
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
349
UNG THƯ/UNG BƯỚU
XU HƯỚNG THAY ĐỔI THEO TUỔI VÀ GIỚI TÍNH CỦA CÁC BỆNH NHÂN
UNG THƯ THỰC QUẢN THEO GHI NHẬN UNG THƯ QUẦN THỂ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Hùng Cường1, Phạm Xuân Dũng2, Bùi Đức Tùng2
TÓM TẮT45
Đặt vấn đề: Ung thư (UT) thực quản là một
trong những UT đường tiêu hóa thường gặp tại
Việt Nam. Đã có nhiều nghiên cứu về tuổi và
giới tính của UT thực quản tại Việt Nam, nhưng
cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu dựa trên số
liệu Ghi nhận UT quần thể về xu hướng thay đổi
theo tuổi và giới tính của các bệnh nhân UT thực
quản tại Việt Nam.
Mục đích: Phân tích sự thay đổi theo tuổi và
giới tính của các bệnh nhân mới ung thư (UT)
thực quản theo số liệu từ Ghi nhận ung thư quần
thể TP.HCM từ năm 2003 đến 2016.
Đối tượng và phương pháp: Số liệu từ Ghi
nhận ung thư quần thể TP.HCM từ năm 2003 đến
2016, với 1.384 bệnh nhân UT thực quản mới,
được hồi cứu. Số bệnh nhân mới UT thực quản
theo các nhóm tuổi và giới tính được tính để xem
xét xu hướng thay đổi của UT thực quản tại
TP.HCM.
Kết quả: Theo Ghi nhận ung thư quần thể
TP.HCM từ năm 2003 đến 2016:
1Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM
2Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Hùng Cường
SĐT: 0905922299
Email: cuongph@tahospital.vn
Ngày nhận bài: 19/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 04/8/2025
Ngày duyệt bài: 06/8/2025
+ Tuổi trung bình của các bệnh nhân UT
thực quản nam và nữ giới lần lượt là 60,3 (±
11,2) và 66,4 (± 14,3) tuổi. Tỉ số nam:nữ là 9,6:1.
+ Các bệnh nhân trẻ (<50 tuổi) chiếm tỉ lệ
15,3% (KTC 95%: 13,4 – 17,2%), có tỉ lệ nữ giới
là 9% không khác so với nhóm tuổi còn lại. Tỉ lệ
bệnh nhân thực quản trẻ cao hơn nhiều nước trên
thế giới.
+ Các bệnh nhân UT thực quản có xu hướng
tăng mạnh ở nam giới. Các bệnh nhân trẻ (<50
tuổi) có xu hướng tăng nhẹ ở hai giới, tuy nhiên
tỉ lệ bệnh nhân trẻ lại giảm.
Kết luận: Các bệnh nhân UT thực quản có
xu hướng tăng mạnh ở nam giới. Các bệnh nhân
UT thực quản trẻ (<50 tuổi) có xu hướng tăng
nhẹ ở hai giới, tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân trẻ lại
giảm. Tỉ lệ bệnh nhân UT thực quản trẻ tại
TP.HCM hiện ở mức cao, nên cần cảnh giác khả
năng bị UT thực quản khi có các triệu chứng
nghi ngờ ở người trẻ <50 tuổi.
Từ khóa: ung thư thực quản, xu hướng thay
đổi theo tuổi, xu hướng thay đổi theo giới tính,
người bệnh trẻ.
SUMMARY
AGE - AND GENDER-SPECIFIC
TRENDS IN INCIDENCE OF
ESOPHAGEAL CANCER BASED ON
THE POPULATION-BASED CANCER
REGISTRATION IN HO CHI MINH
CITY, VIETNAM

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
350
Introduction: Esophageal cancer is one of
the common gastrointestinal cancers in Vietnam.
There have been many studies on the age and
gender of esophageal cancer in Vietnam, but to
date, there has been no study based on the data of
the population-based cancer registration on the
trend of change by age and gender of esophageal
cancer patients in Vietnam.
Purpose: To analyse age- and gender-
specific changes in the incidence of esophageal
cancer based on data of the population-based
cancer registration in Ho Chi Minh City,
Vietnam from 2003 to 2016.
Materials and methods: Data from 1,384
incident esophageal cancer cases from the
HCMC Cancer Registry were used. New
esophageal cancer cases by age and gender
groups were retrospectively quantified and age
and gender-specific trends in esophageal cancer
incidence in Ho Chi Minh City from 2003 to
2016 were assessed.
Results: According to the HCMC Cancer
Registry, from 2003 through 2016,
+ The mean age of men and women with
esophageal cancer were 60.3 (± 11.2) and 66.4 (±
14.3) years, respectively. The sex ratio was 9.6:1.
+ Young adults (<50-year-old) comprised
15.3% of esophageal cancer patients (95% CI:
13.4 - 17.2%). Of them, the proportion of women
was 9%, no different from older patients. The
rate of young esophageal patients was much
higher than in many countries around the world.
+ Esophageal cancer patients tended to
increase sharply in men aged 50-69. There was a
slight increase in patients under 50 years old, but
the proportion of young esophageal patients
decreased.
Conclusion: Esophageal cancer patients had
a tendency to have increased sharply in men aged
50-69. There was a mild increase in patients
under 50 years of age, but the proportion of
young esophageal patients decreased. The rate of
young esophageal cancer patients in Ho Chi
Minh City was high. Therefore, it must consider
esophageal cancer as a real possibility in
individuals who present with any suspicious
symptoms, even in adults less than 50-year-old.
Keywords: esophageal cancer, age-specific
trends, gender-specific trends, young adults.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo GLOBOCAN năm 2022, ung thư
(UT) thực quản là UT thường gặp hàng mười
một trên toàn cầu, với xuất độ chuẩn-tuổi là
5,0/100.000 dân. Tại Việt Nam[1] năm 2016-
2017, theo ghi nhận UT quần thể Hà Nội, UT
thực quản là UT thường gặp hàng thứ tám
với xuất độ chuẩn-tuổi là 7,1/100.000 dân và
theo ghi nhận UT quần thể TPHCM, là UT
thường gặp hàng thứ mười với xuất độ
chuẩn-tuổi là 1,9/100.000 dân.
UT thực quản loại carcinôm tế bào gai
chiếm 90% các UT thực quản trên toàn thế
giới, chủ yếu tại Đông Á và Đông-Nam Phi
châu. Tuy nhiên gần đây xuất độ UT thực
quản loại carcinôm tuyến đang tăng và vượt
qua carcinôm tế bào gai tại nhiều vùng ở Bắc
Mỹ và Âu châu[2].
UT thực quản xảy ra chủ yếu ở nam
giới[3], với tỉ số nam:nữ trung bình là 3:1.
Tuổi thường gặp >70 tuổi, hiếm gặp ở người
trẻ[2]. Xu hướng thay đổi theo tuổi và giới
tính của UT thực quản trên toàn cầu rất khác
biệt tùy thuộc vào vị trí địa lý cũng như tình
hình kinh tế-xã hội[4].
Đã có nhiều nghiên cứu về tuổi và giới
tính của UT thực quản tại Việt Nam, nhưng
cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu dựa trên
số liệu Ghi nhận UT quần thể về xu hướng
thay đổi theo tuổi và giới tính của các bệnh
nhân UT thực quản tại Việt Nam. Do vậy,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
351
mục tiêu: Phân tích sự thay đổi theo tuổi và
giới tính của các bệnh nhân mới ung thư thực
quản theo số liệu từ Ghi nhận ung thư quần
thể TP.HCM từ năm 2003 đến 2016.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Số liệu từ Ghi nhận UT quần thể
TP.HCM các năm 2003-2016, gồm 1.384
bệnh nhân UT thực quản được sử dụng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Hồi cứu mô tả.
- Các biến số chính:
+ Chẩn đoán UT thực quản dựa vào nội
soi tiêu hóa trên và kết quả giải phẫu bệnh.
+ Tuổi trẻ được xác định khi các bệnh
nhân có tuổi <50.
+ Xu hướng thay đổi của UT thực quản
theo các nhóm tuổi và giới tính được xem xét
dựa trên sự biến thiên của số bệnh nhân mới
UT thực quản liên tục trong khoảng thời gian
2003-2016. Đường hồi quy sự biến thiên của
số bệnh nhân mới UT thực quản được tính và
minh họa trên biểu đồ phân tán bằng phần
mềm Excel. Đường hồi quy hướng lên cho
thấy xu hướng tăng của số bệnh nhân mới
UT thực quản theo thời gian, và ngược lại.
- Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm
Excel và Minitab 16.
- Giá trị p<0,05 được chọn là có ý nghĩa
thống kê, với độ tin cậy 95%.
Mối tương quan giữa hai biến số định
tính được kiểm định bằng phép kiểm Chi
bình phương (2).
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Theo Ghi nhận UT quần thể TP.HCM
các năm 2003-2016, có 1.384 bệnh nhân UT
thực quản mới, với 1.254 nam và 130 nữ.
Số bệnh nhân mới UT thực quản theo các
nhóm tuổi và giới tính được trình bày trong
Biểu đồ 1.
Biểu đồ 1. Số bệnh nhân mới UT thực quản theo các nhóm tuổi và giới tính
trong khoảng thời gian 2003-2016
Tuổi trung bình của các bệnh nhân UT
thực quản nam và nữ giới là 60,3 (± 11,2) và
66,4 (± 14,3) tuổi, các bệnh nhân nam giới có
tuổi trung bình trẻ hơn các bệnh nhân nữ
(p<0,001). Tỉ số nam:nữ là 9,6:1.
Các bệnh nhân trẻ (<50 tuổi) chiếm tỉ lệ
15,3% (KTC 95%: 13,4-17,2%), có tỉ lệ nữ
giới là 9% không khác so với nhóm tuổi còn
lại (p = 0,899).

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
352
Xu hướng tăng giảm của UT thực quản
theo các nhóm tuổi và giới tính dựa trên sự
biến thiên của số bệnh nhân mới UT thực
quản liên tục trong khoảng thời gian 2003-
2016 được trình bày trong Biểu đồ 2 và 3.
Biểu đồ 2. Xu hướng thay đổi của các bệnh nhân UT thực quản theo giới tính
trong khoảng thời gian 2003-2016
Trong giai đoạn 2003-2016, số các
bệnh nhân mới UT thực quản tại TP.HCM
có xu hướng tăng mạnh ở nam giới, nhưng
lại giảm nhẹ nữ giới. Xu hướng này biểu
hiện qua đường hồi quy của nam giới trong
Biểu đồ 2 hướng lên với độ dốc lớn, trong
khi đường hồi quy của nữ giới lại hướng
xuống với độ dốc thấp.
Biểu đồ 3. Xu hướng thay đổi của các bệnh nhân UT thực quản theo các nhóm tuổi
trong khoảng thời gian 2003-2016
Các bệnh nhân mới UT thực quản 50-69
tuổi có xu hướng tăng rõ trong giai đoạn
2003-2016 với các đường hồi quy có độ dốc
hướng lên rõ. Các bệnh nhân ≥70 tuổi có xu
hướng giảm nhẹ. Riêng các bệnh nhân <50
tuổi lại có xu hướng tăng nhẹ.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
353
Xu hướng thay đổi của UT thực quản kết
hợp nhóm tuổi và giới tính dựa trên sự biến
thiên của số bệnh nhân mới liên tục trong
khoảng thời gian 2003-2016 được trình bày
trong Biểu đồ 4.
Biểu đồ 4. Xu hướng thay đổi của các bệnh nhân UT thực quản kết hợp nhóm tuổi
và giới tính trong khoảng thời gian 2003-2016
Trong giai đoạn 2003-2016, số các bệnh
nhân mới UT thực quản tuổi trẻ (<50 tuổi) tại
TP.HCM có xu hướng tăng nhẹ. Xu hướng
này biểu hiện qua đường hồi quy các bệnh
nhân trẻ cả hai giới đều hướng lên nhẹ. Các
bệnh nhân UT thực quản lớn tuổi tăng rõ ở
nam giới tuổi 50-69, nhưng lại giảm nhẹ ở
các bệnh nhân ≥70 tuổi. Các bệnh nhân nữ
≥50 tuổi có xu hướng giảm nhẹ, thể hiện qua
đường hồi quy của nữ giới luôn có hướng
nằm ngang.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Tuổi của bệnh nhân UT thực quản:
Các bệnh nhân UT thực quản tại Hoa Kỳ
hiếm gặp ở người trẻ, đỉnh tuổi thường gặp là
70-90[2]. Theo Stabellini[3], tuổi thường gặp
của nữ bệnh nhân UT thực quản cao hơn nam
giới, với 46,9% bệnh nhân nữ >70 tuổi so với
48,2% bệnh nhân nam có tuổi 56-70
(p<0,001).
Ghi nhận trên toàn cầu[4] năm 2017, các
ca mới UT thực quản thường gặp ở khoảng
tuổi >70.
Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình
của bệnh nhân UT thực quản nam và nữ giới
là 60,3 và 66,4 tuổi; các bệnh nhân nữ có
tuổi thường gặp cao hơn nam giới (p<0,001)
tương tự như nhận xét của Stabellini.
4.2. Tỉ lệ bệnh nhân UT thực quản
tuổi trẻ:
Khoảng tuổi để xác định nhóm bệnh nhân
UT thực quản tuổi trẻ thay đổi tùy theo các
tác giả. Phần lớn nghiên cứu xác định bệnh

