
trong 14 ngày, số lượng bào thai sống giảm đáng kể so với nhóm
đối chứng. Cũng trên thí nghiệm đó, người ta nhận thấy không có
sự phát triển của bào thai khi nái hậu bị được cho ăn 60 hoặc 90
ppm ZEA. Young và cộng sự (1981) đã ghi nhận rằng có sự liên
quan giữa hiện tượng âm hộ sưng, đỏ, sự tăng trọng giảm, hiệu
suất tiêu thụ thức ăn với sự tăng nồng độ ZEA từ 0 đến 9 ppm.
Một nhóm nghiên cứu khác cũng báo cáo rằng heo nái cho ăn 10
ppm ZEA có biểu hiện chậm động dục sau cai sữa, giảm lứa đẻ và
khả năng thụ tinh, tăng trọng lượng tử cung và độ dày của thành
âm đạo. Gần đây, Yang và nhóm nghiên cứu của ông (2008) đã
báo cáo rằng khi cho heo hậu bị ăn 1 đến 3 ppm ZEA tinh khiết
trong 21 ngày, kích thước và trọng lượng của âm hộ và trọng
lượng của các cơ quan đích (tử cung, buồng trứng, thận, gan)
tăng đáng kể. Nhóm nghiên cứu này phát hiện khi cho heo hậu bị
ăn 1 ppm ZEA, lượng protein thô và năng lượng hấp thụ giảm rõ
rệt. Tuy nhiên, những tác động xấu của ZEA có thể được cải
thiện khi trộn chất hấp phụ vào thức ăn.
Sự hấp thụ: Trong ruột non, ZEA được hấp thu rất nhanh. Sau
khi heo ăn ZEA, người ta tìm thấy sự hiện diện ZEA trong máu
sau vài phút, trong số đó, 85% ZEA được hấp thụ trong thành
ruột với thời gian dưới 30 phút. Sự hấp thụ ZEA tuân theo quá
trình động học bậc nhất có Ka (hằng số động lực học) bằng 9.3/h
đối với chuột. Khi ZEA được hấp thụ vào cơ thể, enzyme CyP450
trong tế bào biểu mô ở thành ruột và gan nhanh chóng chuyển
ZEA thành α-zearalenol (ZEO) và b-zearalenone (ZEL). α-ZEO
tạo hiệu ứng mang thai giả cao hơn nhiều so với tiền chất của nó
là ZEA trên heo. Ở gan, ZEA và các chất chuyển hóa của nó kết
hợp với các chất đường, các hợp chất này đi vào ruột non thông
qua mật. Trong ruột non, một số hợp chất được thải ra phân và
một số được tái hấp thụ vào cơ thể thông qua chu trình Gan –
Mật. (Hình 2)