
340
@ Trường Đại học Đà Lạt
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG THU NHẬP ĐÉN LƯỢNG TIỀN MẶT NẮM
GIỮ: NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Effect of earning quality on cash holding: Evidence from listed companies on the
vietnam stock market
Nguyễn Thị Hồng Thúy, Ngô Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: nththuy@vnu.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu này tìm hiểu v mi quan hệ gia chất lưng thu nhập và lưng tin mặt nắm gi.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hi qui đa biến FGLS để xử lý hiện tưng tự tương quan và
phương sai thay đổi. Mẫu nghiên cứu bao gm 403 công ty phi tài chính đưc niêm yết trên sở
giao dịch chứng khoán thành ph H Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng
thời gian từ 2014-2019 vi 2418 quan sát. Kết quả nghiên cứu ch ra rng công ty có chất lưng
thu nhập thấp nắm gi tin mặt cao hơn. Nhìn chung, bng chứng của tác giả không ch cho thấy
s dư tin mặt bị ảnh hưởng tích cực bởi sự hiện diện của sự bất cân xứng thông tin ln hơn mà
còn do sự tn tại của các cấp giám sát quản lý thấp và sự xuất hiện của các khoản lỗ, cả hai đu
làm giảm tầm quan trọng của chất lưng thu nhập như một yếu t quyết định mức tin mặt.
Từ khoá: Chất lưng thu nhập, doanh nghiệp niêm yết, lưng tim mặt nắm gi
Abstract
This study explores the relationship between earnings quality and cash holdings. The study
uses the Feasible Generalized Least Square (FGLS) method to handle autocorrelation and variable
variance. The research sample includes 403 non-financial companies listed on the Ho Chi Minh
City Stock Exchange and the Hanoi Stock Exchange during the period from 2014 to 2019 with
2418 observations. Research results indicate that firms with low earnings quality hold higher cash
holdings. Overall, the authors' evidence shows not only that cash balances are positively affected
by the presence of larger information asymmetries, but also by the existence of low levels of
management oversight and the occurrence of losses, both of which reduce the importance of
earnings quality as a determinant of cash levels.
Keywords: cash holdings, earning quality, listed company
1. Đặt vấn đề
Các nghiên cứu trưc đây đã ch ra rng các công ty có thể thiết lập mức nắm gi tin mặt
bng cách so sánh gia chi phí giao dịch và chi phí cơ hội khi nắm gi tin mặt (Miller và Orr,
1966). Chi phí đưc xác định khi nắm gi nhiu tin mặt bao gm nhng bất li v thuế và mất đi
cơ hội đầu tư (Bigelli &Sánchez-Vidal, 2012) trong khi các li ích của việc nắm gi tin mặt đưc
xác định là giảm chi phí giao dịch trong trường hp huy động vn mi, giảm khả năng v n, tránh
sử dụng các phương án huy động vn bên ngoài (Kim, Mauer, &Sherman, 1998; Opler, Pinkowitz,
Stulz, và Williamson, 1999).
Ngoài lưng tin mặt thì thu nhập là một nhân t quan trọng đi vi công ty. Các nhà đầu tư
thường dựa vào các thông tin trên báo cáo tài chính để đưa ra quyết định đầu tư. Chất lưng thu
nhập và lưng tin mặt nắm gi là hai đại lưng có mi quan hệ vi nhau. Thu nhập sẽ phản ánh

341
@ Trường Đại học Đà Lạt
dòng tin công ty thu đưc từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ, tuy nhiên một s công ty lại rơi
vào trường hp có li nhuận trên sổ sách nhưng không có li nhuận thực tế để đáp ứng các ngha
vụ thanh toán trong ngắn hạn. Điu này cho thấy chất lưng thu nhập có mi quan hệ đi vi lưng
tin mặt nắm gi của một công ty. Trong các nghiên cứu trưc ở Mỹ cho thấy tác động tiêu cực
của chất lưng thu nhập đi vi việc nắm gi tin mặt của công ty Sun, Yung và Rahman (2012).
Trong một nghiên cứu khác cho rng các công ty trong ngành công nghiệp có mức độ bất cân xứng
thông tin ln hơn nên nắm gi lưng tin mặt ít hơn, kết quả này ph hp vi giả thuyết giám sát
cổ đông khi nhà quản lý bị hạn chế nắm gi dự tr tin mặt vì các lý do mục đích cá nhân Chung,
Kim và Zhang (2015).
Các nghiên cứu trưc cho rng khi chất lưng thu nhập của các công ty giảm, các nhà quản
lý có thể hành động để chng lại ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra từ các nhà đầu tư bng cách
nắm gi lưng dự tr tin mặt ln hơn. Điu này có thể đưc giải thích bởi sự hiện diện của chất
lưng thu nhập thấp hơn, sự bất cân xứng thông tin mạnh hơn và huy động ngun tài chính bên
ngoài sẽ trở nên tn kém hơn ngun tài chính có sẵn (Sun và cộng sự, 2012). Điu này sẽ khiến
các nhà quản lý ưu tiên sử dụng các quỹ nội bộ và tạo ra một vng đệm tin mặt để ngăn chặn bất
kỳ sự thiếu hụt ngun tài tr nào cho các khoản đầu tư trong tương lai.
Ở Việt Nam, hiện có rất ít nghiên cứu v mi quan hệ gia chất lưng thu nhập và dự tr tin
mặt của các doanh nghiệp. Trong bi cảnh nn kinh tế đang chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid -
19, có nhiu doanh nghiệp tăng mức dự tr tin mặt tại quỹ. Việc gia tăng nắm gi tin mặt trong
trường hp này của các doanh nghiệp có thể giúp họ gia tăng đưc sự linh hoạt v khả năng thanh
toán cho các ngha vụ tài chính đi vi các chủ n, đáp ứng đưc các nhu cầu thanh toán cho bên
cung ứng nguyên vật liệu; đng thời cũng đảm bảo đưc cho các khoản chi phí v sản xuất và hoạt
động để có thể duy trì hoạt động của doanh nghiệp và tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp có thể
nắm bắt và thực hiện các dự án đầu tư tim năng vi mức sinh lời cao, góp phần làm tăng chất
lưng thu nhập cho công ty. Do đó, nhóm tác giả thực hiện bài nghiên cứu vi mong mun nhận
thấy đưc tầm quan trọng của chất lưng thu nhập cũng như các nhân t tài chính ảnh hưởng đến
việc nắm gi tin mặt.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Tổng quan nghiên cứu
Mi quan hệ gia việc nắm gi tin mặt và chất lưng thu nhập là rất thú vị và quan trọng từ
quan điểm của cả chất lưng tin mặt và thu nhập. Dự tr tin mặt mà các công ty Mỹ nắm gi đã
tăng lên đáng kể trong hai thập kỷ qua. Theo Bates và cộng sự (2006), tỷ lệ tin mặt trên tài sản
trung bình của 13.237 công ty công nghiệp Hoa Kỳ đã tăng từ 5,5% lên 14,73% trong giai đoạn
1980 và 2004. Lưng tin mặt giảm này có khả năng làm trầm trọng thêm vấn đ của cơ quan quản
lý vì lưng tin mặt dư thừa có thể chuyển hưng dễ dàng hơn nhiu vào các li ích tư nhân và
các dự án của các nhà quản lý công ty so vi các tài sản khác (Myers và Rajan, 1998; Lie, 2000).
Vì các nhà đầu tư chiết khấu giá trị nắm gi tin mặt của doanh nghiệp dựa trên kỳ vọng của họ
v cách sử dụng tin mặt, chi phí đại diện tăng có thể gây hại cho giá trị doanh nghiệp. Vấn đ đại
diện càng trở nên trầm trọng, và sự xói mòn giá trị doanh nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn khi có
sự bất cân xứng thông tin. Yếu t quyết định chính của sự bất cân xứng thông tin là tính chính xác
của báo cáo tài chính của một công ty.
Các nghiên cứu trưc đây, chẳng hạn Leuz và Verrecchia (2000), Bushman và Smith (2001)
và Verrecchia (2001) sử dụng mô hình hi quy Fem cho thấy chất lưng báo cáo tài chính cao hơn

342
@ Trường Đại học Đà Lạt
sẽ giảm thiểu sự bất cân xứng v thông tin gây ra các mâu thuẫn kinh tế như rủi ro đạo đức và lựa
chọn bất li. Các bng chứng v kế toán và tài chính thường sử dụng chất lưng thu nhập làm đại
diện cho tính chính xác của báo cáo tài chính của một công ty (Francis và cộng sự, 2005; Ball và
Shivakumar, 2008). Chất lưng của các khoản thu nhập đưc báo cáo tạo ra sự tin tưởng gia các
bên liên quan và cải thiện các hậu quả của sự bất cân xứng thông tin (Francis và cộng sự, 2004,
2005). Mặt khác, chất lưng thu nhập kém tạo ra sự không chắc chắn v sức khỏe tài chính của
công ty và làm phát sinh nghi ngờ rng thu nhập có thể đưc quản lý.
Bất cân xứng v cơ bản làm tăng đáng kể chi phí quản lý của việc nắm gi s dư tin mặt ln,
mặt khác, các nghiên cứu còn cung cấp nhiu bng chứng cho thấy chính sự bất cân xứng thông
tin là nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng tỷ lệ nắm gi tin mặt của công ty (Ferreira và Vilela,
2004; Ozkan, 2004; Garcia-Teruel và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu cho rng có mi quan hệ
trực tiếp gia mức độ bất cân xứng của thông tin và mức độ nắm gi tin mặt để một công ty
không rõ ràng v thông tin sẽ gi s dư tin mặt cao hơn so vi các công ty minh bạch hơn v mặt
thông tin. Lý do cho điu này là đơn giản. Các công ty có mức độ bất cân xứng thông tin cao phải
chịu chi phí tài tr bên ngoài cao hơn cho d n, do nhiu giao ưc khó khăn hơn, hay vn chủ sở
hu, do tỷ lệ chiết khấu chi phí đại lý áp dụng cho các dòng tin của công ty. Các công ty như vậy
phải phụ thuộc nhiu hơn vào các ngun vn nội bộ và nhất thiết phải có s dư tin mặt cao hơn
cho các nhu cầu hoạt động và đầu tư của họ.
Nếu như các nghiên cứu cho thấy, có mi quan hệ trực tiếp gia mức độ bất cân xứng của
thông tin và mức độ nắm gi tin mặt, và nếu chất lưng thu nhập là yếu t quyết định sự bất cân
xứng thông tin, thì cần phải có mi quan hệ nghịch gia chất lưng thu nhập và mức độ nắm gi
tin mặt của một công ty. Các công ty có chất lưng thu nhập tt sẽ có s dư tin mặt thấp hơn so
vi các công ty có chất lưng thu nhập kém. Mi quan hệ như vậy đưc xác nhận bng nghiên cứu
Garcia-Teruel và cộng sự (2009) cho một mẫu của các công ty Tây Ban Nha. Trong nghiên cứu
này, nghiên cứu xác nhận mi quan hệ như vậy đi vi một mẫu ln các công ty Hoa Kỳ. Việc
xác thực một mi quan hệ đưc phát hiện là tn tại ở Tây Ban Nha trong bi cảnh Hoa Kỳ sẽ
không đưc quan tâm nhiu nếu sự bất cân xứng thông tin - động lực đng sau mi quan hệ này -
cũng tương tự ở Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đó không phải là trường hp trong nghiên
cứu Garcia-Teruel và cộng sự (2009) ch ra rng Tây Ban Nha là một quc gia lục địa có đặc điểm
là bảo vệ nhà đầu tư yếu, thị trường vn kém phát triển và mức độ tập trung sở hu cao. Do đó,
các công ty Tây Ban Nha rất ph hp để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của các tác giả vì nhng
công ty này có khả năng trình bày chất lưng kế toán thấp hơn. Đng thời, Garcia-Teruel và cộng
sự (2009) nêu rõ rng các quc gia Hoa Kỳ và Anglo-Saxon đưc đặc trưng bởi chất lưng thu
nhập cao hơn, bảo vệ nhà đầu tư mạnh mẽ, thị trường vn ln và quyn sở hu phân tán dẫn đến
mức độ quản lý thu nhập thấp hơn. Hệ thng kế toán Hoa Kỳ có lẽ có yêu cầu công b thông tin
nghiêm ngặt nhất trong s các nưc phát triển trên thế gii. Sự bất cân xứng v thông tin tác động
xấu đến chi phí vn của công ty (Easley và O’Hara, 2004). Tuy nhiên, tác động này không đng
đu ở tất cả các công ty mà thay đổi ty theo mức độ bất cân xứng thông tin của một công ty và
hàm ý theo chất lưng thu nhập của công ty - yếu t quyết định chính của sự bất cân xứng thông
tin. Vì giá vn là tỷ lệ chiết khấu đưc sử dụng để định giá tài sản, nên sự gia tăng chi phí vn sẽ
làm giảm giá trị tin mặt nắm gi.
Nghiên cứu (Dittmar, Mahrt-Smith, & Servaes, 2003; Ozkan, 2004) đã ch ra rng việc nắm
gi tin mặt có liên quan tích cực đến mức độ bất cân xứng của thông tin. Đổi lại, sự bất cân xứng
thông tin đã đưc công nhận là một yếu t quan trọng quyết định đến chi phí vn có thể đưc giảm
xung nhờ chất lưng thu nhập cao hơn (Bhattacharya và cộng sự, 2003 và Francis, LaFond,

343
@ Trường Đại học Đà Lạt
Olsson, & Schipper, 2005), vi điu này, Easley và O'Hara (2004) đưa ra một mô hình trong đó
chất lưng của thu nhập là một yếu t rủi ro không thể đa dạng hóa, do đó ảnh hưởng đến chi phí
vn của công ty. Vì vậy, thu nhập bao gm đng thời các thành phần tích lũy và tin mặt, như
Dechow và cộng sự (2010) quan sát, khi thu nhập chủ yếu đưc tạo thành từ các khoản tích lũy,
chúng sẽ ít bn vng hơn và do đó ít thông tin hơn (tức là “chất lưng thấp hơn”) so vi khi chúng
đưc bao gm chủ yếu từ các dòng tin. Do đó, để đi trọng vi mức chất lưng thu nhập thấp,
các công ty có thể tích lũy dự tr tin mặt đáng kể để tránh sự phụ thuộc từ thị trường vn để huy
động vn và /hoặc truyn đạt hình ảnh v sự ổn định cao hơn và rủi ro thấp hơn so vi thu nhập
chất lưng thấp.
Chung và cộng sự (2015) tìm bng chứng ủng hộ giả thuyết chi phí giám sát mi quan hệ gia
việc nắm gi tin mặt và sự bất cân xứng thông tin. Theo giả thuyết như vậy, sự giám sát tích cực
của các cổ đông sẽ hạn chế quyn tiếp cận của các nhà quản lý đi vi dòng tin tự do để tránh
các hoạt động giảm giá trị (Jensen, 1986) và điu này sẽ dễ xảy ra hơn khi đi mặt vi môi trường
có mức độ bất cân xứng thông tin cao. Do đó, có một mi quan hệ tiêu cực gia việc nắm gi tin
mặt và mức độ bất cân xứng của thông tin mà các tác giả ghi lại trong phân tích của họ. Tuy nhiên,
Chung và cộng sự (2015) thừa nhận khả năng của một giả thuyết cạnh tranh trong đó sự bất cân
xứng thông tin và việc nắm gi tin mặt sẽ có quan hệ tích cực vi nhau theo các dòng thảo luận
của Myers và Majluf (1984), đưc gọi là “giả thuyết cơ hội đầu tư của việc nắm gi tin mặt”.
Sử dụng một mẫu các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tây Ban Nha và một mô hình Dechow và
Dichev (2002), García-Teruel và cộng sự (2009) tìm thấy bng chứng ph hp vi chất lưng kế
toán cao hơn làm giảm mức độ tài sản lưu động. Sun và cộng sự (2012) đưa ra phân tích v mi
quan hệ gia chất lưng thu nhập và việc nắm gi tin mặt của các công ty Hoa Kỳ trong giai đoạn
1980–2005 và tìm ra bng chứng v mi liên quan tiêu cực ph hp vi các lập luận ở trên.
Ngoài ra, có thể hình dung rng, trong trường hp không có cơ chế giám sát đầy đủ, chất
lưng thu nhập có thể thấp do các vấn đ liên quan gia người quản lý và cổ đông và trong trường
hp đó, các nhà quản lý cũng sẽ tham gia vào việc tích lũy tin mặt để cách ly khỏi sự giám sát từ
bên ngoài của thị trường vn (Easterbrook, 1984) hoặc vì các li ích cá nhân khác. Trong trường
hp đó, người ta sẽ mong đi mi quan hệ tiêu cực gia việc nắm gi tin mặt và chất lưng thu
nhập. Koo, Ramalingegowda và Yu (2017) cho thấy rng báo cáo chất lưng cao hơn có liên quan
đến việc chi trả cổ tức cao hơn, do đó cũng cho thấy khả năng chất lưng thu nhập có thể có tác
động tiêu cực đến việc nắm gi tin mặt.
Cui cng, Greiner (2017) ch ra rng quản lý hoạt động thực tế tăng thu nhập tích cực có liên
quan đến việc nắm gi tin mặt ln hơn, một lần na cho thấy sự tn tại của mi quan hệ gia chất
lưng thu nhập và việc nắm gi tin mặt. Các tác giả cũng cho rng mi liên hệ như vậy có thể
liên quan đến giả thuyết v dòng tin tự do của Jensen (1986) vì mi quan hệ đưc quan sát là
mạnh hơn đi vi các công ty đưc quản lý yếu kém.
Verrecchia (2001) cho thấy chất lưng báo cáo tài chính cao hơn sẽ giảm thiểu bất cân xứng
thông tin. Các bng chứng thực nghiệm sau đó cho thấy bất cân xứng thông tin đã làm gia tăng
đáng kể tỷ lệ tin mặt của công ty (Ozkan, 2004; Ferreira và Vilela, 2004).
Nhiu tác giả đã sử dụng chất lưng thu nhập như là đại diện của mức độ bất cân xứng thông
tin và xem xét ảnh hưởng của nó đến hành vi nắm gi tin mặt của công ty. García-Teruel và cộng
sự (2009) từ mẫu nghiên cứu của các công ty Tây Ban Nha tìm thấy bng chứng cho thấy chất
lưng thu nhập kế toán cao hơn làm giảm mức độ tài sản ngắn hạn. Sun và cộng sự (2012) trên

344
@ Trường Đại học Đà Lạt
mẫu các công ty niêm yết ở Mỹ giai đoạn 1980-2005 đã tìm ra bng chứng v mi quan hệ tiêu
cực gia chất lưng thu nhập và tin mặt của công ty. Shin và cộng sự (2018) khi nghiên cứu trên
mẫu các công ty Hàn Quc trong giai đoạn 2000-2014 đã cung cấp bng chứng v ảnh hưởng tiêu
cực của chất lưng thu nhập đến tin mặt vưt trội của công ty. Gần đây, Farinha và cộng sự
(2018) đã xác nhận các kết quả nghiên cứu nêu trên từ mẫu các công ty niêm yết ở Vương quc
Anh trong giai đoạn 1988-2015.
Tại Việt Nam chưa có nhiu công trình nghiên cứu v mi quan hệ gia chất lưng li nhuận
và lưng tin mặt nắm gi của doanh nghiệp, đây chính là lý do thúc đẩy nhóm tác giả lựa chọn
chủ đ nghiên cứu này.
2.2. Lý thuyết nền tảng và giả thuyết nghiên cứu
Lý thuyết đánh đổi
Miller và Modigliani (1958) đã đưa ra lý thuyết đánh đổi, lý thuyết này đưc Miller (1966),
Kraus và Litzenbergery (1973) và Kim (1978) mở rộng thêm. Họ tin rng doanh nghiệp lựa chọn
hình thức nắm gi tin mặt ti ưu của họ bng cách cân nhắc gia chi phí cận biên và li thế của
việc gi tin mặt. Thực tế là các công ty gi tin mặt làm giảm khả năng gặp rắc ri tài chính, do đó
đây đưc coi là một li ích nhỏ của việc gi tin mặt. Trong khi đó, chi phí cơ hội của việc gi lại
vn trong khi công ty mang lại li nhuận cao từ các khoản đầu tư thay thế đưc tính vào chi phí cận
biên. Theo ý kiến này, sự cần thiết phải gi tin mặt bị ảnh hưởng tiêu cực bởi quy mô kinh doanh
do tính kinh tế theo quy mô. Trong khi đó, chi phí cơ hội của việc gi vn trong khi công ty mang
lại li nhuận cao từ các khoản đầu tư thay thế đưc tính vào chi phí cận biên. Quy mô doanh nghiệp,
theo giả thuyết này, có tác động tiêu cực đến yêu cầu gi tin mặt do tính kinh tế theo quy mô. Do
mức độ rủi ro cao hơn trong các tổ chức này, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường đưc cho là
có tim năng tăng trưởng mạnh hơn, và do đó việc lưu tr tin mặt ở nhng địa điểm này cũng cao
hơn để tránh chi phí khi huy động tin từ bên ngoài (Ferreira và Vilela, 2004). Faulkender (2002) và
Kim, Mauer & Sherman (1998) cho thị trường Mỹ, Bovor & Waton (2005) cho Tây Ban Nha, và
Pinkowitz & Williamson cho thị trường Anh đu chứng thực kết luận này (2001).
Đòn bẩy có ảnh hưởng đến việc nắm gi tin mặt, mặc d bản chất chính xác của ảnh hưởng
này vẫn chưa đưc biết. Khi mức sử dụng n của một công ty cao, điu đó có ngha là nó có thể
dễ dàng tiếp cận thị trường cho vay (Ferreira và Vilela, 2004) và do đó không cần phải có nhiu
tin mặt. Hơn na, có thể lập luận rng chi phí gi lại tin mặt cao hơn đi vi các công ty sử dụng
đòn bẩy cao (Ozkan, 2004). Mặt khác, các công ty có đòn bẩy tài chính đáng kể đưc cho là có
nhiu rủi ro hơn v mặt tài chính. Do đó, doanh nghiệp phải gi lại nhiu tin mặt hơn để giảm
thiểu rủi ro, cho thấy đòn bẩy và nắm gi tin mặt có mi liên hệ tích cực.
Nghiên cứu dự đoán mi liên hệ tiêu cực gia dòng tin và việc nắm gi tin mặt vì dòng tin
là một ngun thanh khoản sẵn có (Kim và cộng sự, 1998). Biến động dòng tin: Các công ty có dòng
tin biến động nhiu hơn có nhiu khả năng bị thiếu tin do dòng tin giảm không lường trưc đưc.
Kết quả là, mi liên hệ tích cực gia sự biến động của dòng tin và việc nắm gi tin mặt đưc dự
đoán (Ozkan, 2004 và Bigelli & Sanchez-Vidal, 2010). Để tăng cơ hội sng sót trong thời kỳ khủng
hoảng, nên gi một lưng tin mặt ln hơn để làm hàng rào bảo vệ cho một công ty có dòng tin cực
kỳ thay đổi. Một s nghiên cứu đã tìm ra mi liên hệ gia sự biến động của dòng tin và việc nắm
gi tin mặt (Bigelli & Sanchez-Vidal, 2010; Ferreira và Vilela, 2004; và Opler và cộng sự, 1999).
Tính thanh khoản: Sự hiện diện của các tài sản lưu động ngoài tin mặt và chứng khoán thị
trường cũng có thể ảnh hưởng đến việc nắm gi tin mặt ti ưu của một doanh nghiệp, vì chúng

