩ đạo đương thời cho thấy một bức tranh rộng lớn hơn nhiều
so với văn học quý tộc thời Heian: văn học Heian được sáng tạo trong phạm vi hạn hẹp,
thuộc tầng lớp cao của giai cấp quý tộc, trong khi đó văn học samurai mở rộng phạm vi
giữa các chiến binh phong kiến, tầng lớp đông đảo đã thoát khỏi giai cấp nông dân còn
chưa lâu hoặc về thực chất họ vẫn còn thuộc tầng lớp đó.
Những sáng tác văn xuôi của thời trung thế cho thấy chất liệu gắn bó chặt chẽ với văn
học dân gian truyền miệng và mang đậm đặc tính dân gian hơn giai đoạn trước.
Trong văn học trung thế, bên cạnh tiến trình văn xuôi samurai, thi ca cũng tương tự.
Những sáng tác dân gian đã xuất hiện những hình thức mới, như các bài ca imayo, được
ghi lại bằng chữ viết từ mạt kỳ Heian nhưng phổ biến trước hết trong giới võ sĩ đạo.
Trên mảnh đất của thi ca dân gian vui nhộn, bông lơn, hình thành nên thể loại thơ trào
lộng haikai mà những hình thức xa xưa hơn của chúng được hát tại các chùa chiền và
ở các gia đình samurai tu hành, về sau đã được chú ý bởi các nhóm rộng rãi thuộc tầng
lớp chiến binh, thương nhân và thợ thủ công nơi đô thị.
Cận thế
Trong những năm cuối của thời kỳ Ashikaga, thế kỷ 15-16, những sáng tạo dân gian mà
giai đoạn Kamakura được giới samurai quan tâm, đã không ngừng lại và được thẩm thấu
tới một tầng lớp mới, hình thành một nền văn học khá đặc biệt so với giai đoạn trước
đó: văn học của tầng lớp thị dân. Đẳng cấp samurai giai đoạn đầu còn liên hệ chặt chẽ
với nông dân, sau đó đã tách biệt trở thành quý tộc phong kiến và đóng kín trong phạm
vi của mình. Ngược lại, giới thương nhân và thợ thủ công ngày càng liên hệ nhiều với
đông đảo cư dân rộng lớn, với nông dân. Kết quả là sự ra đời của một loạt các thể tài sân
khấu của giai cấp tư sản Nhật Bản thời phong kiến, những tác phẩm kịch nō và kabuki
thành thị thoát thai từ lối kể chuyện joruri. Loại truyện dân gian otogijoshi và những lối
kể chuyện dân gian khác là khởi nguyên của các truyện ngắn theo thể kanajoshi. Rồi từ
ngọn nguồn này nhiều thể loại khác của văn xuôi tự sự thời đại Tokugawa đã phát triển.
Cùng với điều đó, những nhà hoạt động văn học, tức tầng lớp thị dân, đã góp phần mình
vào folklore, nghĩa là vào ngọn nguồn của nền văn học viết mới với các truyện kể được
gọi là kodan và rokugo. Hai hình thức truyền miệng này dần được ghi chép lại và tạo
Văn học Nhật Bản
3/14

thành một bộ phận hoàn chỉnh của văn học thành thị đương thời, thêm vào đó chúng còn
cung cấp chất liệu cho các bộ phận khác của nền văn học này.
Về thơ, những thể loại thơ của quý tộc thời Heian được phổ cập rộng rãi trong cộng
đồng đã dẫn đến sự sáng tạo ra thơ thành thị riêng của thời kỳ Tokugawa khi nó được
kết hợp với folklore dân gian. Đó là các thể tài haikai (bài hài) và senryu (xuyên liễu).
Cận đại-hiện đại
Sự hình thành văn học viết của các đẳng cấp thị dân đã đưa kết quả là nó dần xa rời
những cội nguồn dân gian ban đầu của mình và chuyển thành văn học của một giai
cấp, văn học của tư sản Nhật Bản, văn học hậu kỳ phong kiến Nhật Bản. Với sự nối
tiếp truyền thống của văn học đô thị Tokugawa qua những tác gia như Matsuo Basho,
Chikamatsu Monzaemon, Shaikaku v.v. và với sự ảnh hưởng của thời đại mới qua cách
mạng Duy Tân Minh Trị, văn học tư sản của thời đại mới ra đời.
Trong khoảng những năm từ giữa thế kỷ 19 tới thời điểm kết thúc chiến tranh năm 1945,
văn học Nhật Bản khởi phát bằng những vận động mạnh mẽ chưa từng có trong suốt
12 thế kỷ văn chương quá khứ. Hàng loạt những trào lưu đương thời của phương Tây,
thông qua sách dịch tràn lan trong suốt cuộc Duy tân Meiji (Minh Trị, 1868-1912) và
đầu thời Taishō (Đại Chính, 1912-1926), đã phân hóa giới cầm bút trong nước thành
nhiều dòng phái nhiều khi đối đầu quyết liệt.
Có thể nhận thấy trong thời Meiji văn học đặc trưng bởi 5 khuynh hướng rất khác xa
nhau: Phái truyền thống với Kōda Rohan (1867-1947), Ozaki Kōyō (1867-1903), Izumi
Kyōka (1873-1939) viết về đề tài lịch sử và đương đại bằng lối văn truyền thống trang
nhã, hoàn toàn thoát khỏi bức xạ của tư tưởng phương Tây đương thời, các giá trị thẩm
mỹ là sự tiếp nối hoàn hảo văn chương thị dân thời Edo (1603-1868). Phái theo truyền
thống một cách khách quan phản ứng lại những định kiến hay tán dương thái quá của
người nước ngoài về Nhật Bản với đại diện Okakura Kakuzō (1862-1913), thiền sư
Suzuki Daisetsu (1870-1966); Phái sáng tạo từ cuộc đối đầu văn hóa là sự hòa trộn ưu
thế văn minh Đông-Tây, tạo ra một lối văn xuôi mới cho tiếng Nhật với các đại diện
Nagai Kafū (1879-1959), Kinoshita Mokutarō (1885-1945), Ishikawa Jun (1899-1987),
Nakano Shigeharu (1902-1979), Natsume Sōseki (1867-1916); Phái Cơ đốc giáo và phái
xã hội chủ nghĩa với các lãnh tụ Niijima Jō (1843-1890), Uchimura Kanzō (1861-1930);
Phái trẻ địa phương và chủ nghĩa tự nhiên với phong cách thông tục thuần túy, quy tụ
những tiểu thuyết gia như Tsubouchi Shōyō (1859-1935), Tayama Katai (1871-1930)
và Masamune Hakuchō (1879-1962).
Đầu thế kỷ 20 những sáng tác theo khuynh hướng tự nhiên dần chiếm ưu thế trên văn
đàn. Nhưng sau giai đoạn cực thịnh vào khoảng những năm 1909-1910, bước vào thời
Taishō chủ nghĩa tự nhiên mất hẳn động lực sáng tạo trước những thành công của các
Văn học Nhật Bản
4/14

nhà văn theo khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa[4]. Trào lưu tiểu thuyết tự thuật,
hậu duệ của chủ nghĩa tự nhiên lên ngôi trong sự đối trọng với các cây bút tân hiện thực.
Giai đoạn Thế chiến đầu thời Shōwa (Chiêu Hòa, 1927-1985) đến năm kết thúc chiến
tranh 1945 chứng kiến sự đụng độ của hai dòng văn học chính: văn học vô sản
(puroretaria bungaku) “vị nhân sinh” với các đại diện Tokunaga Shunaō (1899-1958),
Kobayashi Takiji (1903-1933), và trường phái tân cảm giác (shinkankakuha) “vị nghệ
thuật” với đại diện Yokomitsu Riichi (1898-1947), Kataoka Tetsubei (1894-1944),
Kawabata Yasunari (1899-1972), Nakagawa Yoichi (1897-1994).
Về thơ, năm 1882 đánh dấu một mốc lớn đầu tiên của tiến trình hiện đại hóa thơ ca Nhật
Bản khi Toyama Seiichi (1848-1900), Yatabe Ryokichi (1851-1899) và Inoue Tetsujiro
(1855-1944) ba giáo sư Đại học Tokyo, trong khi dịch thơ Tây phương, đã thử sáng
tác một số bài thơ theo phong cách châu Âu đương thời và cho in thành tập mang tên
Shintaishi-sho (Tân thể thi sao). Shintaishi (tân thể thi) hay còn gọi là thơ mới, trong sự
đối trọng với truyền thống Waka và Haiku cổ xưa, đã không mất nhiều sức thuyết phục
để được những cây bút trẻ nồng nhiệt đón nhận và thể nghiệm. Dần được thừa nhận về
sau, đặc biệt với sự ra đời của thơ tự do vào những năm cuối của thời Meiji, thơ mới đã
nở rộ cùng sự nở rộ của một loạt trào lưu văn học như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa
tượng trưng, khuynh hướng ấn tượng, thơ duy hiện đại vào nửa cuối của thời Taishō cho
đến hết sơ kỳ Shōwa.
Đặc điểm
Vai trò của văn học trong nền văn hóa Nhật Bản
Vai trò của văn học và các nghệ thuật tạo hình trong nền văn hóa Nhật Bản có tầm quan
trọng đặc biệt. Trong mọi thời đại lịch sử văn hóa Nhật Bản thể hiện khuynh hướng phi
logic, phi hệ thống và phi trừu tượng hóa, và người Nhật đã thể hiện tư tưởng của mình
không nhiều lắm trong các hệ thống triết học và tôn giáo trừu tượng như người châu Âu
thời Trung Cổ nhưng lại biểu hiện trong các tác phẩm văn học cụ thể. Thi tuyển Vạn
diệp tập là tác phẩm thể hiện tư tưởng và thái độ của người Nhật thời đại Nara (710-794)
rõ ràng hơn tất cả các tác phẩm của học thuyết Phật giáo cùng thời đại. Thời đại Nara
cũng điển hình cho sự sản sinh những kiệt tác văn chương nhưng không xuất hiện bất
kỳ một hệ thống triết học nào.
Trong lịch sử văn học Nhật Bản vẫn cho thấy đôi khi quy luật trên có ngoại lệ nhỏ,
đó là sự trỗi dậy của hệ thống tư tưởng Phật giáo thời đại Kamakura (1185-1333) và
Khổng giáo thời Tokugawa. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp Phật giáo của thời kỳ
Kamakura, triết lý tôn giáo của những thiền sư Honen và Dōgen cũng không được hệ
thống hóa một cách đầy đủ bởi những người kế tục họ, và việc tiếp thu các nhà Khổng
giáo thời Edo như Ito Jinsai và Ogyu Sorai có thể có ảnh hưởng đến thời kỳ sau nhưng
vẫn không dẫn tới tư duy trừu tượng hơn và tính chất suy đoán rộng lớn hơn. Thực tế
Văn học Nhật Bản
5/14

