
Ấn chương Việt Nam - Khái luận về ấn chương và
ấn chương học
Trên thế giới, ở các quốc gia, các dân tộc có lịch sử
văn hiến cũng đều tồn tại hệ thống ấn chương. Lịch
sử xuất hiện ấn chương ở mỗi quốc gia khác nhau có
nhiều điểm khác biệt, song tựu trung điểm thống nhất
cơ bản là sự gắn bó mật thiết giữa lịch sử ấn chương
với sự hình thành và phát triển của lịch sử thành văn.
Trung Quốc, cái nôi của văn hóa Đông phương có
lịch sử thành văn đã mấy nghìn năm, sự ra đời của ấn
chương cũng gắn liền với sự hình thành và phát triển
của lịch sử thành văn Trung Quốc. Ấn chương Trung
Quốc gọi là “Tỷ” 璽, tương truyền ấn chương xuất
hiện từ thời Hoàng Đế (khoảng năm 2500 TCN). Cổ
tịch Trung Quốc mà tác giả sống thời Hán đã ghi lại
về sự xuất hiện rất sớm của ấn tỷ trong sách Xuân thu

vận đẩu khu: “Hoàng Đế thời hoàng long phụ đồ
trung hữu tỷ chương”[6] (Thời Hoàng Đế có con
rồng vàng đội bức địa đồ trong đó có tỷ chương).
Sách Hậu Hán thư - Tế tự trí hạ ghi lại về nguồn gốc
của ấn chương “Thời Tam Hoàng không có văn tự,
cai trị bằng tết thừng, từ Ngũ Đế trở về sau có thư
khế văn tự, đến đời Tam Vương (Hạ Kiệt, Thương
Thang, Chu Văn Vương và Võ Vương) tục hóa Triện
văn, sau mới có tỷ ấn…”[7]. Trong sách Dật Chu thư
- Ân chúc giải cũng ghi rằng khi vua Thành Thang
đuổi Kiệt, đại hội chư hầu, Thành Thang đã nhận
được ngọc tỷ và lên ngôi Thiên tử.
Về sự xuất hiện của Tỷ ấn gắn liền với việc chính
thức phát minh và sử dụng văn tự trong quá trình phát
triển xã hội Trung Quốc cổ trên mọi lĩnh vực. Văn
giáp cốt thời Ân - Thương được người ta coi là những
văn tự tượng hình sớm nhất ở Trung Quốc nhưng bản
thân nó lại bị giới hạn về nội dung và phạm vi sử

dụng, nên nó không thể bao quát hết được văn tự nói
chung của thời kỳ Ân - Thương. Những phát hiện
khảo cổ học tìm thấy chứng tích thời Ân ở An Dương
- Hồ Nam cũng không giúp cho việc khẳng định
nguồn gốc ấn chương thời cổ một cách chính xác. Có
ý kiến cho rằng đó là những di vật thời Tây Chu trên
mặt có khắc hình văn tự hoặc phù hiệu nhưng không
thể đọc nhận biết chính xác được và trong đó không
có gì liên quan đến ấn chương. Người khác lại cho
rằng trong đó có tín hiệu về ấn chương Trung Quốc.
Tương tự trong khai quật mộ táng thời Tây Chu tuy
không phát hiện ấn tỷ, nhưng có chứng tích về phù
tiết của một chủng thị tộc thuộc đất nước Trung Hoa.
Có ý kiến cho rằng “Tiết” (節) có nhiều loại dùng và
tên gọi, ấn chương gọi là Tỷ tiết trên khắc quan danh,
tên họ dùng làm tín vật…
Có thể tin rằng khởi nguyên của Tỷ ấn ở Trung Quốc

vào thời Xuân Thu. Sách Quốc ngữ - Lỗ ngữ chú
rằng “… Tỷ, ấn dã; Tỷ thư, ấn phong thư dã” (Tỷ là
ấn, tỷ thư là sách có ấn niêm phong). Thời đó người
Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre và vỏ cây làm giấy viết
văn thư cả việc công lẫn việc tư khi gửi đều dùng dây
buộc lại, chỗ nút buộc người ta dùng đất bùn đánh
dấu lên trên để làm tin. Khi tiếp nhận chỗ đất đánh
dấu còn nguyên hoặc không có vết nghi ngờ thì công
việc truyền tin đó coi như đã hoàn thành. Dần dần
những chỗ đánh dấu bằng đất bùn đó được làm cẩn
thận, kỹ thuật hơn và có những ký hiệu truyền tin
riêng biệt để tránh sự giả mạo. Có thể nói đó là lịch
sử xuất hiện của ấn chương Trung Quốc, hoặc nói
một cách khác ấn chương sau này đã tiếp thu tinh
thần đánh dấu bằng bùn đất và người ta đã làm ra loại
hình văn ấn gọi là “Nê phong”, hoặc “Phong nê”, tức
là vẽ, viết chữ tượng hình trên khuôn đất bùn để đánh
dấu làm tin.

Trải qua quá trình phát triển, ấn chương đã trở thành
đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa
học xã hội và văn hóa nghệ thuật, có vị trí một khoa
học độc lập gọi là ấn chương học.
Ấn chương học: Sigillographie - Theo cách gọi của
giới nghiên cứu cổ sử. Ấn chương học: Sphragistics -
Theo cách gọi của các nhà nghiên cứu Ngữ văn học.
Ấn chương (印章) theo cách giải thích của các nhà
nghiên cứu Trung Quốc đương đại thì chữ “ấn” (印)
có chữ gốc từ chữ “ức” (抑) nghĩa là ấn xuống dưới.
Tượng hình chữ là một bàn tay to ấn mạnh xuống
một người nhỏ bé đang quỳ. Về sau mở rộng nghĩa
thành chữ ấn (là ấn chương) mà ngày nay người ta
gọi là con dấu, vì khi đóng dấu cần động tác ấn mạnh
xuống. Chương (章) nghĩa gốc là đánh dấu, sau này
cũng như chữ “ấn” nó biểu tượng cho con dấu khi
động độc lập và là tên gọi của một bộ môn khoa học

