ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
PGS.TS. Nguyễn Duy Phương
BÀI GIẢNG
CẢI CÁCH HÀNHCHÍNH
1
Huế, năm 2023
Chương1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Cải cách hành chính là một trong những nội dung cơ bản của hành chính
học nói chung và quản lý nhà nước nói riêng. Cải cách hành chính là một vấn đề
được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm nhằm làm đòn bẩy để nâng cao
hiệu quả của nhà nước trong việc phát triển kinh tế, củng cố tăng cường tiềm lực
về mọi mặt cho đất nước.
Ở Việt Nam, song song với công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải
cách hành chính cũng được Đảng Cộng sản và nhà nước quan tâm. Ngay trong
văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định rõ: "Để thiết
lập cơ chế quản lý mới, cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy
của các cơ quan nhà nước". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII (tháng 1/1995) cũng đã khẳng định lại một lần nữa
tầm quan trọng của cải cách hành chính: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền
hành chính”.
Như vậy, cải cách hành chính là vấn đề vừa mang ý nghĩa lý luận lại vừa
mang ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng.
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm cải cách hành chính
"Cải" là từ Hán-Việt có nghĩa là thay đổi, cách là phương pháp, hình thức
hành động. Cải cách là thay đổi phương pháp, hành động của một công việc,
hoặc một hoạt động cụ thể để đạt mục tiêu tốt hơn.
Theo các Từ điển Hán - Việt, "Cải" là từ Hán-Việt có nghĩa là thay đổi,
nhưng "cách" không phải là phương pháp, hình thức hành động. "cách" là đổi,
1 https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch
2
"cách" còn là bỏ đi.1
Cải cách hành chính là một khái niệm của hành chính học. Do chế độ
chính trị khác nhau, do trình độ và giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của các
nước khác nhau, và do sự khác biệt trong quan điểm và góc độ nghiên cứu mà
giữa các nước khác nhau có những định nghĩa khác nhau về cải cách hành chính.
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi
cơ bản lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các
hoạt động có ý thức của bộ máy Nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ
phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn
lực để tạo ra liệu lực và hiệu quả quản lý các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hóa)
phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực.
Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ
định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ
máy Nhà nước: lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức công tác cán bộ, tài chính,
chỉ huy, phối hợp, kiểm tra, thông tin, và đánh giá.
Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính là một qúa trình thay đổi nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp
hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực
quản lý của bộ máy hành chính Nhà nước.
Theo Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt2: “Cải cách hành chính là
một chủ trương, một công cụ đổi mới diễn ra ở hầu hết các quốc gia, mà trọng
tâm là cải cách bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ,
hiện đại, có đủ năng lực nhằm tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và pháp
luật của nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước, vv...”
Theo tinh thần chung trên thế giới thì cải cách hành chính là những cố
gắng có chủ định nhằm đưa những thay đổi cơ bản vào hệ thống hành chính Nhà
2 Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2009
3
nước thông qua các cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất
một trong bốn yếu tố cấu thành của nền hành chính công (a) thể chế (b) cơ cấu
(c) nhân sự,và (d) tiến trình.
Theo các tài liệu, các văn bản pháp luật và nghị quyết của Đảng3 có thể
rút ra kết luận: Cải cách hành chính ở nước ta là trọng tâm của công cuộc tiếp
tục xây dựng và kiện toàn nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao
gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện: Thể chế của nền hành chính;
Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp; Đội ngũ
công chức hành chính; Cải cách tài chính công và hiện đại hóa công sở để nâng
cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính công phục vụ
dân.
1.2. Vai trò và mục đích của cải cách hành chính nhà nước
Hoạt động hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm
trật tự của xã hội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước, qua
đó hiện thực hóa mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của
giai cấp cầm quyền trong xã hội. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động
của bộ máy hành chính nhà nước là yêu cầu và mong muốn của mọi quốc gia.
Cải cách hành chính nhà nước, xét cho cùng, không có mục đích tự thân mà
nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước
trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội, trước hết là quản lý, định
hướng và điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì trật tự của xã hội theo
mong muốn của Nhà nước. Công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi
xướng và lãnh đạo ở nước ta gần 30 năm qua đã tạo nên những thay đổi vượt
bậc trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, quan liêu, bao cấp đã từng bước vững chắc chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện,
duy trì được định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa. Những thành công kể trên
3 Xem Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 (Khoá VII) tháng 1 năm 1995
4
có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân rất quan trọng là trong toàn
bộ tiến trình đổi mới đất nước từ năm 1986 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta
luôn chú trọng đến cải cách nền hành chính nhà nước. Cải cách hành chính nhà
nước đã trở thành một trong những đòi hỏi khách quan của sự phát triển và đổi
mới. Khẳng định tầm quan trọng của cải cách hành chính nhà nước với tư cách
là một bộ phận không tách rời và quyết định thành công của đổi mới, Đảng và
Nhà nước ta đã xác định: Cải cách hành chính là nội dung trọng tâm của công
cuộc đổi mới và cải cách nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cải cách hành chính ở nước ta hiện nay diễn ra trong khuôn khổ của cải cách
nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là tiền đề
quan trọng để thực hiện thành công quá trình đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước
ta hiện nay là: - Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang
kinh tế thị trường định hướng XHCN Cải cách hành chính hướng tới việc nâng
cao khả năng hoạt động của bộ máy hành chính để giúp cho quá trình quản lý xã
hội của Nhà nước được tốt hơn, trước hết là quản lý nền kinh tế, định hướng cho
nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước. Mỗi nền kinh tế cần
phải được quản lý theo cách thức riêng. Quản lý nhà nước đối với kinh tế là để
cho nền kinh tế phát triển ổn định, theo đúng định hướng, khắc phục và giảm
thiểu những nhược điểm của cơ chế thị trường. Sự phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong thời kỳ mới đòi hỏi nhà nước, mà trực tiếp là nền hành chính phải
hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực pháp lý theo cơ chế mới để đảm bảo cho
đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc
biệt phải điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính trong việc
5
thực hiện chức năng quản lí nhà nước.
Những bất cập còn tồn tại của nền hành chính nền hành chính nhà nước ở
nước ta trong quá trình đổi mới vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực, chưa
đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng nhu cầu của nhân dân
trong điều kiện mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao, thể hiện trên các mặt:
+ Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ và
phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành
mạch;
+ Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống
nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự, kỷ
cương chưa nghiêm;
+ Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; phương thức quản lý hành
chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt; chưa có những
cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công;
+ Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần
trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm việc
chậm đổi mới; tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân còn diễn ra trong
một bộ phận cán bộ, công chức; + Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở
chưa thực sự gắn bó với dân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên
địa bàn, lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp.
+ Chế độ quản lí tài chính không phù hợp với cơ chế thị trường. Việc sử
dụng và quản lí nguồn tài chính công chưa chặt chẽ, lãng phí và kém hiệu quả.
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế toàn cầu hoá là một quá trình
khách quan có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các quốc gia. Quá trình này khiến
cho các quốc gia trên toàn thế giới trở nên gần nhau hơn, quan hệ với nhau chặt
chẽ hơn và sự thẩm thấu, phụ thuộc vào nhau cũng nhiều hơn. Các quốc gia
6
đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới
ở tầm quốc tế. Hội nhập quốc tế là một đòi hỏi đối với các quốc gia để có thể tận
dụng được cơ hội, đồng thời hạn chế những thách thức trong toàn cầu hoá để có
thể phát triển. Bộ máy hành chính của các quốc gia phải vận động nhanh nhạy
hơn để tăng cường khả năng cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập và
phân công lao động mang tính toàn cầu. Điều đó đòi hỏi thể chế hành chính và
đội ngũ cán bộ phải thích ứng với pháp luật và thông lệ quốc tế, đồng thời giữ
vững độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia.
Sự phát triển của khoa học - Công nghệ Những ảnh hưởng của cách mạng
kỹ thuật – Công nghệ có ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống xã hôi, trong đó có
hoạt động quản lý. Những biến đổi này đặt ra trước nền hành chính truyền thống
những thách thức mới. Điều đó đòi hỏi phải cải cách nền hành chính, sắp xếp lại
bộ máy, đổi mới phương pháp quản lí nhân sự để theo kịp những tiến bộ chung
của thế giới.
Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với nhà nước ngày càng cao công cuộc
đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu, nâng cao mức sống và nhận thức của người
dân. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi của người dân đối với các hoạt động của nhà
nước ngày càng cao hơn. Nhân dân đòi hỏi và mong muốn được thực hiện quyền
làm chủ hợp pháp một cách đầy đủ, được yên ổn sinh sống, làm ăn trong môi
trường an ninh, trật tự và dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu, được đảm bảo
cung cấp các dịch vụ công một cách đầy đủ và có chất lượng. Điều đó đòi hỏi
nhà nước phải phát huy dân chủ, thu hút sự tham gia của người dân vào quản lí
nhà nước và phải công khai, minh bạch trong các hoạt động của mình.
III. QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cải cách hành chính để hướng tới xây dựng một nền hành chính hoạt động
có hiệu lực và hiệu quả là mong muốn của bất kỳ nhà nước nào, do đó, cải cách
hành chính xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Kể
từ khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, có thể chia cải cách
7
hành chính nhà nước thành 4 giai đoạn chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1986-1995: Đây là giai đoạn xây dựng nền tảng cho cải cách
hành chính. Hoạt động cải cách hành chính mặc dù vẫn được quan tâm nhưng
vẫn nằm trong khuôn khổ của những cải cách nhà nước nói chung để phục vụ
cho quá trình bắt đầu chuyển dịch nền kinh tế.
- Giai đoạn 1995-2001: Cùng với Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa VII)
của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1995), cải cách hành chính được xác định là
trọng tâm của hoạt động cải cách nhà nước. Vai trò của cải cách hành chính đã
được khẳng định và những hoạt động cải cách hành chính ngày càng đi vào
chiều sâu, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, trở thành động lực thúc đẩy
tiến trình đổi mới.
- Giai đoạn 2001-2010: Để cụ thể hoá định hướng CCHC của Đảng và Nhà
nước, ngày 17 tháng 9 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
136/2001/QĐ-TTg ban hành Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010
xác lập khung pháp lý cơ bản cho các hoạt động CCHC của mọi cấp, mọi ngành
trong giai đoạn 2001-2010. Bên cạnh mục tiêu chung là: “Xây dựng một nền
hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu
cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Chương trình
tổng thể cũng đã xác định 9 mục tiêu cụ thể, 5 nội dung cải cách hành chính (cải
cách thể chế hành chính nhà nước, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước,
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền
hành chính), 7 chương trình hành động và 5 giải pháp thực hiện, đồng thời xác
định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương các cấp trong tổ chức triển
khai thực hiện. Việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
8
nước giai đoạn 2001-2010 đã mang lại những kết quả to lớn, nâng cao chất
lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước trên cả 5 nội dung. Tuy nhiên,
bên cạnh những thành công đạt được, nền hành chính vẫn còn bộc lộ nhiều
nhược điểm, chưa đáp ứng các yêu cầu của tiến trình đổi mới đang đi vào chiều
sâu. Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong giai đoạn sắp tới vẫn là
yêu cầu cấp thiết.
- Giai đoạn từ 2011 đến nay: trên cơ sở đánh giá khách quan và nghiêm túc
những thành tựu đạt được và những bất cập còn tồn tại trong quá trình thực hiện
cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010, Chính phủ đã ban hành Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, xác định khung
pháp lý cho chiến lược cải cách hành chính trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- Mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Ngay từ
những năm đầu của đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cải cách tổ chức
và hoạt động của nhà nước là nhằm xây dựng một nhà nước Xã hội chủ nghĩa
vững mạnh phục vụ cho công cuộc đổi mới. Với định hướng đó, cải cách hành
chính nhà nước là để tăng cường chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính
nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện đổi mới. Tiếp tục thực hiện các mục
tiêu chung đặt ra đối với công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, trong giai
đoạn 2011-2020, ba nhiệm vụ trọng tâmcủa cải cách hành chính được Chính phủ
xác định là cải cách thể chế hành chính nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức hành chính và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Những
mục tiêu cụ thể được xác định trong giai đoạn 2011-2020 bao gồm: - Xây dựng,
hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực cho phát triểnđất nước. - Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông
thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí
của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục
9
hành chính.
- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ
sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân
chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan
hành chính nhà nước.
- Bảo đảm thực hiện trên thực tếquyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền
con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực
và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.
IV. MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CÁC CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH KHÁC
Cải cách hành chính không có mục đích tự thân là nhằm mục đích phục
vụ, thúc đẩy sự phát triển ổn định và năng động của toàn xã hội, chủ yếu là triển
khai thực hiện hai mục tiêu cơ bản : Phát triển nền kinh tế quốc dân theo định
hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
4.1. Cải cách hành chính và cải cách kinh tế
Như trên đã trình bày, hành chính và kinh tế là hai lĩnh vực hoạt động có
mối quan hệ khăng khít và phụ thuộc lẫn nhau. Trong lĩnh vực kinh tế, nền hành
chính quốc gia thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, là một yếu tố
cơ bản quyết định sự tăng trưởng lâu bền và ổn định nền kinh tế quốc dân.
Thông qua nền hành chính Nhà nước. Nhà nước thực hiện các chức năng: Định
hướng phát triển kinh tế: Tạo môi trường phát triển kinh tế trực tiếp đầu tư vào
những ngành then chốt: khuyến khích, giúp đỡ các thành phần kinh tế thông qua
các chính sách tạo đòn bẩy thích hợp và môi trường thuận lợi: Điều tiết kinh tế,
phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân: Khắc phục và ngăn ngừa những
yếu tố tiêu cực của thị trường: Mở rộng quan hệ quốc tế. Mặt khác, một trong
những môi trường tồn tại của nền hành chính Nhà nước là môi trường kinh tế.
Sự thay đổi nhanh chóng môi trường kinh tế hết sức sống động có ảnh hưởng
10
mạnh mẻ tới tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính Nhà nước vì vậy cần
phải có những cải cách hành chính thích hợp phục vụ cho sự phát triển kinh tế
của đất nước. Như vậy, nền hành chính của Nhà nước có vai trò to lớn đối với
kinh tế, nó tạo nên một môi trường tổng quát cho nền kinh tế phát triển. Tùy cơ
cấu và cơ chế, nền hành chiïnh Nhà nước có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực
tới sự phát triển của nền kinh tế. Nếu hành chính Nhà nước có thể tạo ra môi
trường chính trị và pháp lý thuận lợi mở đường, khuyến khích kinh tế phát triển
hoặc có thể gây trở ngại, kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Cải cách hành chính, theo nghĩa rộng thực chất là cải cách bộ máy hành
chính Nhà nước chức năng và phương thức quản lý của nền hành chính, chế độ
công vụ, sự phân chia quyền lực hành pháp giữa Trung ương và địa phương,
những nguyên tắc hành chính trọng yếu, và phương thức hoạt động của nền hành
chính phục vụ tốt nhất đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Cải cách kinh tế theo một ý nghĩa nhất định nào đó chính là cải cách thể
chế kinh tế. Đó là những thay đổi có chủ ý diễn ra trong cơ cấu của chế độ sở
hữu, các chính sách kinh tế, bộ máy điều tiết kinh tế, các phương thức phân chia
lợi ích kinh tế và hệ thống tổ chức kinh tế. Cải cách thể chế kinh tế thực chất
chính là cải cách thể chế quản lý và phương thức quản lý kinh tế của Chính Phủ.
Đây cũng chính là một trong những nội dung của cải cách hành chính.
Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,
xong muốn tiếp tục đổi mới kinh tế thì phải tiến hành song song với cải cách
hành chính. Như vậy, cải cách hành chính và cải cách kinh tế gắn liền với nhau
và đều thống nhất với nhau trên lĩnh vực cải cách thể chế (gồm thể chế kinh tế
và thể chế của bản thân nền hành chính) nhằm tạo lập hệ thống thể chế ngày
càng phù hợp cho nền kinh tế phát triển. Đó là nhiệm vụ của Nhà nước mà trực
tiếp là của nền hành chính Nhà nước. Cải cách hành chính là khâu mấu chốt,
đảm bảo sự thành công của cải cách kinh tế . Nếu cải cách hành chính không
11
thành công, nền hành chính Nhà nước sẽ trở thành một trở lực đối với sự phát
triển kinh tế, thì cải cách hành chính không phát huy được đầy đủ, hiệu quả và
nền kinh tế không thể tăng trưởng lâu bền như mong muốn.
4.2. Cải cách hành chính với cải cách pháp luật và tư pháp
Cải cách hành chính trước hết là cải cách thể chế của nền hành chính có
mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau với cải cách pháp luật và tư pháp.
Những thay đổi trong cải cách hành chính cần phải được bảo đảm bằng hệ thống
pháp luật và nền tư pháp, và chỉ có cải cách pháp luật mới tạo ra cơ sở pháp lý
cho cải cách hành chính thành công. Khuôn khổ pháp luật cho cải cách hành
chính thành công phải đạt được những yêu cầu sau:
- Phải có nội dung phù hợp với thể chế kinh tế mới;
- Phải tạo ra được một chế độ công cụ, hình thành được các chế định về
nghĩa vụ hành chính: Trách nhiệm của cơ quan hành chính và công chức, viên
chức hành chính trước dân; và thiết lập một cơ chế kiểm soát của nhân dân đối
với cơ quan hành chính;
- Phải có một phương thức và cơ chế hoạt động, phân công và phối hợp
giữa ba cơ quan quyền lực Nhà nước : Lập pháp, hành pháp và tư pháp;
- Phải đảm bảo một hệ thống cấp bậc thẩm quyền hành chính hết sức rõ
ràng trên nguyên tắc tập trung thống nhất của nền hành chính Nhà nước, tập
trung vào việc phân định thẩm quyền trên các mặt chủ yếu như: Thẩm quyền lập
quy, thẩm quyền ngân sách; thẩm quyền về tổ chức và công chức; thẩm quyền ra
các quyết định hành chính...
Sự phân định một cách rõ ràng giữa thẩm quyền lập pháp và thẩm quyền
lập quy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quốc hội và Chính Phủ, giữa Chính
Phủ - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân các cấp thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa cải cách
hành chính với cải cách pháp luật và tư pháp.
Thực hiện việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa " của
dân do dân và vì dân" việc xét sử công minh những vi phạm pháp luật của bộ 12
máy thực thi quyền hành pháp, đảm bảo lòng tin của công dân đối với Nhà nước
và kiểm soát được hoạt động của bộ máy Nhà nước và đặc biệt là của nền hành
chính Nhà nước là một đòi hỏi tất yếu hết sức cấp bách. Vì vậy, việc hình thành
nên chế độ tài phán hành chính để xét sử các hành vi vi phạm hành chính của
các cơ quan hành chính Nhà nướcvà của các công chức theo nguyên tắc tài phán
và thẩm phán hành chính độc lập với bộ máy điều hành nền hành chính. Việc
thiết lập một chế độ trách nhiệm hành chính rõ ràng cho hệ thống các cơ quan tài
phán hành chính này hoạt động là một trong những nội dung quan trọng của cải
cách hành chính và thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa cải cách hành chính với
cải cách tư pháp.
Tóm lại, sự thành công của cải cách hành chính luôn luôn gắn liền với
những thành tựu trong cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị, cải cách pháp
luật và tư pháp.
4.3. Cải cách hành chính với đổi mới hệ thống chính trị
Trong hệ thống chính trị của bất kỳ môtü quốc gia nào thì Nhà nước với
bộ máy công quyền của mình cũng nằm ở vị trí trung tâm. Cải cách nền hành
chính Nhà nước là cải cách hệ thống tổ chức và quản lý của bộ máy Nhà nước,
trước hết là của bộ máy hành pháp, phục tùng và phục vụ những nhiệm vụ chính
trị chung và hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước
cũng là một trong những tiến trình trong đổi mới hệ thống chính trị của một
quốc gia. Cải cách thể chế hành chính cũng chính là thể chế hoạt động của Nhà
nước nói chung và trực tiếp của Chính phủ - một bộ phận cấu thành qua trọng
của thể chế chính trị. Mặt khác, đổi mới tổ chức và hoạt động của thể chế chính
trị liên quan đến toàn bộ hiệu trưởng chính trị, còn cải cách hành chính, mặc dầu
là thực thi những nhiệm vụ chính trị và mang tính chính trị, song chủ yếu mang
tính độc lập tương đối và ổn định hơn so với chính trị (ví dụ như cách tổ chức,
sắp xếp một bộ máy theo khoa học tổ chức; áp dụng những hình thức tổ chức và
13
phương pháp quản lý hiện đại...). Cải cách hành chính là một trong những bước
đi góp phần làm đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm đặt cải cách hành chính
chính trị trong toàn bộ công cuộc đổi mới hệ thống chính trị là rất cần thiết để
tiến hành mạnh dạn mà không chệch hướng công cuộc cải cách hành chính
nhằm xây dựng một nền hành chính Nhà nước mạnh và hoạt động có hiệu quả
14
phù hợp với mục tiêu và phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chương 2
CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH
Dưới sự phát triển không ngừng nghỉ của nền kinh tế xã hội như hiện nay và
nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của người dân đòi hỏi
phải có sự đổi mới toàn diện tất cả mọi mặt, trong đó phải kể đến yêu cầu phải
đổi mới nền hành chính của nước ta.
Chính từ những đòi hòi cấp thiết như vậy mà vấn đề cải cách hành chính
luôn được Đảng ta quan tâm nêu bật lên trong các kì Đại hội Đảng toàn quốc,trở
thành những quan điểm, đường lối quý báu giúp nhà nước ta có một định hướng
rõ ràng để tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành
chính nói riêng
I. KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm cải cách thể chế hành chính
Khái niệm “thể chế” thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến.
Theo cách hiểu thứ nhất, thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các
quy định không chính thức hay những nhận thức chung có tác động kìm hãm,
định hướng hoặc chi phối sự tương tác của các chủ thể chính trị với nhau trong
những lĩnh vực nhất định. Các thể chế được tạo ra và đảm bảo thực hiện bởi cả
nhà nước và các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức nghề nghiệp hoặc các
cơ quan kiểm định).
Các quy tắc chi phối sự tương tác giữa các cá nhân hay tổ chức có thể mang
tính chính thức hoặc không chính thức. Các quy tắc chính thức bao gồm hiến
pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật, vv… Trong khi đó
các quy tắc không chính thức có vai trò mở rộng, chi tiết hóa hoặc chỉnh sửa các
15
quy tắc chính thức và điều chỉnh hành vi của các chủ thể thông qua các chuẩn
tắc xã hội (truyền thống, tập quán, những điều cấm kỵ, vv…) hay các quy tắc
ửng xử nội bộ. Vai trò của các thể chế thể hiện ở chỗ chúng tạo nên một khuôn
khổ mà ở đó hành động của các chủ thể trở nên dễ đoán trước hơn, cho phép các
chủ thể thiết lập các kỳ vọng và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình tương tác
với nhau.
Theo cách hiểu thứ hai, thể chế là một cơ quan, tổ chức công với các cơ cấu
và chức năng được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnh vực
hoạt động nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư. Đối với môt quốc gia,
các thể chế chính trị bao gồm chính phủ, quốc hội và các cơ quan tư pháp. Mối
quan hệ giữa các thể chế này được quy định bởi Hiến pháp.
Cũng theo cách hiểu này, trong quan hệ quốc tế, các thể chế quốc tế chính là
các tổ chức quốc tế liên chính phủ được thiết lập nhằm quản lý và điều phối sự
tương tác qua lại giữa các quốc gia trong những lĩnh vực vấn đề nhất định. Kể từ
sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, số lượng các thể chế quốc tế đã gia tăng
mạnh mẽ. Một số thể chế quốc tế tiêu biểu có thể kể đến bao gồm Liên Hiệp
Quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng Thế
giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Liên minh Châu Âu (EU), vv…
Theo quan niệm của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF): Thể chế có thể được
hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị
cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là
ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc,
những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ4
Tác giả Phan Trường Giang (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra một
Định nghĩa: “Thể chế bao hàm tổ chức với hệ thống các quy tắc, quy chế được
4 Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009, 2010
16
sử dụng để điều chỉnh sự vận hành của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ
chức. Theo cách định nghĩa này, thể chế được hiểu theo nghĩa rộng cho mọi tổ
chức, đó là cách định nghĩa rộng nhất của từ “thể chế”.5
Thể chế bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước với hệ thống quy định do
Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà
nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước
với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập kỷ cương xã hội.
– Thể chế Nhà nước là toàn bộ các văn kiện pháp luật: Hiến pháp, luật, Bộ
luật, văn bản dưới luật để tạo thành khuôn khổ pháp luật để Bộ máy nhà nước
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với toàn xã hội, để cá nhân, tổ chức
sống và làm việc theo pháp luật.
Thể chế hành chính nhà nước là các quy định chung do Nhà nước xác lập
trong Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp quy tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và
hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước để thực hiện quản lý xã hội.6
Thể chế hành chính Nhà nước là một hệ thống gồm Luật, các văn bản
pháp quy dưới luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước,
một mặt là thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội cũng như cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt
khác là các quy định các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối
quan hệ giữa các cơ quan và nội bộ bên trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các yếu tố cấu thành hành chính nhà
nướcđể hành chính nhà nước hoạt động quản lý Nhà nước một cách hiệu quả,
5 https://www1.napa.vn/blog/phan-biet-the-che-nha-nuoc-the-che-tu-va-the-che-hanh-chinh.htm
6 https://nhaquanlytuonglai.wordpress.com/2013/06/11/khai-niem-the-che-hanh-chinh-nha-nuoc/
7 www1.napa.vn/blog/phan-biet-the-che-nha-nuoc-the-che-tu-va-the-che-hanh-chinh.htm
17
đạt được mục tiêu của quốc gia.7
Ở Việt Nam hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nào, kể
cả các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước chính thức định nghĩa khái
niệm cải cách thể chế hành chính.
Theo xem xét nội dung của CCHC thì cải cách thể chế hành chính có thể được
hiểu: (i) là cải cách quy trình xây dựng và thông qua các VBQPPL liên quan đến
hoạt động quản lý hành chính, nhằm làm rõ trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì
soạn thảo, cơ quan phối hợp và lấy ý kiến của người dân; (ii) là biểu hiện sự kết
hợp giữa CCHC và cải cách lập pháp nhằm hoàn thiện các chế định pháp luật
liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý hành chính phát sinh trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội; (iii) là việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh
tế, tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính, xây dựng và hoàn thiện các
chế định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật hành chính giữa các cơ
quan nhà nước với công dân, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ
chức, doanh nghiệp và giữa các cơ quan, tổ chức với nhau.
1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách thể chế hành chính
Cải cách thể chế hành chính ở Việt Nam là mới mẻ diễn ra trong điều kiện
thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong thời kỳ mới có nhiều vấn
đề đòi hỏi vừa phải tìm tòi cái mới vừa phải đúc rút từ kinh nghiệm có sẵn do
vậy việc hình thành quan niệm và nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công tác cải cách
hành chính cũng như việc đề ra nội dung phương hướng, giải pháp thực hiện
trong từng giai đoạn không ngừng đổi mới, khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI của
Đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra vào năm 1986.
- Từ xác định nguyên nhân của việc khủng hoảng kinh tế trầm trọng của kinh tế
xã hội, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương
18
lớn về tổ chức các bộ máy cơ quan nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI tổ chức bộ máy nhà nước được sắp xếp
gọn nhẹ theo hướng thu bớt các đầu mối, tuy nhiên nhìn chung tổ chức bộ máy
nhà nước vẫn quá cồng kềnh, nặng nề.
- Đến đại hội VII (1991) Đảng tiếp tục xác định cải cách bộ máy nhà nước, đề ra
nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa
đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính Phủ, của chính quyền
trung ương.
+ Trên cơ sở những nhiệm vụ đó, Đại hội VII đề ra trong nhiệm kỳ này đã tiến
hành sắp xếp 2 lần kể từ Đại hội VI hệ thống hành chính nước ta bao gồm Đảng
nhà nước, mặt trận và các đoàn nhân dân. Cương lĩnh xây dụng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã
hội đến năm 2000 do Đại hội VII đã khẳng định bước tiến về lý luận và nhận
thức về nền hành chính nhà nước, cương lĩnh đã nêu là nhà nước phải có đủ
quyền lực và đủ khả năng định ra pháp luật về tổ chức quản lý mọi mặt đời
sống xã hội bằng pháp luật, sữa đổi hệ thống tổ chức nhà nước cải cách bộ
máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức
năng quản lý nhà nước chiến lược cũng như trọng tâm của cải cách “ nhắm vào
hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính
và quản lý hành chính nhà nước thông suốt có đủ quyền lực năng lực hiệu
quả”.
+ Thực hiện nghị quyết đại hội VII tháng 4 năm 1992 Quốc Hội nước
CHXHCNVN đã thông qua hiến pháp mới thay thế hiến pháp năm 1980, Hiến
pháp 1992 thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về phân công phối hợp giữa 3
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong tổng thể quyền lực thống nhất của
nhà nước.
- Sau đại hội VII từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển tư duy, quan niệm
nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính. 19
Hội nghị lần thứ tám (khóa VII) BCH trung ương Đảng đã khẳng định cải cách
thể chế hành chính nhà nước ở nước ta tập trung vào 5 vấn đề cơ bản:
+ Cải cách một bước cơ bản hệ thống thủ tục hành chính nhằm góp phần giải
quyết tốt mối quan hệ giữa công dân, các tổ chức xã hội đối với Nhà nước
+ Cải cách việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân với cán bộ,
công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và các tổ chức của bộ máy
hành chính nhà nước
+ Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế mới đặc biệt là các thể chế về tài chính
+ Đổi mới quy trình lập pháp lập quy ban hành các văn bản pháp luật Nhà nước
+ Nâng kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII BCHTW Đảng 1996:
+ Hội nghị lần thứ 3 của ban chấp hành trung ương khóa VIII năm 1997
chủ trương và giải pháp về cải cách thể chế hành chính được nhấn mạnh là
bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị xã hội giữ vững và phát
huy bản chất tốt đẹp của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong
xây dựng và bảo vệ nhà nước.
+ Nghị quyết trung ương 7 khóa VIII đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại
tổ chức bộ máy và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách
hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đồng thời với
việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị,
thực hiện tinh giảm biên chế cải cách chính sách tiền lương.
- Đại hội IX năm 2001 đã đưa ra một loạt chủ trương giải pháp có ý nghĩa
quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và
cải tiến phương thức hoạt động của chính phủ, nguyên tắc quản lý đa ngành đa
lĩnh vực, phân công phân cấp tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức 20
sự nghiệp dịch vụ công, tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước tách rõ chức
năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tiếp tục
cải cách thủ tục hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch có
năng lực, thiết lập trật tự kỹ cương chống quan liêu tham nhũng.
+ Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
136/2001/QQD-TTg ngày 17-9-2001 phê duyệt. Cải cách hành chính đã được
triển khai trên các nội dung: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành
chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài
chính công; hiện đại hóa nền hành chính. Qua 10 năm triển khai, có thể khẳng
định những kết quả tích cực đã đạt được của cải cách hành chính.
+ Trên cơ sở kết quả đạt được trong công cuộc cải cách hành chính 10 năm
qua và thực trạng nền hành chính của đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội 2011- 2020 đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua đã
nêu rõ 3 giải pháp đột phá nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong
đó tiếp tục khẳng định “ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải
cách hành chính”. Nhận thức được tính cấp thiết đó Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã nêu lên mục tiêu xây dựng,
hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
giải phóng lực lượng sản xuất huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn
lực cho phát triển đất nước, xây dựng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ
trung ương tới cơ sở thông suốt. Đề cập đến nhiệm vụ của chương trình cải
cách thể chế nhằm xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở hiến
pháp, tiếp tục xây dựng hoàn thiện hệ thống thể chế cơ chế chính sách....
+ Chương trình được chia thành 2 giai đoạn đó là̀ giai đoạn từ năm 2011 đến
21
2015, giai đoạn 2 là từ 2016 đến 2020 và đã xác định từng mục tiêu cụ thể
của từng giai đoạn, cụ thể giai đoạn 1 xác định Sắp xếp, tổ chức lại các cơ
quan, đơn vị ở trung ương và địa phương để không còn sự chống chéo, bỏ
trống hoặc trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa
phương các cấp được phân định hợp lý; Đồng thời chương trình cũng đã đưa ra
giải pháp thực hiện và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện chương trình.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức X (2006), XI (2011), XII (2015) của
Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định nhiệm vụ cải cách thể chế, thủ tục
hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
1.2 Nguyên nhân phải cải cách thể chế hành chính
1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, từ một đất nước nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển
sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi nhà nước ta cần có một định hướng, chương
trình hành động nhất định để phù hợp với nền kinh tế và nhu cầu hội nhập quốc
tế. Phải hoàn thiện cơ chế hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý theo cơ chế
mới, công cuộc đổi mới cũng đặt ra việc phải củng cố và hoàn thiện nền dân chủ
XHCN, xây dựng bộ máy hành chính Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu lực
và hiệu quả. để bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, cần ưu tiên cải cách thể
chế.
Thứ hai, Việt Nam bắt đầu bước vào nước có thu nhập trung bình, thể chế
hành chính Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phù hợp để đáp ứng yêu cầu quản lý
kinh tế, xã hội và các nguồn lực, tránh được bẫy thu nhập trung bình.
Thứ ba, cải cách thể chế hành chính nhằm phát huy dân chủ của nhân dân;
tạo môi trường pháp lý thuận lợi, thúc đẩy KT-XH phát triển; góp phần đổi mới
hệ thống chính trị là rất cần thiết để tiến hành mạnh dạn công cuộc cải cách hành
22
chính mà không đi chệch hướng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nhằm xây dựng
một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và phương hướng
đi lên CNXH.
Thứ tư, nhu cầu hội nhập ngày càng cao dẫn đến để tạo lập nhiều hơn các
mối quan hệ đối ngoại đa phương thì hiện nay đòi hỏi thể chế cải cách hành
chính hoàn thiện hơn, phải có một hệ thống pháp lý chặt chẽ, tiên tiến nhằm đáp
ứng nhiệm vụ chính trị của đất nước và các nhiệm vụ về kinh tế, văn hóa xã hội.
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, hệ thống pháp luật nước ta còn bộc lộ nhiều điểm yếu cụ thể: Số
lượng văn bản được ban hành nhiều, nhưng chất lượng chưa cao, chưa thể hiện
nhất quán và thấu suốt tinh thần cải cách hành chính. Hệ thống văn bản được
ban hành còn thiếu tính toàn diện, đồng bộ do thiếu dự báo khoa học mang tính
vực theo phương thức truyền thống giao cho bộ chủ trì xây dựng luật chậm được
khắc phục chiến lược về nhu cầu xây dựng thể chế trong thời kỳ mới. Tính cục
bộ ngành, lĩnh vực. Ngay trong luật ban hành các văn bản pháp luật cũng không
đề cập đến công đoạn phân tích chính sách có thể thấy chất lượng của các văn
bản thường kém chất lượng.
Thứ hai, mặc dù trong quá trình cải cách năm 2001-2010 đã có những
chuyển biến tích cực trong sự chỉ đạo của Chính phủ, các cơ quan hành chính
nhưng nhìn chung chưa có sự chỉ đạo kiên quyết, tập trung đối với quá trình cải
cách trong phạm vi cả nước.
Thứ ba, chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, tính chất, yêu cầu cải cách thể chế
hành chính, việc cải cách đang gặp những khó khăn về con người.
Chính vì vậy, việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế hành chính là rất cần
thiết bởi đó là khâu mấu chốt, đảm bảo cho quá trình cải cách hành chính. Là
những lý do giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn làm lấy động lực để
23
hoàn thiện hơn công cuộc cải cách thể chế hành chính cũng như cải cách hành
chính giai đoạn mới. Không ngừng cải cách để đáp ứng như cầu cuộc sống hiện
đại
II. PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH
CHÍNH
2.1. Hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước về cải cách thể chế hành chính
Vấn đề cải cách thể chế hành chính được quy định tại các văn bản pháp luật
có liên quan sau:
- Quyết định số 945/QĐ-TTg ngày 20 tháng 06 năm 2011 của Thủ tướng
Chính phủ. Quyết định về việc phân công các Bộ, ngành, địa phương thực hiện
Nghị quyết số 57/2010/QH12 của Quốc hội về giám sát việc thực hiện cải cách
thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan.
- Thông tư số: 19/2014/TT-BTP quy định về nhập, đăng tải, khai thác dữ liệu
thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và quản lý
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chínhan trực tiếp đến công dân và doanh
nghiệp theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001-2010.
- Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.
- Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động
và quản lý hội.
- Chỉ thị số 07/CT-TTg, ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy
mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2011-2020.
- Nghị quyết 76/2013/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính
24
nhà nước giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 442/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách hành
chính của Chính phủ.
- Quyết định 586/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt danh sách thành viên Ban Chỉ
đạo cải cách hành chính của Chính phủ
- Chỉ thị số 13/CT-TTg về việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong công tác cải cách thủ tục hành chính
ngày 10/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
- Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 4/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020.
2.2 Mục tiêu cải cách
2.2.1. Mục tiêu chung
Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, một Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), của dân, do dân, vì dân, một đội ngũ công
chức có đủ năng lực và phẩm chất hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu chung, chúng ta đề ra mục tiêu cải cách thể chế hành
chính đến năm 2020
Trước hết là cải cách thể chế phục vụ cho kinh tế và hoạt động hành chính
hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường XHCN với những yếu tố cơ bản
như bảo đảm bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường, tính đồng bộ, liên
thông giữa các loại thị trường (tài chính, tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, lao
động, khoa học công nghệ). Nhà nước điều hành nền kinh tế theo tín hiệu thị
trường. Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh
25
bạch, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ con người,
gắn quyền con người với lợi ích của đất.
Thứ ba, Hoàn thiện việc xây dựng và ban hành các Thông tư có liên quan đến
CCHC. Tại các Quyết định đã ban hành, cụ thể là: rà soát lại, hệ thống hoá các
văn bản đã ban hành để phát hiện các văn bản chồng chéo, mâu thuẫn hoặc đã lạc
hậu và sửa đổi bổ sung hoặc bãi bỏ ; Tăng cường năng lực của các cơ quan soạn
thảo văn bản; Đổi mới phương pháp, quy trình xây dựng văn bản, loại bỏ cách
làm theo chủ quan, cục bộ; Tăng cường sự tham gia của nhân dân và các tổ chức
vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; Đặc biệt là xây dựng và
thực hiện tốt Kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp năm
2013; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án luật, bộ luật được phân công, đặc
biệt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm cải cách, đổi mới
quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất trong toàn
quốc hợp lý, khoa học; các văn bản khi xây dựng mới phải quán triệt nguyên tắc
của cải cách TTHC.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cải cách
hành chính, đặc biệt là thể chế về tổ chức bộ máy, công chức, công vụ, phân cấp,
tài chính công.
Thứ năm, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận
tiện cho dân, doanh nghiệp; Nghiên cứu giải quyết các thủ tục hồ sơ giấy tờ trên
mạng điện tử để tránh việc đi lại phiền hà cho doanh nghiệp và người dân. Các
cơ quan nhà nước phải giải quyết công bằng, dân chủ các yêu cầu của tổ chức và
công dân. Mẫu hoá các loại giấy tờ. Thực hiện cơ chế "một cửa" trong giải quyết
các yêu cầu của dân. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân công chức trong giải
quyết công việc; Khen thưởng và kỷ luật rõ ràng.
2.3. Kết quả cải cách thể chế hành chính.
26
2.3.1. Kết quả cuộc cải cách 1992-2001
Thời kì này bước đầu nền thể chế hoàn thiện và dân chủ. mục tiêu đặt ra là đổi
mới và hoàn thiện căn bản hệ thống pháp luật sao cho phù hợp với hoàn cảnh
hiện tại của đất nước. Việc cải cách thể chế thời kì này chưa có sự thay đổi nhiều,
đồng thời còn trì trệ mang tính quan liêu, bảo thủ, thiếu dân chủ. . Nhiều văn bản
nguyên tắc chồng chéo vướng mắc lẫn nhau dẫn đên việc khó giải quyết vấn
đề một cách hiệu quả, nhanh gọn. Các cơ chế thủ tục đôi khi còn gây nhiều
phiền hà cho người dân. Tuy nhiên bên cạnh đó nền thể chế được cải thiện tương
đối ít nhiều đáp ứng được đòi hỏi trong giai đoạn chuyển đổi như: hệ thống pháp
luật gọn nhẹ, phù hợp với thực tế hơn tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế-xã
hôi phát triển tốt hơn. Hiệu quả làm việc được nâng cao rõ rệt.
2.3.2. Kết quả cuộc cải cách hành chính năm 2001-2010
2.3.2.1. Kết quả đạt được
Hệ thống thể chế pháp luật từng bước được đổi mới và hoàn thiện, góp phần
xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảo và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân.
Về cơ bản, các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chuyển nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đã được thể chế hoá, hoàn thiện khung pháp lý cho các thành
phần kinh tế, cho người dân làm ăn và sinh sống.
Trong nhiệm kỳ Quốc Hội khoá XI, khoá XII tính đến hết tháng 7/2010,
Chính phủ đã trình Quốc hội trên 100 dự án luật. Mỗi năm trung bình Chính phủ
ban hành gần 200 nghị định, thông qua đó đã tạo lập cơ sở vững chắc cho cải
cách thể chế, thực hiện sự kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính.
Một loạt các luật được ban hành như Luật Doanh nghiệp, Bộ Luật dân sự, Bộ
Luật lao động, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật
27
Đất đai, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Điện lực v.v… đã kịp thời khắc
phục tình trạng thiếu luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, dân sự và nhiều
lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tạo sự an tâm, tin tưởng của người dân và các
tổ chức vào chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều cần nhấn mạnh là về cơ bản,
tinh thần cải cách hành chính, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà
nước về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế với tinh
thần cải cách, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, thông qua đó giảm
đáng kể sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước
vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của các
doanh nghiệp nói riêng, giảm thiểu cơ chế xin – cho... đã được thể hiện rõ trong
các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành.
Chính quyền địa phương các cấp cũng tăng cường công tác cải cách thể chế,
ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền để tổ chức thực hiện và cụ thể
hoá các thể chế do trung ương ban hành vào điều kiện cụ thể của từng địa
phương. Đáng chú ý phải kể đến các văn bản, thể chế được các địa phương đặc
biệt quan tâm trong thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt
bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, uỷ quyền cho các sở và
cấp huyện trên nhiều lĩnh vực v.v… Nhiều địa phương làm tốt công tác này
như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hải
Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bến Tre, Cần Thơ v.v
Thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện,
đổi mới, thể hiện trong một loạt các văn bản như Luật tổ chức Chính phủ, Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Thanh tra , Luật cán bộ,
công chức, có tới 30 Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các văn
bản về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn
của Uỷ ban nhân dân ở cấp tỉnh, huyện v.v…Các thể chế hành chính đã tiếp tục
28
làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong
hệ thống hành chính, loại bỏ phần lớn chồng chéo và trùng lắp về chức năng,
nhiệm vụ và phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.
Thực hiện cơ chế một cửa một cửa liên thông, đến nay đã có 87,4% cơ quan
cấp tỉnh, 98.84% cấp huyện, 96,48% cấp xã. Việc thực hiện cơ chế một cửa đã
làm thay đổi mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức,
công dân theo hướng phục vụ, nâng cao chất lượng hiện đại hoá công sở hành
chính theo chủ trương của Chính phủ.
2.3.3. Kết quả cải cách thể chế giai đoạn 2011-2020
2.3.4. Tồn tại vướng mắc.
Bên cạnh những kết quả và tiến bộ đã đạt được, vấn đề cải cách thể chế trong
những năm qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập, cụ thể:
Hiện vẫn chưa tạo lập được một hệ thống thể chế quản lý kinh tế- xã hội
tương đối toàn diện, đồng bộ phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN và dân chủ hóa đời sống xã hội trong điều kiện mở
cửa hội nhập quốc tế. Những sửa đổi, bổ sung về mặt thể chế trong những năm
qua mặc dù rất tích cực và đã làm khá nhiều về số lượng nhưng chất lượng còn
đang nhiều hạn chế; còn có tính chắp vá, thiếu ăn khớp, thiếu đồng bộ và vẫn
còn ảnh hưởng nhiều bởi thể chế cũ- thể chế quản lý tập trung,quan liêu, bao
cấp; điều đáng chú ý là đang còn rất lúng túng trong mảng thể chế về thẩm
quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu đối với bộ phận
DNNN cũng như đối với đất đai, tài nguyên, bất động sản...
Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân đang còn nhiều vấn đề
quan trọng chưa được bổ sung, hoàn thiện, nhất là cơ chế dân chủ trực tiếp
(trưng cầu dân ý,...), cơ chế bầu cử ( có cạnh tranh...), cơ chế biểu đạt ý chí của
29
người dân, cơ chế giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước.
Thể chế về tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, về thực thi công vụ
của các cơ quan hành chính, và của mỗi cán bộ, công chức vẫn chưa đủ rõ, có
nhiều chỗ chưa cụ thể, còn chậm đổi mới theo tinh thần cải cách, cụ thể là:
+ Hiện nay bộ máy hành chính nhà nước, từ Chính phủ đến chính quyền địa
phương các cấp vẫn còn ôm đồm quá nhiều việc thuộc lĩnh vực quản lý sản xuất,
kinh doanh và hoạt động sự nghiệp, chưa tập trung vào thực hiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước; các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức hành
chính còn can thiệp quá nhiều, quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và xã
hội dân sự.
+ Thể chế phân cấp quyền lực nhà nước giữa Trung ương và địa phương,
giữa các cấp chính quyền địa phương vẫn còn đang nhiều hạn chế, bất hợp lý.
Hiện Chính phủ, các Bộ ngành vẫn đang nắm giữ nhiều công việc cụ thể của
chính quyền địa phương, chính quyền cấp trên còn trực tiếp làm nhiều việc của
cấp dưới, trong khi chính quyền địa phương mỗi cấp chưa đủ các điều kiện cần
thiết để phát huy tính chủ động, sáng tạo quyền tự chủ, tư chịu trách nhiệm của
chính quyền địa phương
+ Cơ cấu bộ máy hành chính Nhà nước vẫn còn đang rất cồng kềnh, nhiều
tầng cấp trung gian. Bộ máy Chính phủ hiện nay với 18 bộ, cơ quan ngang bộ
vẫn là lớn so với các nước trên thế giới
Hiện còn thiếu những quy định pháp lý cụ thể về trách nhiệm của người
đứng đầu cac cơ quan hành chính, cũng như của từng cán bộ, công chức; chế độ
làm việc tập thể tràn lan, không rõ trách nhiệm cá nhân, việc không rõ trách
nhiệm cá nhân người đứng đầu trong các cơ quan hành chính nhà nước đang là
một trở ngại lớn, làm hạn chế đáng kể kết quả phòng chống tham nhũng, lãng
phí, quan liêu và các căn bệnh khác đang tồn tại và phát triển trong bộ máy nhà
30
nước hiện nay.
Thể chế về quản lý cán bộ, công chức, tuy có nhiều sửa đổi, bổ sung song
vẫn chưa có sự đổi mới cơ bản, mạnh mẽ mang tính cải cách, từ việc tuyển
dụng ,sử dụng, bổ nhiệm, bãi nhiệm, bãi miễn, đến đào tạo bồi dưỡng, khen
thưởng, kỉ luật, chính sách đãi ngộ(tiền lương, thưởng), đánh giá cán bộ, công
chức...Đang chú ý là việc triển khai thực hiện một số thể chế, chính sách mới
trong quản lý cán bộ, công chức vừa chậm, vừa không đảm bảo yêu cầu , chất
lượng mà có phần mang tính hình thức( chẳng hạn như chế độ thi tuyển, tiêu
chuẩn bằng cấp, học vị...).
Việc cải cách thể chế tài chính công còn chậm, kết quả chưa nhiều, chưa rõ.
Một số cơ chế tài chính mới có thực hiện thí điểm nhưng chậm tổng kết, đánh
giả một cách đầy đủ, toàn diện để có kết luận cho sự thống nhất cao trong nhận
thức và nhân rộng trong thực tiễn.
Kết quả thực hiện cải cách thể chế hành chính trong những năm qua tuy
đạt được những kết quả, tiến bộ đáng kể nhưng nhìn chung còn chậm, chưa đầy
đủ, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước.
2.4. Định hướng cải cách và giải pháp
2.4.1 Định hướng cải cách thể chế hành chính giai đoạn 2011-2020
2.4.1.1. Yêu cầu
Trước bối cảnh mới của đất nước-phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và mở của
hội nhập – việc cải cách thể chế hành chính cần phải đáp ứng được những yêu
cầu sau đây:
31
Thứ nhất, Hệ thống thể chế mới phải phù hợp với các quy luật khách
quan của nền kinh tế thị trường, tạo môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi nhất,
thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước,và hôi nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Thứ hai, Hệ thống thể chế mới phải thúc đẩy việc phát huy dân chủ
XHCN, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội.
Thứ ba, Hệ thống thể chế mới phải phù hợp với thông lệ chung của thế giới
hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập, mở
rộng quan hệ hợp tác và thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước ta đối với
cộng đồng quốc tế.
Thứ tư, Thể chế mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính
nhà nước phải phù hợp với sự chuyển đổi vai trò, chức năng của Nhà nước trong
điều kiện nền kinh tế thị trường, với nôi dung, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, và với xu hướng xây dựng nền hành chính phục vụ, coi người dân
là khách hàng.
2.4.2.2 Nội dung
Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện một cách đầy đủ, đồng bộ hệ thống chính sách,
pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, các thị trường vốn, tiền tệ, thị trường
chứng khóan, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học
công nghệ, thị trường dịch vụ…phù hợp với cơ chế thị trường, với thông lệ quốc
tế và với đIều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay.
Bổ sung, hoàn thiện các thể chế, chính sách vê mặt xã hội như giáo dục, y tế,
văn hóa, thể thao, lao động việc làm, vệ sinh mội trường, phúc lợi xã hội…đáp
ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu và lợi ích chính đáng của các tầng lợp cư dân
32
ở các khu vực, vùng miền khác nhau trong cả nước, đảm bảo phát triển bền vững
và thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và mở
cửa, hội nhâp.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế về quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân nhằm
đảm bảo và phát huy trên thực tế quyền của người dân trong việc tham gia quản
lý nhà nước, như cơ chế trưng cầu dân ý, cơ chế bầu cử, cơ chế biểu đạt ý chí
của người dân, cơ chế lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ
trương, chính sách lớn, cơ chế giám sát của dân đối với hoạt động của bộ máy
nhà nước và cán bộ công chức, cơ chế giải quyết khiếu kiện của dân.v.v…
Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa người dân với người dân
(thể chế xã hội dân sự ) để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho người dân phát
huy nhiều hơn, tốt hơn quyền tự do của cá nhân và cộng đồng, tự giải quyết tốt
các mối quan hệ liên cá nhân, quan hệ cộng đồng, tự quản, nhằm thỏa mãn tốt
hơn các nhu cầu, lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, cũng như
của toàn xã hội. Chẳng hạn, việc sớm ra đời Luật về Hội là một trong những yêu
cầu bức thiết của cải cách thể chế xã hội hiện nay.
Cải cách thể chế tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước, từ
Chính phủ, các Bộ, ngành đến UBND các cấp.
Cải cách mạnh mẽ thể chế quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công
theo hướng đề cao quyền tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự
nghiệp, dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hành dịch vụ công.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực, loại
bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, lãng phí
gây phiền hà cho dân, xóa bỏ những quy định không cần thiết trong cấp phép,
thanh tra, kiểm tra, kiểm soát…. Mở rộng thực hiện cơ chế “ một cửa” trong việc
giải quyết công việc của tổ chức và người dân ở các cấp, các cơ quan hành chính;
33
thực hiện công khai, minh bạch các thủ tục, quy định, các lệ phí, phí phải đóng
góp…cung cấp cho người dân đầy đủ, chính xác các thông tin về các vấn đề có
liên quan đến việc đảm bảo quyền và lợi ích của người dân…
Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng
cao năng lực và khắc phục tình trạng cục bộ của các Bộ, ngành trong việc xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật, có cơ chế hữu hiệu để nhân dân tham gia có
kết quả vào quá trình xây dựng pháp luật; có cơ chế thu hút các cơ quan nghiên
cứu khoa học tham gia soạn thảo chính sách, pháp luật, nâng cao chất lượng và
tính kịp thời của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật…
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước:
Đến năm 2020, 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ
quan hành chính được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức thường
xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử
phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan;
Những yêu cầu mới đối với nền hành chính nước ta đòi hỏi phải hoàn thiện
cơ chế hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý theo cơ chế mới, công cuộc đổi
mới cũng đặt ra việc phải củng cố và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, xây dựng
bộ máy hành chính Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả.
2.4.2 Giải pháp
Thứ nhất: Cải cách thể chế hành chính cần phải hướng tới mục tiêu Chính
phủ và bộ máy hành chính làm tốt cả hai chức năng là quản lý hành chính nhà
nước và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Cải cách thể chế về các tổ chức xã
hội đảm bảo để nhà nước quản lý tốt các hội, các tổ chức phi chính phủ, đồng
thời mở rộng dân chủ, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho sự phát triển
34
kinh tế - xã hội của đất nước ổn định và bền vững.
Thứ hai: Tiếp tục rà soát các loại thủ tục hành chính, bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ
sung theo hướng tạo thuận tiện cho nhân dân và doanh nghiệp. Đề cao trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính trong việc cải cách thủ tục hành
chính. Đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông
tại các cơ quan hành chính nhà nước và mở rộng áp dụng tại các đơn vị sự
nghiệp dịch vụ công như bệnh viện, trường học.
Thứ ba: Tập trung nâng cao chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật, khắc phục tình trạng văn bản ban hành thiếu tính toàn diện, đồng bộ do
thiếu dự báo khoa học mang tính chiến lược. Triển khai thực hiện Bộ chỉ số theo
dõi đánh giá cải cách hành chính, xác định mức độ hoàn thành mục tiêu đề ra
hàng năm, giai đoạn của từng nội dung, nhiệm vụ.
Thứ tư: xây dựng và thực hiện tốt hơn cơ chế, chính sách thu hút nhân tài,
tạo động lực khuyến khích công chức nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác;
đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn phân công, đề bạt đội ngũ cán
bộ, công chức trẻ theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, khắc phục tình
trạng hẫng hụt cán bộ quản lý, lãnh đạo kế cận ở các cấp, các ngành; đẩy nhanh
tiến độ cải cách tiền lương, tính đủ các thành phần cấu thành nên lương để cán
bộ, công chức và gia đình sống được bằng lương theo mức trung bình của xã
hội.
Thứ năm: Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện cải cách thể chế
hành chính để có những giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh cải cách hành
chính.
Xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách thể chế hành chính ở các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương.
Quy định kết quả thực hiện cải cách thể chế hành chính là tiêu chí để đánh
35
giá công tác thi đua, khen thưởng và bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ sáu: Công chức chuyên trách về cải cách thể chế hành chính:
Nâng cao năng lực, trình độ và có chính sách ưu đãi, hỗ trợ thích hợp cho
đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách cải cách thể chế hành chính.
Thứ bảy: Về kinh phí
Đảm bảo ngân sách cho việc thực hiện nhiệm vụ cải cách thể chế hành chính
đạt được các mục tiêu, hoạt động đề ra, lập dự toán chi tiết cho việc triển khai
lĩnh vực cải cách thể chế hành chính.
Như vậy, công cuộc cải cách nên hành chính nhà nước nói chung và cải cách
thể chế nói riêng trong những năm qua đã đạt được những kêt quả quan trọng
trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau, đã góp phân tích cực, quan trọng sự
phát triển kinh tê – xã hội trong thời kỳ đổi mới và mở cửa, hội nhập.
Tuy nhiên có thể thây rằng những kết quả, tiến bộ của CCHC, cải cách thể
chế mới chỉ là bước đầu, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách kinh tế và dân
chủ hóa đời sống xã hội. Nền hành chính nhà nước hiện đang tồn tại nhiều hạn
chế, yếu kém, lạc hậu, trì trệ, quan liêu… chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh
tế thị trường định hướng XHCN và xu thế mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay.
Trong chặng đường tiếp theo của tiến trình cải cách hành chính đang đứng
trước những thách thức lớn cần phải vượt qua bằng một quyết tâm chính trị cao
và một tinh thần dũng cảm không chỉ của đội ngũ cán bộ công vhuwcs trong bộ
máy hành chính nhà nước mà còn của cả hệ thống chính trị, CCHC chỉ có được
kết quả khi nó được tiến hành đồng thời với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp
và đổi mới phương thức vận hành hệ thống chính trị XHCN ở nước ta, trong đó
việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nhất.
2.2.Nội dung cải cách thể chế hành chính
- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện một cách đầy đủ, đồng bộ hệ thống chính
sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, các thị trường vốn, tiền tệ, thị 36
trường bất động sản, thị trường dịch vụ…phù hợp với cơ chế thị trường, với
thông lệ quốc tế và với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay.
- Bổ sung, hoàn thiện các thể chế, chính sách vê mặt xã hội như giáo dục, y
tế, văn hóa, thể thao, lao động việc làm, phúc lợi xã hội…đáp ứng ngày càng tốt
hơn các nhu cầu và lợi ích chính đáng của các tầng lớp cư dân, đảm bảo phát
triển bền vững và thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường và mở cửa, hội nhâp.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế về quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân
nhằm đảm bảo và phát huy trên thực tế quyền của người dân trong việc tham gia
quản lý nhà nước, như cơ chế trưng cầu dân ý, cơ chế bầu cử, cơ chế giám sát
của dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ công chức,.v.v…
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa người dân với người dân
(thể chế xã hội dân sự ) để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho người dân phát
huy nhiều hơn quyền tự do của cá nhân và cộng đồng, nhằm thỏa mãn tốt hơn
các nhu cầu, lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, cũng như của
toàn xã hội.
- Cải cách thể chế tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước,
từ Chính phủ, các Bộ, ngành đến UBND các cấp. Tập trung vào những nội dung
chủ yếu sau:
+ Tiếp tục điều chỉnh mạnh mẽ hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan
hành chính, để phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường và dân chủ
hóa đời sống xã hội, theo hướng: tách bạch rõ quản lý nhà nước với quản lý sản
xuất - kinh doanh.
+ Đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương, phát huy tính tự chủ của
37
chính quyền địa phương các cấp, phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể của
mỗi cấp hành chính, mỗi loại hình đơn vị hành chính (đô thị, nông thôn) để phân
cấp cho phù hợp.
+ Điều chỉnh cơ cấu tổ chức Chính phủ cho gọn hơn theo hướng tổ chức các
Bộ đa ngành, đa lĩnh vực để giảm bớt đầu mối, khắc phục tình trạng chồng chéo,
dẫm đạp về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan trong bộ máy.
+ Cải cách mạnh mẽ thể chế quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công
theo hướng đề cao quyền tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự
nghiệp, dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hành dịch vụ công.
+ Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực,
loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, lãng
phí gây phiền hà cho dân
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng
cao năng lực và khắc phục tình trạng cục bộ của các Bộ, ngành trong việc xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật; có cơ chế thu hút các cơ quan nghiên cứu
khoa học tham gia soạn thảo chính sách, pháp luật, nâng cao chất lượng và tính
kịp thời của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật…
2.3. Cải cách thể chế giai đoạn 2011-2020
Ngày 08/11/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP quy
định rõ chương trình thổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011-2020. Chương trình được ban hành có một ý nghĩa to lớn, là văn bản
pháp lý định hướng toàn bộ tiến trinhd cải cách hành chính nhà nước từ nay
đến năm 2020, làm căn cứ để các Bộ, ngành và địa phương triển khai thực
hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính trong phạm vi của từng Bộ, ngành và
38
địa phương.
Chương trình xác định rõ 5 mục tiêu phải đạt sau 10 năm cải cách là xây
dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn lực cho phát triển đất nước; Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng,
thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh
phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
trong việc tuân thủ thủ tục hành chính; Xây dựng hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện
đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều
hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính Nhà nước; Bảo đảm thực tế
quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với
quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân
dân và phát triển của đất nước.
Việc thực hiện Chương trình được chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm
2011-2015; giai đoạn 2 từ năm 2016-2020. Trọng tâm cải cách hành chính giai
đoạn 10 năm tới về cải cách hành chính: Chương trình mới giai đoạn 2011-2020
xác định rõ nhiệm vụ cải cách hành chính trên 6 lĩnh vực cụ thể là cải cách thể
chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước;
xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách
tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính. Trong đó về cải cách thể chế: một
vấn đề quan trọng được đặt ra đó là việc hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó
khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu trước hết là
sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền con người
và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi
đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và
quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất. Qua những vụ việc về
39
đất đai là một bước đí cần thiết và kịp thời của Đảng và Nhà nước nhằm hoàn
thiện khung pháp lý về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế và đảm bảo sự ổn định,
công bằng trong xã hội.
Việc ban hành Chương trình Tổng thể về cải cách hành chính giai đoạn
2011-2020 tuy có muộn và đã ảnh hưởng tới việc triển khai thực hiện nhiệm vụ
cải cách hành chính trong năm 2011 và cả giai đoạn 2011-2020 ở các Bộ, ngành
và địa phương nhưng đây là một bước đi quan trọng trong việc cụ thể hóa chủ
trương của Đảng về thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2020
và đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước.
2.4. Cải cách thể chế giai đoạn 2011-2020
2.4.1. Kết quả chủ yếu đã đạt được
a) Đánh giá chung về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến
pháp năm 2013
Công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đặc biệt là những luật, pháp lệnh triển
khai thi hành Hiến pháp năm 2013 được các cơ quan nhà nước trong cả hệ thống chính
trị từ trung ương đến địa phương quan tâm, chỉ đạo sát sao. Sau hơn 05 năm triển khai
thi hành Hiến pháp, trong số 90 luật, pháp lệnh được liệt kê tại Danh mục, Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 70 luật, pháp lệnh, trong đó có các đạo luật
mang tính nền tảng, rường cột của hệ thống pháp luật(8); còn 20 dự án luật, pháp lệnh
nằm trong Danh mục nhưng chưa được ban hành(9). Kết quả xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 cùng với kết quả thực hiện những chủ
trương của Đảng đối với công tác hoàn thiện pháp luật thời gian qua là nền tảng, một
trong những trọng tâm của cải cách thể chế tại Chương trình tổng thể.
8 Như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự…
9 Trong số này, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020. Có 03 dự án luật, pháp lệnh đã đưa vào Chương trình, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến nhưng cần tiếp tục chuẩn bị nên chưa được ban hành (Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật về Hội, Pháp lệnh Đào tạo một số chức danh tư pháp).
40
b) Về xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của các bộ, ngành và địa phương
Trong giai đoạn vừa qua, việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có nhiều
đổi mới. Từ việc xây dựng Chương trình nhiệm kỳ 05 năm (theo Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2008) đến xây dựng Chương trình hằng năm
(theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015), tạo sự linh hoạt, tăng cường tính thích ứng
nhanh của chính sách với các vấn đề kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó, Luật Ban hành
VBQPPL năm 2015 được ban hành đã có nhiều điểm mới cơ bản, bổ sung nhiều quy
định nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành VBQPPL,
về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành
VBQPPL theo từng nhóm đối tượng... đã có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật, cải cách thể chế(10).
Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã thường xuyên quan tâm, tập trung chỉ
đạo xây dựng các thể chế thuộc phạm vi quản lý, đã chú trọng việc xây dựng các dự
thảo luật, pháp lệnh trình Quốc hội và ban hành một số lượng lớn nghị định hướng dẫn
thi hành luật, pháp lệnh. Tổng số VBQPPL mà các bộ đã ban hành từ năm 2012 đến
nay là hơn 8.600 văn bản (Biểu đồ 3). Một loạt các thể chế quan trọng được các bộ,
ngành chủ trì nghiên cứu, xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thông
qua, đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế về các lĩnh vực, như: Kinh tế; dân sự; sở
hữu; quyền tự do kinh doanh; nông nghiệp, nông thôn; tài nguyên và môi trường; tổ
chức bộ máy; cán bộ, công chức, viên chức(11) và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã
hội. Đồng thời, mỗi năm các bộ đã trình Chính phủ ban hành hơn 140 nghị định hướng
dẫn, trên cơ sở đó, đã tạo lập khuôn khổ thể chế, pháp luật cơ bản cho sự vận hành nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ máy tổ chức nhà nước và hội nhập
quốc tế. Số lượng VBQPPL của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở giai đoạn
2016 - 2020 tăng so với giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy trách nhiệm, vai trò của các tư
10 Ngày 18/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 63/2020/QH14 với nhiều nội dung đáng chú ý.
11 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức…
41
lệnh ngành được đề cao theo sự phân cấp trong quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với
ngành, lĩnh vực(12).
Biểu đồ 3: Kết quả đạt được của các bộ, ngành tại một số nội dung cải cách thể
chế
Thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện, đổi
mới. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ
thống hành chính được phân định rõ ràng, loại bỏ phần lớn sự chồng chéo, trùng lắp về
chức năng, nhiệm vụ; phân định rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh
nghiệp, đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch vụ công. Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà
nước với người dân tiếp tục được quan tâm xây dựng, hoàn thiện và triển khai thực
hiện trong thực tế, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của người dân trong việc tham gia xây
dựng bộ máy nhà nước. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, việc ghi nhận,
đề cao các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân tại các đạo luật trên
các lĩnh vực từ dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được tăng cường và củng
cố mạnh mẽ nhất từ trước tới nay(13), cơ bản phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt
12 Giai đoạn 2011 - 2015, các bộ, cơ quan ban hành 3.017 thông tư, thông tư liên tịch; giai đoạn 2016 - 2020 (tính đến 31/5/2020) là 3.707 thông tư, thông tư liên tịch.
13 Tính từ năm 2014 đến hết tháng 6 năm 2019, Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp năm
42
Nam là thành viên.
Chính quyền địa phương các cấp đã chú trọng việc ban hành và tổ chức thực hiện
các VBQPPL theo thẩm quyền, mỗi năm ban hành hàng ngàn quyết định để cụ thể hóa
các văn bản của trung ương cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, cụ thể,
từ năm 2011 đến tháng 5 năm 2020, các tỉnh đã ban hành khoảng 385.826 VBQPPL
(Biểu đồ 4). Tuy nhiên, so sánh giai đoạn 2016 - 2020 với giai đoạn 2011 - 2015 cho
thấy, số lượng văn bản của chính quyền địa phương giảm, đặc biệt là ở cấp huyện và
cấp xã khi mà các cấp này tập trung vào việc triển khai tổ chức thi hành pháp luật(14).
Biểu đồ 4: Kết quả đạt được của các tỉnh, thành phố tại một số nội dung cải cách
thể chế
Hằng năm, các bộ, ngành và địa phương đã ban hành và tổ chức triển khai Kế
hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành và lĩnh
vực trọng tâm của bộ, ngành và địa phương. Công tác rà soát, kiểm tra VBQPPL theo
2013. Trong số đó có những đạo luật cơ bản, quan trọng như Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Đặc xá năm 2018, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Thi hành án hình sự năm 2019…
14 Giai đoạn 2011 - 2015: Tổng số VBQPPL của địa phương là 283.546; giai đoạn 2016 - 2020 là 102.280 VBQPPL.
43
thẩm quyền cũng được chú trọng thực hiện. Giai đoạn 2011 - 2020, đã có khoảng hơn
12.172 VBQPPL tại các bộ, ngành và 83.758 VBQPPL tại các tỉnh được đề nghị sửa
đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới sau rà soát. Trong khi đó, số lượng
VBQPPL đã được xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
sau rà soát tại các bộ là 7.249 văn bản, tại các tỉnh là 54.012 văn bản.
Từ năm 2011 đến ngày 31 tháng 5 năm 2020, đã kiểm tra 61.447 VBQPPL của các
bộ, ngành và 819.646 VBQPPL của các tỉnh. Thông qua kiểm tra, đã phát hiện tại các
bộ, ngành: Số VBQPPL trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền là 1.669 VBQPPL,
chiếm 1,67% so với tổng số văn bản được kiểm tra; số văn bản không phải là VBQPPL
nhưng có chứa quy phạm pháp luật là 374 văn bản, chiếm 0,61%. Trong khi đó, đã
phát hiện tại các tỉnh: Số VBQPPL trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền là 7.841
VBQPPL, chiếm 0,96%/tổng số văn bản được kiểm tra; số văn bản không phải là
VBQPPL nhưng có chứa quy phạm pháp luật là 15.583 văn bản, chiếm 1,90%. Số
lượng VBQPPL trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền tại các bộ, ngành đã được xử lý
là 4.054 văn bản và tại các tỉnh đã được xử lý là 40.169 văn bản (Biểu đồ 3, Biểu đồ
4).
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được đổi mới với nhiều hình thức đa dạng
đã gắn kết chặt chẽ hơn với công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật và thực
hiện chức năng quản lý nhà nước của bộ, ngành, địa phương. Công tác thanh tra, kiểm
tra việc thực hiện chính sách pháp luật hàng năm được các bộ, ngành, địa phương triển
khai theo kế hoạch, với trọng tâm tập trung vào những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
nhà nước, liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp.
Có thể nói, kết quả xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp
năm 2013 đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện 05 mục tiêu của Chương trình
tổng thể, trong đó có việc hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới
cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân
chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành
chính nhà nước; bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ
quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.
44
Kết quả công tác xây dựng thể chế đã có tác động trực tiếp, tích cực và sâu rộng
tới mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, tăng cường
quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế và góp phần bảo vệ, bảo đảm tốt hơn quyền con
người, quyền công dân. Hệ thống thể chế, pháp luật cũng đã đóng góp không nhỏ vào
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, giải phóng nguồn lực xã hội, phát triển kinh tế
tư nhân trở thành động lực quan trọng cho nền kinh tế, thúc đẩy phát triển lực lượng
sản xuất. Thể chế, pháp luật cũng đã đóng góp quan trọng cho xây dựng và hoàn thiện
cơ cấu tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
trong 10 năm vừa qua.
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Chất lượng một số đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự kiến chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh chưa cao; vẫn còn tình trạng các dự án, dự thảo văn bản sau khi
đã đưa vào chương trình nhưng phải xin lùi, rút, điều chỉnh. Chất lượng văn bản, thể
chế một số lĩnh vực còn hạn chế, ban hành nhưng không triển khai được hoặc khó triển
khai, chồng chéo với các văn bản pháp luật khác.
- Trong một số trường hợp, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp
luật còn chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước; một số bất
cập của pháp luật được phát hiện, nhưng chậm sửa đổi, bổ sung.
- Việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh vẫn còn nhiều tồn tại, hạn
chế, như tình trạng nợ ban hành văn bản chưa được khắc phục triệt để(15).
b) Nguyên nhân
- Sự phối hợp giữa các cơ quan trong quy trình xây dựng pháp luật còn hạn chế,
dẫn đến phản ứng chính sách đôi khi chưa linh hoạt.
- Tư duy xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật chưa được đổi mới, nhận
thức còn hạn chế, chưa theo kịp với yêu cầu của thực tiễn. Một số cơ quan chưa coi
15 Năm 2019, cuối năm nợ ban hành là 10 văn bản; đến thời điểm hiện tại, số văn bản nợ là 41 văn bản quy định chi tiết 13 luật đã có hiệu lực. Đến ngày 28/10/2020, số văn bản nợ ban hành là 21 văn bản quy định chi tiết 09 luật đã có hiệu lực.
45
trọng đúng mức việc lấy ý kiến của nhân dân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
chính sách, văn bản, hoặc chưa có phương pháp thực hiện phù hợp.
- Năng lực, trình độ của bộ phận soạn thảo, cán bộ pháp chế, cán bộ làm công tác
xây dựng pháp luật còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Hoạt động của
Ban soạn thảo, Tổ biên tập còn chưa thực sự hiệu quả, hình thức, còn phó thác cho cơ
quan chủ trì soạn thảo. Bộ, ngành, địa phương chưa có Chiến lược dài hạn về phát
triển nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là chính sách đãi ngộ
và sử dụng hiệu quả cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật sau khi đã
được đào tạo, bồi dưỡng. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật
tại các bộ, ngành, địa phương thiếu ổn định, chưa thật sự chuyên nghiệp; thiếu về số
lượng và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày
càng cao của công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
2.5. Cải cách thủ tục hành chính
2.5.1. Kết quả đạt được
a) Cải cách quy định thủ tục hành chính
Việc triển khai thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) theo
25 Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ được các bộ, ngành thực hiện đã cơ bản hoàn
thành với việc đơn giản hóa 4.527/4.723 TTHC, đạt tỷ lệ 95,8% (tính đến tháng
12/2016). Việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh và hoạt động kiểm
tra chuyên ngành, cắt giảm, đơn giản hóa dòng hàng đạt được nhiều kết quả tích cực(16).
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm 2016, 2017, 2018, Nghị
quyết số 02/NQ-CP năm 2019, 2020 về thực hiện nhiệm vụ giải pháp chủ yếu cải thiện
môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thể hiện quyết tâm chỉ
đạo bãi bỏ các rào cản, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, mở
rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Tháng 5
năm 2020, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về Chương trình cắt
16 Tính từ đầu nhiệm kỳ Chính phủ khóa XIV đến nay, đã cắt giảm 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh; 6.776/9.926 danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành; tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khoảng hơn 18 triệu ngày công/năm, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm. Các bộ, ngành đã có phương án xử lý 1.501 mặt hàng có chồng chéo về thẩm quyền.
46
giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 -
2025 với mục tiêu cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất
20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Việc cải cách theo
Chương trình này không chỉ là cắt giảm các quy định liên quan đến hoạt động kinh
doanh trong các văn bản đã ban hành mà còn cả các quy định trong dự thảo VBQPPL;
đồng thời cải cách mạnh mẽ việc thực hiện TTHC trên môi trường điện tử.
Những quy định về kiểm soát TTHC cơ bản được hoàn thiện(17). Song song với đó,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 về
việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10
tháng 6 năm 2015 về việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước các cấp trong công tác cải cách TTHC. Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn
chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp
trong giải quyết công việc. Theo đó, yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính,
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức, viên chức trong
thực thi công vụ; rà soát TTHC theo hướng tinh giản, loại bỏ ngay các thủ tục không
cần thiết, rườm rà, khó thực hiện, gây phiền hà, sách nhiễu đối với người dân, doanh
nghiệp.
Các nội dung rà soát, đơn giản hóa TTHC, đánh giá tác động các quy định về
TTHC, đã được các bộ, ngành và địa phương nghiêm túc thực hiện. Hầu hết các bộ,
ngành, địa phương đều ban hành Kế hoạch triển khai công tác kiểm soát TTHC, Kế
hoạch rà soát TTHC trong từng năm, trong đó, đã thể hiện việc tích cực thực hiện các
nhiệm vụ kiểm soát TTHC từ khâu dự thảo, ban hành cho đến khâu triển khai thực
hiện. Đặc biệt, nhiều bộ, địa phương quan tâm rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các quy
định TTHC, nhất là trong các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân, doanh
17 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát TTHC; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát TTHC; Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC; Nghị định số 09/2019/NĐ-CP về chế độ báo cáo trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 22/5/2020 về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử. Luật Ban hành VBQPPL 2015, các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật đã điều chỉnh 02 nội dung về thẩm quyền quy định TTHC và yêu cầu đánh giá tác động TTHC ngay từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng cho đến giai đoạn soạn thảo VBQPPL.
47
nghiệp; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định TTHC mới, đảm bảo đơn giản,
rõ quy trình, dễ hiểu, dễ thực hiện.
Về tình hình, kết quả thực hiện Đề án Tổng thể đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công
dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020 (Đề án
896): Chính phủ đã ban hành 19 nghị quyết chuyên đề về đơn giản hóa TTHC, giấy tờ
công dân trên các lĩnh vực quản lý để phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa
1.097 thủ tục, với 992 mẫu đơn và 399 tờ khai được quy định tại 332 VBQPPL, trong
đó có nhiều phương án có đối tượng tác động lớn như: Bỏ quản lý sổ hộ khẩu bằng
giấy với khoảng hơn 18 triệu hộ gia đình được hưởng lợi từ phương án này. Bộ Công
an, cơ quan chủ trì Đề án đã chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương rà soát, xây dựng
phương án đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân theo Đề án 896 và phối hợp với các
bộ, ngành, địa phương để triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 896. Về cấp số định
danh cá nhân, đã mở rộng phạm vi các địa phương trên toàn quốc chính thức triển khai
Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp từ 38 tỉnh lên 63 tỉnh,
thành phố (tăng 25 địa phương so với năm 2018). Triển khai hệ thống đăng ký và quản
lý hộ tịch tại các địa phương và thực hiện cấp số định danh cá nhân cho hơn 1.391.018
trường hợp đăng ký khai sinh năm 2019 tại 680 Phòng Tư pháp cấp huyện và 10.696
UBND cấp xã tại 60 tỉnh, thành phố. Bộ Công an tiếp tục cấp thẻ Căn cước công dân
từ đủ 14 tuổi trở lên tại 16 tỉnh, thành phố, từ năm 2012 đến nay đã cấp được 15 triệu
trường hợp. Về kết quả thu thập dữ liệu, Bộ Công an đã tiến hành thu thập và scan.
Đến ngày 30 tháng 9 năm 2020, Bộ Công an đã thu thập được 83.387.773/87.306.594
(đạt 95,51%) phiếu thu thập thông tin dân cư DC01 và cập nhật được 7.436.291 phiếu
cập nhật, chỉnh sửa thông tin dân cư DC02.
b) Cải cách việc tổ chức thực hiện TTHC
Hầu hết TTHC được các bộ, ngành, địa phương từng bước chuẩn hóa, công bố,
niêm yết, công khai tại nơi tiếp nhận, giải quyết TTHC, công khai trên Cổng thông tin
điện tử của bộ, ngành, địa phương và trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC theo quy
định, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức truy cập tìm hiểu, thực hiện thuận tiện, chính
xác.
48
Cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Trung tâm Phục vụ hành chính công và Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả tập trung cấp tỉnh, cấp huyện đã được triển khai ở các địa
phương theo các quy định pháp luật(18) và đạt được những kết quả tích cực, tạo sự
chuyển biến rõ nét trong giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp. Triển khai
Nghị định số 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa
liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, đến nay 100% các bộ, ngành, địa
phương đã hoàn thành việc kiện toàn Bộ phận Một cửa các cấp để giải quyết TTHC,
trong đó, 59/63 địa phương thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh.
Đặc biệt có địa phương đã thực hiện việc giải quyết TTHC theo phương thức “5 tại
chỗ” như Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Ninh. Nhiều địa phương đã
gắn kết chặt chẽ giữa việc thiết lập một cửa “vật lý” và một cửa điện tử để tạo thuận
lợi cho người thực hiện như: Hà Nội, Quảng Ninh, Đồng Nai, Cà Mau, Bình Dương…
Về kết quả giải quyết hồ sơ TTHC: Trong năm 2019, các cơ quan hành chính nhà nước
các cấp đã tiếp nhận 261.860.415 hồ sơ, đã giải quyết 257.661.527 hồ sơ, đạt 98,4%;
số hồ sơ đang xem xét, giải quyết 3.424.588 hồ sơ, trong đó, hồ sơ quá hạn là 784.078
hồ sơ, chiếm 22,9% số hồ sơ đang giải quyết. Các bộ, các tỉnh cũng đã bước đầu triển
khai thực hiện quy định việc đánh giá chất lượng giải quyết TTHC theo quy định tại
Nghị định số 61/2018/NĐ-CP.
Các nội dung gắn kết đồng bộ giữa cải cách TTHC và xây dựng Chính phủ điện tử
cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận với cơ quan
hành chính nhà nước. Việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và kết nối kỹ thuật một
cửa ASEAN đối với một số lĩnh vực đã được các bộ, ngành triển khai, đạt được nhiều
kết quả tích cực.
Việc triển khai tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu
chính công ích theo Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19 tháng 10 năm 2016 của
Thủ tướng Chính phủ cũng đạt được những kết quả tích cực. Năm 2019, cả nước có
18 Ngày 25/3/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg về Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay thế Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007. Tiếp theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC (sau đây gọi tắt là Nghị định số 61/2018/NĐ-CP), thay thế Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg.
49
14.505.494 lượt hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC thực hiện qua dịch vụ BCCI, trong đó,
dịch vụ tiếp nhận hồ sơ là 2.175.824 lượt, dịch vụ trả kết quả là 12.329.670 lượt, giúp
tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân, tổ chức, tạo tiền đề thúc đẩy triển khai cung
cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3 và 4.
Trong năm 2019 - 2020, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử
đã được chính thức vận hành (Trục liên thông văn bản quốc gia khai trương ngày 12
tháng 3 năm 2019; Hệ thống thông tin họp và xử lý công việc của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ khai trương ngày 24 tháng 6 năm 2019; Cổng Dịch vụ công quốc gia
khai trương ngày 09 tháng 12 năm 2019; Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và
Trung tâm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
khai trương ngày 19 tháng 8 năm 2020). Các nền tảng, hệ thống thông tin trên được
đưa vào vận hành giúp tiết kiệm chi phí xã hội ước tính trên 9.900 tỷ đồng/năm và
nhận được phản hồi tích cực của xã hội.
c) Về tình hình, kết quả cung cấp DVCTT mức độ 3, 4
Số lượng, chất lượng DVCTT mức độ 3,4 cung cấp cho người dân, doanh nghiệp
tại các bộ, ngành, địa phương được nâng cao, với số lượng hồ sơ TTHC được xử lý
trực tuyến mức độ 3, 4 ngày càng tăng. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Danh mục
dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 thực hiện tại các bộ, ngành, địa phương các
năm 2017, 2018, 201919 (kết quả chi tiết tại nội dung Hiện đại hóa hành chính).
d) Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành
chính
Các bộ, ngành và địa phương đã thực hiện tương đối tốt việc tiếp nhận, xử lý phản
ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính theo quy định. Bên cạnh
đó, Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp và người dân trên Cổng
Thông tin điện tử Chính phủ tại các địa chỉ: http://doanhnghiep.chinhphu.vn và
http://nguoidan.chinhphu.vn; http://pakn.dichvucong.gov.vn trên Cổng Dịch vụ công
Quốc gia đã được vận hành và đưa vào khai thác, qua đó giúp Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ nắm bắt được các vấn đề phát sinh từ phía người dân và cộng đồng doanh
19 Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 09/6/2017, Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018.
50
nghiệp để chỉ đạo, giải quyết kịp thời, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc,
tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính(20). Thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, chỉ tính từ tháng 6 năm 2015 đến hết năm 2016, có hơn 626 cuộc đối
thoại của 16 bộ, ngành và hơn 686 cuộc đối thoại của 31 địa phương đã được tổ chức
để tiếp nhận hơn 1.530 kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Đây là một việc làm
thiết thực, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng cải cách hành chính, thu hút đầu tư,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân.
Thủ tướng Chính phủ đã kiện toàn Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính
của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm Chủ
tịch Hội đồng; thành lập các Ban công tác giúp cải thiện các chỉ số môi trường kinh
doanh. Tính chung trong cả giai đoạn từ 2016 - 2020, Hội đồng đã chủ trì 42 phiên họp,
hội nghị đối thoại, để lắng nghe, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh
nghiệp theo thẩm quyền hoặc báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các cơ
quan chức năng xử lý đối với 500 vấn đề, nhóm vấn đề.
đ) Sáng kiến, giải pháp cải cách TTHC
Trong giai đoạn vừa qua, một số sáng kiến cải cách TTHC nổi bật, như: Đề án
thực hiện liên thông các TTHC: Đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế
độ tử tuất/hỗ trợ chi phí mai táng/hưởng mai táng phí(21); giải pháp ứng dụng công
nghệ thông tin (ƯDCNTT) để đơn giản hóa quy định TTHC trong việc cấp, quản lý, sử
dụng thẻ Bảo hiểm y tế và quản lý khám chữa bệnh, thanh toán bảo hiểm y tế(22); chuẩn
hóa quy trình, thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý
của các bộ, ngành trong triển khai Cơ chế một cửa quốc gia(23)… Một số sáng kiến
20 Theo kết quả thống kê từ năm 2011 đến tháng 12/2016, các bộ, ngành, địa phương đã tiếp nhận trên 8.000 phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính, trong đó đã xử lý trên 7.000 phản ánh, kiến nghị thuộc thẩm quyền, đạt trên 85%. Kể từ khi thành lập (ngày 03/4/2017 đến hết năm 2020), Hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân đã tiếp nhận 4.855 phản ánh, kiến nghị, trong đó, 1.914 phản ánh, kiến nghị thuộc phạm vi xem xét, xử lý; đã tiến hành phân loại và chuyển 1.364 phản ánh, kiến nghị đến các bộ, ngành, địa phương để xem xét, xử lý theo thẩm quyền; số còn lại đang đề nghị người dân bổ sung thông tin làm cơ sở xem xét, chuyển xử lý; các bộ, ngành, địa phương đã trả lời 1.153/1.364 phản ánh, kiến nghị (đạt 84,53%).
21 Quyết định số 1380/QĐ-TTg ngày 18/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ.
22 Công văn số 4173/VPCP-KSTT ngày 08/5/2018 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của TTCP.
23 Văn bản số 4798/BC-VPCP ngày 23/5/2018 của Văn phòng Chính phủ; Văn bản số 4979/VPCP-KSTT ngày 28/5/2018 của Văn phòng Chính phủ.
51
điển hình về cải cách TTHC của các tỉnh được ghi nhận, như: Mở rộng việc thực hiện
mô hình một cửa trong cung ứng dịch vụ công tại các đơn vị sự nghiệp; mô hình hẹn
giờ thực hiện TTHC tại nhà người dân; xây dựng và đưa vào vận hành ứng dụng khai
thác cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường trên mạng internet và di động (nền tảng
Android và iOS) để thuận lợi cho người dân, tổ chức tra cứu, tiếp cận thông tin; xây
dựng phần mềm tra cứu giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất; mô hình “phi địa giới hành chính” trong các lĩnh vực đất đai,
tư pháp, giao thông vận tải, y tế…
2.5.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- TTHC trên một số lĩnh vực vẫn còn nhiều và rườm rà, phức tạp; vẫn còn có tình
trạng một số luật và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không thống nhất, có nhiều
điểm bất đồng, quy định về TTHC chưa đầy đủ các bộ phận cấu thành, chưa chặt chẽ,
gây khó khăn cho cả cơ quan chức năng và người dân, doanh nghiệp khi thực hiện giải
quyết TTHC. Việc đánh giá tác động và lấy ý kiến đơn vị kiểm soát TTHC đối với các
dự thảo VBQPPL có quy định về TTHC chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc; việc
thẩm định quy định TTHC trong một số VBQPPL còn chưa chặt chẽ dẫn đến TTHC
trên nhiều lĩnh vực vẫn còn phức tạp và tiếp tục là rào cản trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và đời sống nhân dân.
- Việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh, cải cách hoạt động
kiểm tra chuyên ngành chưa triệt để, còn tình trạng “cài cắm”, “biến tướng”, phát sinh
thêm TTHC, điều kiện kinh doanh trong các dự thảo VBQPPL, tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, thậm chí trong một số văn bản hành chính.
- Một số bộ, ngành Trung ương còn chậm công bố các nhóm TTHC thực hiện liên
thông hoặc công bố không đầy đủ. Tình trạng các cơ quan hành chính nhà nước các
cấp không niêm yết công khai các TTHC, hoặc niêm yết các TTHC đã cũ, hết hiệu lực
thuộc phạm vi giải quyết của mình. Danh mục TTHC trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về
TTHC còn chưa được các bộ, ngành, địa phương đồng bộ đầy đủ trên Trang/Cổng
Thông tin điện tử của bộ, cơ quan, địa phương.
52
- Tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà của một bộ phận cơ quan hành chính nhà
nước, một số cán bộ, công chức trong giải quyết công việc, TTHC cho người dân,
doanh nghiệp còn xảy ra, ví dụ như: còn có hiện tượng yêu cầu thêm nhiều giấy tờ
không được quy định trong bộ hồ sơ khi giải quyết các TTHC tại một số cơ quan, đơn
vị, gây bức xúc cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Tình trạng trễ hẹn trong giải
quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ vẫn còn phổ biến ở một số lĩnh vực trọng tâm,
như: Đất đai, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội…
- Tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến, giao dịch thanh toán trực tuyến còn thấp so
với số lượng hồ sơ trực tiếp và giao dịch thanh toán bằng tiền mặt; kết nối, chia sẻ dữ
liệu trong giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công còn yếu; số lượng TTHC thuộc
thẩm quyền giải quyết của cấp bộ, cấp tỉnh còn lớn (cấp bộ chiếm tới 58% tổng số
TTHC); việc xã hội hóa dịch vụ hành chính công đã triển khai ở một số ngành, lĩnh
vực (đăng kiểm; công chứng,…) nhưng vẫn còn chậm, thiếu tổng thể.
- Việc liên thông, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các phần mềm quản lý chuyên
ngành của một số bộ, ngành với phần mềm một cửa điện tử của các địa phương còn bất
cập, gây khó khăn cho các địa phương trong giải quyết TTHC cho người dân, doanh
nghiệp. Một số địa phương công khai số liệu, kết quả giải quyết TTHC trên phần mềm
còn chưa đúng so với kết quả kiểm tra thực tế.
b) Nguyên nhân
- Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện tại nhiều bộ, ngành, địa phương
chưa quyết liệt, sát sao; chưa có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước về
cải cách TTHC. Công tác tham mưu phục vụ sự chỉ đạo điều hành của đơn vị chuyên
trách còn chậm và chưa sát với yêu cầu nhiệm vụ24; một số nơi triển khai còn hình
thức, đối phó, chưa quyết liệt.
- Nhận thức, tư duy về quản lý hành chính nhà nước trong một bộ phận cán bộ,
công chức chậm được đổi mới, chưa thấy được hết ý nghĩa, tầm quan trọng và đòi hỏi
24 Việc chậm sửa đổi, bổ sung quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính và việc công bố, công khai TTHC đã ảnh hưởng đến kết quả triển khai công tác kiểm soát TTHC của bộ, ngành, địa phương nói riêng cũng như kết quả cải cách thủ tục hành chính nói chung trên phạm vi cả nước.
53
cấp bách của cải cách TTHC; chưa xây dựng được cơ chế kiểm tra, giám sát có hiệu
quả đối với đội ngũ công chức thực thi công vụ trong tiếp nhận và giải quyết TTHC
trong các lĩnh vực ở từng cấp, từng ngành.
- Nguồn lực để bảo đảm thực thi nhiệm vụ chưa tương ứng với yêu cầu, nhất là về
yếu tố con người (nhiều nơi không bố trí đủ biên chế, chế độ đãi ngộ cho những người
làm công tác cải cách TTHC chưa được quan tâm đúng mức; việc tổ chức Bộ phận
Một cửa hiện nay vẫn còn phân tán, gắn liền với địa giới hành chính; cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu công việc; việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa
các phần mềm, cơ sở dữ liệu liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính còn hạn
chế, phổ biến nhất là tình trạng các phần mềm chuyên ngành, ngành dọc không kết nối,
chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin một cửa điện tử và Cổng dịch vụ công của địa
phương).
2.6. Cải cách thể chế giai đoạn 2021-2030
2.6.1. Mục tiêu
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính nhà nước, đồng
bộ trên tất cả các lĩnh vực; nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản
xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ; tạo được bước đột
phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát
triển đất nước; tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội.
- Đến năm 2025:
+ Cơ bản hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính nhà nước, trọng tâm là thể
chế về tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo phát triển.
+ Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; tập trung ưu tiên
54
hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế,
chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho
mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
+ Hoàn thiện thể chế và các khung khổ pháp lý để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số,
phục vụ có hiệu quả việc xây dựng, phát triển Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội
số.
- Đến năm 2030:
Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế của nền hành chính
hiện đại, thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo được
bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc
đẩy phát triển đất nước.
2.6.2. Nhiệm vụ
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về tổ chức bộ
máy hành chính, chế độ công vụ đầy đủ, đồng bộ trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ,
Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Tiếp
tục thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân,
quyền và nghĩa vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã
hội - nghề nghiệp.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
+ Hoàn thiện thể chế về sở hữu, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ quyền sở hữu tài sản của
Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013; thể chế về
phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, các yếu tố thị trường và
các loại thị trường, bảo đảm mọi người dân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp
luật; thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và
55
công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí
hậu; thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Hoàn thiện thể chế về thu hút đầu tư, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực và thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động
lực và nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển.
+ Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về đất đai, tài nguyên để huy động, phân bổ
và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện,
tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực này. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng
đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao
cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước.
+ Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển mạnh
mẽ thị trường khoa học và công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa
học và công nghệ.
+ Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý, thử nghiệm cơ chế, chính sách đặc thù để
thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số, sản xuất thông minh, các mô hình sản
xuất kinh doanh mới, kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử, khởi nghiệp sáng tạo,...
- Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật:
+ Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình lập pháp, lập quy theo hướng chặt chẽ, khoa
học, hiện đại, chuyên nghiệp, áp dụng kỹ thuật lập pháp tiến bộ trong soạn thảo; tăng
cường tham vấn ý kiến chuyên môn của các hiệp hội, chuyên gia, nhà khoa học và
tham vấn ý kiến rộng rãi của người dân, tổ chức và xã hội trong quá trình xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, tính nhất quán, ổn
định và dự đoán được của pháp luật.
+ Tăng cường kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện và xử
lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, trái pháp luật, hết hiệu lực hoặc không còn
phù hợp.
56
- Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật:
+ Ban hành quy định và tổ chức triển khai có hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp
luật và theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật hàng năm tại các bộ, ngành, địa
phương.
+ Tăng cường năng lực phản ứng chính sách, kịp thời xử lý các vấn đề mới phát sinh
trong tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt gắn kết với quá trình xây dựng, hoàn thiện
pháp luật.
+ Đổi mới công tác kiểm tra, theo dõi, đánh giá việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà
nước trong công tác tổ chức thi hành pháp luật.
+ Thực hiện hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin và số hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
+ Tăng cường vai trò của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, xã
hội - nghề nghiệp và cộng đồng trong phản biện và giám sát thi hành pháp luật.
2.6.3. Cải cách thủ tục hành chính
a) Mục tiêu
Cải cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả quy định thủ tục hành chính liên quan đến
người dân, doanh nghiệp; thủ tục hành chính nội bộ giữa cơ quan hành chính nhà nước;
rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ và tối ưu hóa
quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông
tin; bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện, nâng cao chất lượng
môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch;
đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải
quyết thủ tục hành chính. Đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện
tử để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện dịch vụ mọi lúc, mọi nơi, trên các
phương tiện khác nhau.
57
- Đến năm 2025:
+ Cắt giảm, đơn giản hóa tối thiểu 20% số quy định và cắt giảm tối thiểu 20% chi phí
tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực
thi hành tính đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2020.
+ Hoàn thành việc đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải
quyết thủ tục hành chính theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không theo địa giới
hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thời gian đi lại, chi phí xã
hội và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
+ Tối thiểu 80% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được luân chuyển trong nội bộ
giữa các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc các cơ quan có liên quan được thực
hiện bằng phương thức điện tử.
+ Tối thiểu 80% thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính, được triển khai
thanh toán trực tuyến, trong số đó, tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến đạt từ 30% trở
lên.
+ Năm 2021, số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính đang còn hiệu lực và có giá
trị sử dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã đạt tỷ lệ tối thiểu tương ứng là 40%, 30%, 20%, 15%; giai đoạn 2022 - 2025, mỗi
năm tăng tối thiểu 20% đối với mỗi cấp hành chính cho đến khi đạt tỷ lệ 100% để đảm
bảo việc kết nối, chia sẻ dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường
điện tử.
+ Tối thiểu 80% thủ tục hành chính của các bộ, ngành, địa phương, có đủ điều kiện,
được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4. Trong số đó, ít nhất 80% thủ tục hành chính
được tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực
tuyến mức độ 3 và 4 trên tổng số hồ sơ đạt tối thiểu 50%.
58
+ Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt
tối thiểu 90%. Trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực
đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 85%.
+ 90% thủ tục hành chính nội bộ giữa cơ quan hành chính nhà nước được công bố,
công khai và cập nhật kịp thời.
+ 80% người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính không phải cung cấp
lại các thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được chấp nhận khi thực hiện thành công thủ tục
hành chính trước đó, mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành
chính đang quản lý, hoặc thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được cơ quan nhà nước kết nối,
chia sẻ.
- Đến năm 2030:
+ 100% thủ tục hành chính, có yêu cầu nghĩa vụ tài chính, được triển khai thanh toán
trực tuyến, trong số đó, tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến đạt từ 50% trở lên.
+ Tối thiểu 90% thủ tục hành chính của các bộ, ngành, địa phương, có đủ điều kiện,
được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4, đồng thời, hoàn thành việc tích hợp, cung cấp
trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3 và 4 trên
tổng số hồ sơ đạt tối thiểu 80%.
+ 90% số lượng người dân, doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính phủ điện tử được
xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin
của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
+ Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt
tối thiểu 95%. Trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực
đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%.
+ Môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu.
b) Nhiệm vụ
59
- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định thủ tục hành chính liên quan đến
người dân, doanh nghiệp, bảo đảm thủ tục hành chính mới ban hành phải đơn giản, dễ
hiểu, dễ thực hiện, trọng tâm là thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: Đất đai, xây
dựng, đầu tư, bảo hiểm, thuế, hải quan, công an,... và các thủ tục hành chính thuộc các
lĩnh vực khác có số lượng, tần suất giao dịch lớn.
- Rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính:
+ Rà soát, đánh giá thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện; loại bỏ các thủ tục
rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân, tổ
chức; loại bỏ các thành phần hồ sơ không cần thiết, không hợp lý; tích hợp, cắt giảm
mạnh các mẫu đơn, tờ khai và các giấy tờ không cần thiết hoặc có nội dung thông tin
trùng lặp trên cơ sở ứng dụng các công nghệ số và các cơ sở dữ liệu sẵn có.
+ Cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, loại bỏ các
quy định không hợp pháp, không cần thiết, không hợp lý, bảo đảm thực chất. Tổ chức
triển khai có kết quả Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến
hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.
+ Cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
theo hướng tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước;
ứng dụng tối đa các hệ thống công nghệ thông tin để đơn giản hóa, hiện đại hóa thủ tục
kiểm tra, bảo đảm minh bạch thông tin; áp dụng đầy đủ, hiệu quả phương pháp kiểm
tra tiên tiến, phương pháp quản lý rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế, Công ước/Hiệp
định quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.
+ Rà soát, thống kê và đơn giản hóa các thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan
hành chính nhà nước.
- Thường xuyên, kịp thời cập nhật, công khai thủ tục hành chính dưới nhiều hình thức
khác nhau, tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức tìm hiểu và thực hiện. Vận hành và
khai thác có hiệu quả Cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc
gia.
60
- Hoàn thành đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết
thủ tục hành chính theo quy định tại Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm
2021 của Thủ tướng Chính phủ.
- Đẩy mạnh phân cấp trong giải quyết thủ tục hành chính theo hướng cấp nào sát cơ sở,
sát nhân dân nhất thì giao cho cấp đó giải quyết, đảm bảo nguyên tắc quản lý ngành,
lãnh thổ, không để tình trạng nhiều tầng nấc, kéo dài thời gian giải quyết và gây nhũng
nhiễu, tiêu cực, phiền hà cho nhân dân.
- Đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất giải pháp tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính
sách, thủ tục hành chính, thông qua tăng cường đối thoại, lấy ý kiến người dân, doanh
nghiệp, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành
chính của Thủ tướng Chính phủ.
- Trong năm 2022, hoàn thành kết nối Cổng Thông tin một cửa quốc gia với Cổng
Dịch vụ công quốc gia; đẩy mạnh thực hiện các thủ tục kiểm tra chuyên ngành và
thanh toán các khoản phí liên quan đến kiểm tra chuyên ngành trên Cổng Dịch vụ công
quốc gia. Hoàn thành xây dựng và vận hành có hiệu quả Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử,
đảm bảo thống nhất với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
61
Chương 3
CẢI CÁCH BỘ MÁY HÀNH CHÍNH
I. Quan điểm đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nướcvề cải
cách bộ máy hành chính
1.1. Khái niệm cải cách bộ máy hành chính
Cải cách bộ máy hành chính: là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục
tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cải cách
hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm
cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; các thể
chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn; cơ chế hoạt động,
chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của một
quốc gia.
1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách bộ máy hành chính
Quan điểm, đường lối của Đảng được thể hiện trong các văn kiện sau đây:
a/ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (15-18/12/1986) Ban chấp
hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng xác định phải thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy
của các cơ quan Nhà nước, theo các hướng sau:
- Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp
- Tăng cường bộ máy của nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở
thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn,
62
trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Phân biệt chức năng quản lý hành chính – kinh tế với quản lý sản xuất – kinh
doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ,
phù hợp với đăc diểm tình hình kinh tế - xã hội.
- Thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu xuất cao; xây dựng bộ máy
gọn nhẹ, có chất lượng cao với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và
năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
b/Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (24-27/6/1991) Ban chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong văn kiện này Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo
phương hướng:
- Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thóng nhất
quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch
- Bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng
các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào quản lý
Để hoàn thành được các phương hướng đó Đảng đã nêu rõ cần thực hiện tốt
những việc sau đây:
- Sửa đổi Hiến pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; tiếp tục sửa đổi và
tăng cương hệ thống pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội, hình sự, dân sự, hành
chính; nâng cao trình độ của các cơ quan nhà nước về xây dựng pháp luật, sớm
ban hành luật về trình tự xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật,
đảm bảo cho nhà nước quản lý mọi mặt của đồi sống xã hội bằng pháp luật.
- Cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân để làm đúng
chức năng quy định. Đổi mới tiêu chuẩn đại biểu, chế độ bầu cử và quy chế hoạt
63
động của Quốc hội và hội đồng nhân dân
- Sửa đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ, coi trọng bàn bạc tập thể,
đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của người đứng đầu Chính
phủ, đứng đầu bộ trong quản lý và điều hành.
- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại tổ
chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhệm của địa phương, đồng
thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương. Xây dựng chính
quyền cấp xã phường vững mạnh.
- Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ thống tổ
chức và hoạt động của Viện liểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân. Bảo đảm các
điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm tốt
nhiệm vụ.
- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành chính, sự
nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả
- Tiếp tục tiến hành kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phòng chống tham
nhũng. Phương hướng cơ bản để khắc phụ tệ nạn tham nhũng là phải xây dựng
và hoàn chỉnh bộ máy, cơ chế quản lý và pháp luật
1.3. Pháp luật Nhà nước về cải cách bộ máy hành chính
Cải cách hành chính là nhằm xây dựng một nền hành chính dựa trên nguyên
tắc tập trung dân chủ, được vận dụng theo những phương thức khác nhau như
tập quyền, tphân quyền, tản quyền, ủy quyền – một nền hành chính trong tổng
thể hệ thống chính trị trong đó nhân dân làm chủ thông qua Nhà nước. Nhà nước
là cơ quan công quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản Việt Nam- Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội.
Để cải cách bộ máy hành chính một cách toàn diện và có hiệu quả cao thì
pháp luật đóng vai trò rất quan trọng. Hiện nay có rất nhiều các văn bản luật quy
64
định về vấn đề cái cách bộ máy hành chính như:
Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22 tháng 05 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2011 – 2020
Quyết định số 442/QĐ-TTg ngày 28 tháng 03 năm 2014 của Thủ tướng
Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ
Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 4/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020
Quyết định số 559/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt "Đề án đơn giản hóa chế độ báo cáo trong hoạt động của
các cơ quan hành chính Nhà nước"
Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 thực
hiện tại các bộ, ngành, địa phương năm 2017
Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2017 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, cải
cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại một số Nghị
quyết của Chính phủ
Nghị quyết 10/NQ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2018 Ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10
năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
65
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;
Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Bộ Chính trị thực
hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24 tháng 11
năm 2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
1.3.1. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011-2020 do nhà nước đề ra với những mục tiêu sau:
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
- Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch
nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính.
- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân
chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan
hành chính nhà nước.
- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con
người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và
trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.
Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế;
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức,
viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng
dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công cộng.
66
Cụ thể trong Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
a) Tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà
nước ở trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp
xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống
hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những công
việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp
cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;
b) Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền
địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng mô
hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp.
Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên, khoáng
sản quốc gia; quy hoạch và có định hướng phát triển; tăng cường giám sát, kiểm
tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao
năng lực của từng cấp, từng ngành;
c) Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước;
thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ
chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào
năm 2020;
d) Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chất lượng dịch vụ công từng bước được
67
nâng cao, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của cá
nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo
dục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020.
II. Thực tế triển khai thực hiện, kết quả, ưu điểm, nhược điểm và phương
hướng
2.1. Thực tế triển khai thực hiện.
Thời gian qua, cơ cấu tổ chức của Chính phủ được giữ ổn định, tổ chức Bộ quản
lý đa ngành, đa lĩnh vực, bước đầu khắc phục được những chồng chéo hoặc bỏ
trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý, nhưng vẫn chậm
được điều chỉnh theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hơn; chưa
khắc phục được một cách triệt để những chồng chéo, giao thoa về chức năng,
nhiệm vụ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ.
Cơ chế “chủ trì, phối hợp” trong quản lý nhà nước còn phổ biến, nguyên tắc
một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính chưa
được phát huy mạnh mẽ nên vẫn phải hội họp nhiều, quy trình xử lý công việc
chậm.
Báo cáo của Chính phủ cho thấy, từ nhiệm kỳ khóa XII đến nay, cơ cấu tổ
chức của Chính phủ được sắp xếp theo hướng thu gọn đầu mối, gồm 18 bộ, 4 cơ
quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ.
Tuy nhiên, trong buổi làm việc với Chính phủ vào tháng 8/2017, Đoàn giám
sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ
máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2016 đã chỉ ra rằng cơ cấu tổ chức
của Chính phủ vẫn chưa có sự đổi mới, thích ứng tương xứng theo hướng tinh
gọn hơn, tập trung hơn vào quản lý vĩ mô, hoạch định chính sách, giảm bớt các
nội dung mang tính tác nghiệp, quản lý, điều hành trực tiếp.
Việc sắp xếp, sáp nhập các bộ thành bộ quản lý đa ngành chưa đi liền với
việc điều chỉnh sâu về chức năng, cắt giảm, lồng ghép nhiệm vụ nên có cơ quan 68
vẫn bị quá tải do các công việc cụ thể, sự vụ ở tầm vi mô, đáng ra có thể phân
cấp cho địa phương. Chủ trương xã hội hóa và phân cấp mạnh hơn cho chính
quyền địa phương chưa được triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả.
Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy bên trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nặng nề,
nhiều đầu mối, số đơn vị trực thuộc tăng lên với nhiều đơn vị có tư cách pháp
nhân (198 đơn vị/22 bộ, cơ quan ngang bộ) dẫn đến tình trạng “bộ trong bộ”, các
lĩnh vực công tác bị chia nhỏ, cắt khúc, thiếu tính bao quát chung.
Một nội dung chuyên môn do chuyên viên xử lý để được báo cáo lên Bộ
trưởng thường phải trải qua 7-8 quy trình, làm cho việc xử lý mất nhiều thời
gian.
Chỉ tính trong 5 năm (2011-2016), số đơn vị hành chính thuộc bộ, cơ quan
ngang bộ đã tăng 28 đơn vị, trung bình mỗi cơ quan tăng thêm 1,1 đơn vị. Số
lượng các đơn vị hành chính trực thuộc tổng cục tăng 822 đơn vị. Tính đến
tháng 6/2017, cả nước có đến 42 tổng cục, tăng 100% so với nhiệm kỳ Chính
phủ khóa XI. Số lượng các vụ, cục, phòng tăng từ 4,7% đến 13,6% so với năm
2011.
Số đơn vị hành chính thuộc bộ, cơ quan ngang bộ ở thời điểm cuối năm 2016
là 510; số vụ, cục, chi cục thuộc tổng cục là 3.867. Cùng với đó, xu hướng nâng
cấp vụ lên cục diễn ra nhanh ở nhiều bộ, có đến 29 cục được thành lập trong thời
gian này, trong đó Bộ Công an tăng 7 cục, Bộ Tư pháp tăng 4 cục, Bộ Thông tin
- Truyền thông và Bộ Y tế đều tăng 3 cục...
Việc tăng số cục trong bộ đã dẫn đến tổ chức thêm nhiều đơn vị cấp phòng
trong cục (trong 5 năm tăng 180 đơn vị, tháng 12/2016 có 958 phòng thuộc cục),
tăng biên chế, chi phí hành chính, trong khi chức năng, nhiệm vụ không thay
69
đổi.
Thực hiện Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, cơ cấu
lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên nguyên tắc “cơ bản không để cấp
phòng trong các đơn vị tham mưu thuộc cơ quan trung ương”, số lượng phòng
trong vụ chuyên môn đã giảm nhưng vẫn duy trì tới 945 phòng trong các vụ
tham mưu, chưa thực hiện đúng yêu cầu của Nghị quyết. Chỉ có 99/344 vụ là
không tổ chức phòng (chiếm 28,8%).
Mặc dù số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có giảm,
nhưng số lượng cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và số chi cục, phòng thuộc cơ
quan chuyên môn cấp tỉnh có xu hướng tăng, từ năm 2011 đến năm 2016 tăng
34 cơ quan chuyển môn cấp tỉnh, 85 phòng và tương đương, 16 chi cục thuộc cơ
quan chuyên môn cấp tỉnh. Trung bình một cơ quan có 8,1 phòng và tương
đương trực thuộc.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước có được nâng lên, nhưng so với yêu cầu của tình hình mới thì chưa đạt,
chất lượng bộ máy chưa tương xứng với đầu tư từ ngân sách, có xu thế bộ máy
ngày càng trở nên cồng kềnh, dẫn tới quan liêu, xa rời thực tiễn.Chồng chéo, đùn
đẩy trách nhiệm
Điều đáng nói là dù bộ máy “phình” ra nhưng lại không bao quát được hết
các lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2011, có hai
vấn đề bỏ trống quản lý nhà nước và cho đến tháng 8/2017 mới khắc phục được
điều này. Hiện còn 18 vấn đề có sự giao thoa, chồng chéo trong quản lý hoặc có
ý kiến khác nhau giữa các bộ, ngành về phân định nhiệm vụ.Trên thực tế, nhiều
trường hợp một lĩnh vực được giao cho từ 2 đến 3 bộ cùng phụ trách
Một thực trạng nữa đang hiển hiện trong bộ máy, đó là nhiều tổ chức phối
hợp liên ngành, trong đó có tổ chức hoặc văn phòng giúp việc hoạt động chuyên
70
trách, làm phát sinh tổ chức bộ máy và biên chế. Cơ chế xác định trách nhiệm
“chủ trì, phối hợp” đã dẫn đến hình thành thêm nhiều tổ chức phối hợp liên
ngành và tình trạng đùn đẩy trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các cơ quan.
2.2. Kết quả của quá trình cải cách bộ máy hành chính
Kết quả to lớn của công cuộc cải cách bộ máy hành chính mà nhà nước ta đã
đạt được là :
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ
thống hành chính nhà nước phù hợp với điều kiện mới.
Đối với chính quyền ở trung ương : Ngày 18/4/2012, Chính phủ ban hành
Nghị định số 36/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; Chính phủ đã ban hành 25 nghị định quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 25 bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Thôngqua đó, mô hình bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực tiếp tục khẳng định tính phù hợp trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách
hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan hành chính. Theo
quy định của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã
kiện toàn tổ chức bộ máy của mình theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Đối với hệ thống tổ chức ở địa phương Chính phủ đã ban hành Nghị định số
24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 và Nghị định số 37/2014/ NĐ-CP ngày
05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện, tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, kiện
toàn tổ chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, bảo đảm tổ chức quản
lý thống nhất, thông suốt đối với ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương.
Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức Chính phủ,
Luật tổ chức chính quyền địa phương. Đây là những luật có tinh thần cải cách
71
mạnh mẽ, được thực thi trong thời gian tới sẽ góp phần xây dựng bộ máy hành
chính từ Trung ương đến địa phương thống nhất, thông suốt, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ mới.
Công tác quản lý biên chế đã được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đặc biệt
là sau khi có Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Ngày 20/11/2014 Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.
Bộ Nội vụ đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số
01/2015/TTLT-BNV-BTC ngày 14/4/2015 hướng dẫn thực hiện. Bộ Nội vụ đã
xây dựng trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015,
trong đó xác định rõ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp đồng bộ để thực hiện
tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tiếp tục được thực hiện có hiệu quả trên các lĩnh vực
quản lý nhà nước, bảo đảm tính tự chủ trong tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương và phát huy sự năng động, sáng tạo trong thực hiện chức năng
quản lý nhà nước của bộ máy hành chính các cấp ở địa phương. Thông qua đó,
giảm bớt các công việc có tính sự vụ để các bộ, ngành trung ương tập trung vào
khâu xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và thực hiện thanh tra, kiểm tra,
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực.
2.3. Ưu điểm của cải cách bộ máy hành chính
2.3.1. Vai trò và chức năng của bộ máy hành chính có những đổi mới tích cực.
Các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước được xác định chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng : chuyển được một số công việc,
72
dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cho
doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận, ví dụ như có các
văn phòng công chứng tư…
Cơ cấu tổ chức chính phủ thu gọn hợp lý theo nguyên tắc bộ quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý quy mô trên toàn xã
hội bằng pháp luật chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà
nước được điều chỉnh từng bước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong
kinh tế thị trường.
Chính phủ, các bộ đã tập trung nhiều hơn vào thực hiện chức năng quản lý
nhà nước vĩ mô trong phạm vi cả nước, trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội. Tập trung thời gian và nguồn lực vào việc thực hiện chức năng chính của
mình là xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng và ban hành cơ chế,
chính sách, thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đã thực hiện điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước giữa các cấp hành
chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn, trên nguyên tắc mỗi việc chỉ do một
cơ quan phụ trách, khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.
Bộ của các bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng,
phương hướng hoạt động của các bộ phận tham mưu thực thi chính sách cung
cấp dịch vụ công.
Đến nay, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về
phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các
cấp chính quyền địa phương, định rõ chức năng, nhiệm vụ.
2.3.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa
73
phương được điều chỉnh, Sắp xếp tinh gọn, hợp lý hơn.
Đồng thời với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, từng bước làm rõ phạm vi
à nội dung chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, trong những năm qua
đã tiến hành nhiều đợt sắp xếp, điều chỉnh lại tổ chức bộ máy các cơ quan hành
chính nhà nước.
Trên cơ sở quán triệt nguyên tắc tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực, cơ cấu tổ
chức Chính phủ được điều chỉnh, thu gọn..
Cơ cấu bên trong các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương
cũng có bước điều chỉnh theo hướng phân biệt rõ các đơn vị thực hiện chức năng
quản lý nhà nước với các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công.
2.3.4. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
được nâng lên.
Công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thời gian qua được
quan tâm triển khai trên diện rộng, kêt hợp huy động nhiều giải pháp và đã đạt
được một số kết quả tích cực. Năm 1986, số lượng cán bộ, công chức hành chính,
sự nghiệp là 1,2 triệu người, hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức,
viên chức.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã có sự phân loại rõ đối tượng cán bộ,
công chức,tạo căn cứ pháp lý để định ra yêu cầu, tiêu chuẩn về trình độ, năng
lực chuyên môn, phẩm chất và chế độ, chính sách đãi ngộ tương ứng ( cán bộ
qua bâu cử, công chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh
đạo trong doanh nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cở cấp xã).
2.3.5. Phương thức hoạt động của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và Uỷ
74
ban nhân dân các cấp có bước đổi mới.
Tinh thần xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước là giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động
của thị trườn và doanh nghiệp. Các cơ quan nhà nước tập trung làm tốt chức
năng định hướng phát triển, tạo lập môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách thuận
lợi để phát huy các nguồn lực,tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Việc triển khai quy chế công khai tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở và
trong cơ quan hành chính nhà nước đã có tác dụng tích cực góp phần đổi mới
mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, quan hệ giữa cơ quan
hành chính nhà nước với nhau trong quá trình tổ chức thực hiện công việc và
thực thi công vụ.
4. Hạn chế của cải cách bộ máy hành chính
Bên cạnh những ưu điểm trên đây, công tác cải cách hành chính của tỉnh còn
một số hạn chế. Cải cách hành chính vẫn còn nhiều hạn chế, thủ tục hành chính
còn rườm rà; bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, tinh giản biên chế còn chậm;
chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý.
Trong cải cách hành chính chưa có bước đột phá, một số lĩnh vực người
dân, tổ chức chưa hài lòng, thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực còn
rườm rà;
Giải quyết công việc ở một số cơ quan, đơn vị còn chậm thời gian; thực
hiện cơ chế một cửa ở một số cơ quan, đơn vị chưa tốt;
Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa đáp ứng yêu cầu tinh giản, gọn nhẹ;
Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng công tác, kiến thức hành chính còn hạn chế; chưa chủ
động và tích cực trong công việc, tinh thần trách nhiệm chưa cao, thái độ
chưa đúng mực, thậm chí có biểu hiện sách nhiễu, gây phiền hà, tiêu cực,
75
việc kiểm tra, phát hiện, xử lý chưa kịp thời;
Kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số cơ quan, đơn vị chưa nghiêm;
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách có nơi chưa
được quan tâm đúng mức, hiệu quả còn hạn chế.
Việc phân cấp phân quyền tuy chủ trương đã rõ nhưng việc thực hiện
chưa thực sự hiệu quả chưa đi và cuộc sống
5.Phương hướng của cái cách bộ máy hành chính
Cần chuyển đổi mạnh mẽ, cơ bản vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy
hành chính nhà nước cũng như của mỗi cơ quan hành chính để phù hợp hơn với
yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường và dân chủ hóa đời sống xã hội.
Trước hết cần điều chỉnh vai trò và chức năng của Chính phủ để đảm bảo
“Chính phủ nhỏ cho xã hội lớn”. Đây là vấn đề then chốt trong việc đổi mới thể
chế quản lý hành chính nhà nước, vì với sự thay đổi của chức năng Chính phủ,
các vấn đề khác như cơ cấu bộ máy hành chính, phương thức quản lý hành chính,
cán bộ viên chức hành chính... đều phải có sự thay đổi tương ứng, kể cả thực
chất mối quan hệ công việc giữa nhà nước và doanh nghiệp, nhà nước và thị
trường, nhà nước và xã hội, nhà nước và nhân dân.
Với những yêu cầu của giai đoạn mới, chức năng của Chính phủ cần được xác
định chính xác, làm cơ sở cho việc hoàn chỉnh khung CCHC. Về cơ bản chức
năng chung và chủ yếu của Chính phủ là quản lý nhà nước, bao gồm các mặt:
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế, khi chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò của Chính phủ phải
chuyển dần từ chỗ là tác nhân kinh tế chính sang vai trò người thúc đẩy
phát triển, người trọng tài kinh tế.
Trong lĩnh vực quản lý chính trị, vai trò của Chính phủ cần chuyển dần
76
từ người cho phép, người gia ân sang người bảo đảm, người tạo điều
kiện cho mọi công dân thực hiện được các quyền cơ bản theo luật pháp,
đặc biệt là các quyền tự do, dân chủ.
Trong lĩnh vực xã hội, vai trò của Chính phủ cần chuyển dần từ người
phân phát phúc lợi đồng đều và hạn chế sang người đảm bảo an sinh xã
hội cho mọi người, cung cấp dịch vụ sự nghiệp tổi thiểu, đồng thời bảo
đảm nguồn dịch vụ khác theo yêu cầu cho toàn xã hội.
Phân cấp giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là một tất yếu
khách quan nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, là một xu thế
của thời đại chống lại một nhà nước tập quyền lỗi thời bằng việc phát huy quyền
dân chủ trực tiếp của công dân. Phân cấp nhằm bảo đảm yêu cầu tiện lợi trong
mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân; nâng cao tính chủ động, tự chịu trách
nhiệm của các cấp chính quyền địa phương; phát huy mọi lợi thế riêng có về vật
chất, tinh thần và trí tuệ của nhân dân địa phương; bảo đảm cho nhân dân được
tham gia trực tiếp với chính quyền trong phát triển kinh tế - xã hội, trong xây
dựng cuộc sống cộng đồng; tạo động lực thi đua và hợp tác lành mạnh, thúc đẩy
các địa phương cùng phát triển. Để công tác phân cấp có hiệu quả, cần quán triệt
một số nguyên tắc và định hướng chủ yếu sau đây:
Nâng cao nhận thức của các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa
phương về một nền hành chính thống nhất có sự phân cấp hợp lý quyền hạn và
trách nhiệm nhằm thực hiện mục đích phát huy tính tập trung điều hành của
Chính phủ với việc phát huy sáng tạo, chủ động của hội đồng nhân dân và uỷ
ban nhân dân các địa phương. Cấp Trung ương cần tập trung vào việc xây dựng
thể chế và các lĩnh vực thuộc lợi ích của quốc gia như ngoại giao, quốc phòng,
an ninh; các lĩnh vực khác thì phân cấp cụ thể. Việc xử lý vụ, việc trong quan hệ
với dân và doanh nghiệp nên phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương.Cần
bảo đảm tính thống nhất về tất cả các chủ trương, chính sách của Nhà nước,
77
không để cùng một chủ trương mà các nơi thực hiện khác nhau. Khi phân cấp,
cần bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện, bao gồm các điều kiện về pháp
chế như quy định rõ các quyền hạn và nhiệm vụ có liên quan, các điều kiện về
tài chính, các điều kiện về cán bộ để đảm đương được nhiệm vụ, các điều kiện
về quy hoạch chi tiết, về lộ trình cụ thể ... để cơ quan được phân cấp không thể
làm khác chủ trương chung, đồng thời cũng không bị vướng mắc về chuyên môn
trong khi thực hiện.
1.3.2. Kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2011-2020 về cải cách bộ máy hành chính
1.3.2.1. Kết quả chủ yếu đã đạt được
a) Việc xây dựng, ban hành các quy định về tổ chức bộ máy
Thời gian qua, một loạt chủ trương của Đảng và chính sách của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã được đưa ra nhằm đẩy mạnh hơn nữa cải cách tổ chức bộ máy
hành chính nhà nước, đó là: Rà soát chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức; phân cấp
mạnh, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương; tinh giản biên chế, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Cũng trong giai đoạn này, Quốc hội đã thực
hiện công tác giám sát tối cao, với chủ đề là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp
luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2016.
Việc xây dựng và ban hành các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu
tổ chức các bộ, ngành trung ương về cơ bản khắc phục được những tồn tại, hạn chế của
các giai đoạn trước, bổ khuyết những thiếu sót thể chế về tổ chức và bộ máy, bảo đảm
bao quát đầy đủ chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ, đồng thời phân định rõ
phạm vi chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực giữa các bộ, cơ quan ngang
bộ trên cơ sở thực hiện nguyên tắc một việc chỉ do một cơ quan chủ trì, chịu trách
nhiệm chính, các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện.
b) Rà soát vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và kiện toàn hệ thống tổ chức bộ
máy
78
Các bộ, ngành và địa phương đã chủ động thực hiện việc rà soát chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Một số địa phương đã báo cáo cấp có
thẩm quyền cho phép điều chỉnh hoặc thí điểm điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức bộ máy của một số cơ quan, đơn vị cho phù hợp với tình hình
thực tế của địa phương mình(25). Việc sắp xếp, kiện toàn, từng đợt tăng hoặc giảm tổ
chức kể cả tổ chức hành chính và ĐVSNCL ở các bộ, ngành trung ương và chính
quyền địa phương các cấp đã được thực hiện có kết quả.
Biểu đồ 5: So sánh số lượng các tổ chức hành
Biểu đồ 6: Biến động tăng/giảm số
chính thuộc bộ, cơ quan ngang bộ qua các
lượng các tổ chức hành chính
giai đoạn
thuộc bộ, cơ quan ngang bộ qua
các giai đoạn
25 Thành phố Hồ Chí Minh đã điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông vận tải khác với Nghị định số 24/2014/NĐ-CP; điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ của các phòng Tài chính - Kế hoạch, Văn hóa - Thông tin, Kinh tế khác với Nghị định số 37/2014/NĐ-CP; 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Sở Du lịch. Việc nhập các trung tâm thuộc các linh vực y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn ở huyện được thực hiện ở nhiều địa phương.
79
Biểu đồ 7: So sánh số lượng các tổ chức hành chính cấp tỉnh qua các giai đoạn
Biểu đồ 8: So sánh các tổ chức hành chính cấp huyện qua các giai đoạn
80
Biểu đồ 9: So sánh số lượng ĐVSNCL của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
qua các giai đoạn
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017, Hội nghị lần thứ
6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
(gọi tắt là Nghị quyết số 18-NQ/TW) đã đạt được những kết quả quan trọng. Hệ thống
các văn bản chỉ đạo, triển khai đã được ban hành tương đối đồng bộ, tạo điều kiện
thuận lợi để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra(26). Việc đổi mới,
sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW
gắn với tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ
Chính trị khóa XI về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức đã giảm được nhiều đầu mối và giảm đáng kể biên chế của các cơ quan, tổ chức
trong hệ thống chính trị và bộ máy hành chính nhà nước. Đánh giá kết quả thực hiện
Nghị quyết số 18-NQ/TW, so sánh thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2019 với thời
điểm ngày 31 tháng 12 năm 2017, các bộ, cơ quan ngang bộ (không tính Bộ Quốc
phòng và Bộ Công an(27)): Giảm 12 vụ và tương đương; giảm 10 ĐVSNCL. Về tổ chức
hành chính của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (so sánh thời điểm ngày 30
tháng 6 năm 2019 với thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017): Giảm 05 tổ chức cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; giảm 973 tổ chức cấp phòng; 127 tổ chức cấp chi
cục; 1.179 tổ chức cấp phòng thuộc chi cục; ở cấp huyện: Giảm 294 tổ chức cấp cơ
quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.
26 Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; Kết luận số 17-KL/TW ngày 11/9/2018 về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015 - 2016, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017 - 2021; Kết luận số 34-KL/TW ngày 07/8/2018 của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Kế hoạch số 07-KH/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội; Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 về ban hành kế hoạch thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021; Văn bản số 2115/BNV-CQĐP ngày 16/5/2019 của Bộ Nội vụ hướng dẫn mẫu hồ sơ đề án sắp xếp các ĐVHC cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021....
27 Trong giai đoạn 2011 - 2020, tổ chức bộ máy lực lượng Công an đã giảm 06 tổng cục, 01 đơn vị tương đương tổng cục, 55 đơn vị cấp cục, 20 Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh, 07 trường Công an nhân dân.
81
Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa
phương đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIV, tạo cơ sở pháp lý
quan trọng cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính ở trung ương và địa phương.
Bộ Nội vụ cũng đã ban hành văn bản về việc đăng ký thí điểm hợp nhất các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; đã tham mưu cho các cấp có thẩm
quyền ban hành các văn bản và ban hành văn bản theo thẩm quyền trong việc tổ chức
thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã. Ngày 12 tháng 3 năm 2019,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH về việc
sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021. Theo đó,
có 45 tỉnh, thành phố xây dựng đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã
trong giai đoạn 2019 - 2021. Bộ Nội vụ đã tham mưu trình Chính phủ để trình Ủy ban
Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định và ban hành các nghị quyết sắp xếp đơn vị
hành chính cấp huyện, cấp xã của 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đến
tháng 12 năm 2020, đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp
huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021. Ở cấp huyện, đã tiến hành sắp xếp đối với
21 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó: Có 09 đơn vị thuộc diện phải sắp xếp, 03
đơn vị thuộc diện khuyến khích sắp xếp và 09 đơn vị liền kề có liên quan đến sắp xếp),
kết quả số lượng đơn vị hành chính cấp huyện giảm là 08 đơn vị. Trong đó: Tỉnh Cao
Bằng giảm 03 huyện; thành phố Hồ Chí Minh giảm 02 quận; tỉnh Quảng Ngãi giảm 01
huyện; tỉnh Quảng Ninh giảm 01 huyện; tỉnh Hòa Bình giảm 01 huyện; các tỉnh Yên
Bái, Điện Biên có điều chỉnh địa giới để sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện
nhưng không làm giảm số lượng đơn vị hành chính cấp huyện.
Đối với cấp xã, đã tiến hành sắp xếp đối với 1.047 đơn vị hành chính cấp xã (trong
đó: Có 541 đơn vị thuộc diện phải sắp xếp, 113 đơn vị thuộc diện khuyến khích sắp
xếp và 393 đơn vị liền kề có liên quan đến sắp xếp), kết quả giảm 557 đơn vị. Trong
đó có những tỉnh giảm nhiều đơn vị hành chính cấp xã, như: Hòa Bình giảm 59 đơn vị,
tỷ lệ giảm 28,09%; Cao Bằng giảm 38 đơn vị, tỷ lệ giảm 19,10%; Phú Thọ giảm 52
đơn vị, tỷ lệ giảm 18,77%; Hà Tĩnh giảm 46 đơn vị, tỷ lệ giảm 17,56%; Thanh Hóa
giảm 76 đơn vị, tỷ lệ giảm 11,97%; Quảng Trị giảm 16 đơn vị, tỷ lệ giảm 11,35%;
82
Lạng Sơn giảm 26 đơn vị, tỷ lệ giảm 11,50%; Hải Dương giảm 29 đơn vị, tỷ lệ giảm
10,98%,...
Trong giai đoạn này, UBND các cấp và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện
được sắp xếp, kiện toàn, cơ bản theo đúng quy định, bước đầu đã tính đến đặc điểm
của đơn vị hành chính ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp tỉnh, cấp huyện về cơ bản được giữ ổn định tương tự nhiệm kỳ 2007 -
2011, thực hiện theo đúng các nghị định của Chính phủ(28), không nhất thiết trung
ương có tổ chức, cơ quan nào thì địa phương có tổ chức, cơ quan đó.
Về biên chế công chức (tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2020): Các bộ, ngành trung
ương giảm 10.284 người so với số giao năm 2015; các địa phương giảm 13.612 người
so với số giao năm 2015.
Quy chế làm việc của Chính phủ qua các nhiệm kỳ thường xuyên được cập nhật,
sửa đổi, bổ sung các quy định cần thiết cho phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả chỉ đạo điều hành, hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và
các thành viên Chính phủ(29). Đồng thời, góp phần đổi mới phương thức làm việc của
cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới chính quyền địa phương các cấp.
c) Đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương
Nhìn chung, mô hình tổ chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện được thực
hiện đúng theo các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bộ máy cơ bản
đảm bảo tinh gọn; hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng cao gắn với tinh giản biên
chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hoạt
động của UBND luôn được thực hiện nghiêm túc theo quy chế làm việc được xây
dựng từ đầu nhiệm kỳ. Chất lượng, hiệu quả trong điều hành, quản lý hành chính nhà
nước được nâng lên. Mối quan hệ công tác giữa các sở, ban, ngành tỉnh với UBND cấp
huyện và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; và với UBND cấp xã được
28 Gồm có: Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014; Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014; Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ; Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ.
29 Nghị định số 179/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007; Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16/02/2012; Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01/10/2016.
83
củng cố, gắn kết chặt chẽ, đảm bảo tính linh hoạt trong thực thi nhiệm vụ, tạo sự
chuyển biến tích cực trong giải quyết các công việc phối hợp liên ngành, góp phần
thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch trên địa bàn địa
phương.
Nhằm tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế về tổ chức chính quyền địa
phương theo hướng phân định rõ hơn tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn,
hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo quy định tại Nghị quyết số
18-NQ/TW, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27 tháng 11
năm 2019 về thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, thực
hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thí
điểm. Theo Nghị quyết, chính quyền địa phương ở thành phố Hà Nội, huyện, quận, thị
xã, xã, thị trấn là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và
UBND; chính quyền địa phương ở 177 phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà
Nội là UBND phường. Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số
119/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền
đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng. Tại kỳ họp
thứ 10, Quốc hội khóa XIV, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét Nghị quyết của
Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc Thành phố Hồ Chí
Minh và thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 09 tháng
12 năm 2020, tại Phiên họp thứ 51, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiến hành biểu
quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã
và thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
d) Về phân cấp quản lý
Giai đoạn vừa qua, bên cạnh việc rà soát để khắc phục chồng chéo, trùng lắp về
chức năng, nhiệm vụ, các bộ, ngành đã có những đề xuất cụ thể với Chính phủ đẩy
mạnh việc phân cấp. Một số công việc trước đây do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
giải quyết, nay đã được chuyển cho các bộ, ngành trung ương và phân cấp cho chính
quyền địa phương thực hiện(30). Cùng với việc đẩy mạnh phân cấp, Chính phủ tăng
30 Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/3/2016 của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
84
cường giải quyết các vấn đề có tính chiến lược, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với
các nhiệm vụ đã phân cấp cho địa phương. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế
theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ giao kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2014. Để đôn
đốc việc thực hiện Quyết định nêu trên, ngày 19 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Chính
phủ đã thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm
vụ, kết
luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số
1642/QĐ-TTg). Các bộ, ngành và địa phương cũng thường xuyên thành lập đoàn tiến
hành kiểm tra phân cấp hoặc lồng ghép với các nội dung kiểm tra chung về công tác tổ
chức bộ máy.
đ) Về kiểm tra, đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị
thuộc bộ, ngành và địa phương
Các bộ, ngành và địa phương thường xuyên ban hành kế hoạch kiểm tra và tổ chức
thực hiện việc kiểm tra, đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn
vị thuộc và trực thuộc. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chỉ đạo lồng ghép kiểm tra về
tổ chức bộ máy, về công tác tổ chức, quản lý, sử dụng công chức, viên chức, công tác
cải cách hành chính và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
e) Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
đơn vị sự nghiệp dịch vụ công
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quyết định về
cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, nhất là các văn bản gần đây trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ, kinh tế và sự nghiệp khác. Theo đó, hệ thống các ĐVSNCL thuộc bộ,
ngành, địa phương từng bước được sắp xếp, đổi mới và bước đầu triển khai thực hiện
cơ chế tự chủ trên một số lĩnh vực. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch
mạng lưới ĐVSNCL thuộc một số ngành, lĩnh vực và một số danh mục dịch vụ sự
nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý. Trên cơ sở đó, các
bộ, ngành, địa phương đã tiến hành rà soát, xây dựng đề án thành lập, tổ chức lại và
giải thể các ĐVSNCL để nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó, số ĐVSNCL thuộc
UBND và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh cũng có xu hướng giảm.
85
Số lượng các ĐVSNCL được giao quyền tự chủ về tài chính bước đầu đã có sự
chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2011 - 2015, cả nước có 30.219 đơn vị sự nghiệp
được giao tự chủ tài chính, tăng 7.609 đơn vị so với năm 2006; trong đó, 1.114 đơn
vị tự bảo đảm chi phí hoạt động, tăng 322 đơn vị so với năm 2006. Đến năm 2016,
triển khai Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP, Nghị định số
141/2016/NĐ-CP, có 109 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 1.878
đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; 12.841 đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường
xuyên.
Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ 6 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản
lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL” đã đạt được những
kết quả tích cực. So sánh thời điểm ngày 29 tháng 02 năm 2020 với năm 2017 và năm
2015 cho thấy: Số lượng ĐVSNCL thuộc các bộ, ngành là 1.045 đơn vị, giảm 44 đơn
vị so với năm 2017 và giảm 53 đơn vị so với năm 2015. Trong khi đó, số lượng
ĐVSNCL thuộc các địa phương là 49.445 đơn vị, giảm 4.670 đơn vị so với năm 2017
và giảm 6.189 đơn vị so với năm 2015. Trong tổng số ĐVSNCL của cả nước, có
12.267 ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; 2.494 ĐVSNCL tự bảo đảm
chi thường xuyên và 253 ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Như vậy, tính đến ngày 29 tháng 02 năm 2020 kết quả sắp xếp tổ chức lại các
ĐVSNCL của các bộ ngành, địa phương trong cả nước đã giảm 11% so với năm 2015,
đạt được mục tiêu của Nghị quyết đến năm 2021 tối thiểu bình quân cả nước giảm
10% đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, mới chỉ có các địa phương đạt mục tiêu
của Nghị quyết (giảm được 11,12% ĐVSNCL so với năm 2015), còn các bộ, ngành
mới giảm 5,19% ĐVSNCL so với năm 2015.
g) Việc chuyển giao những nhiệm vụ từ cơ quan hành chính nhà nước sang doanh
nghiệp, các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chương trình tổng thể, nhiều bộ, ngành và địa
phương đã chủ động nghiên cứu, tổ chức thực hiện có hiệu quả đề án thí điểm chuyển
giao một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải
86
thực hiện sang cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Theo thống kê, đến
tháng 3 năm 2020 đã có 38 địa phương(31) triển khai thí điểm việc tiếp nhận và trả kết
quả giải quyết hồ sơ TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích ở các mức độ khác nhau(32),
từng bước góp phần cải tiến phương thức làm việc của cơ quan hành chính, tinh giản
biên chế và nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ TTHC cho người dân, tổ chức.
1.3.2.2. Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Tổ chức bộ từ 2007 đến nay vẫn giữ nguyên số lượng, mặc dù có khả năng tinh gọn
hơn. Bộ máy bên trong bộ, cơ quan ngang bộ còn cồng kềnh, nhiều đầu mối, số đơn
vị trực thuộc tăng lên với nhiều đơn vị có tư cách pháp nhân, làm cho tình trạng “Bộ
trong Bộ” vốn là hạn chế chưa khắc phục được của việc sáp nhập các bộ, cơ quan từ
giai đoạn trước càng nặng nề thêm. Mô hình tổ chức tổng cục, cục, vụ không thống
nhất.
- Nhiều vấn đề tổ chức bộ máy hành chính nhà nước chưa được quy định, hướng dẫn
đầy đủ, cụ thể trong các văn bản pháp luật. Một số VBQPPL về công tác tổ chức bộ
máy có nội dung không thống nhất, một số văn bản pháp luật có nội dung mâu thuẫn,
gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện tại địa phương. Việc ban hành không kịp
thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện các quy định về tổ chức bộ
máy đã dẫn đến tình trạng bị động, làm giảm tính đồng bộ khi triển khai kiện toàn tổ
chức bộ máy ở các cơ quan, các địa phương.
- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn chậm được điều chỉnh theo hướng tinh gọn,
nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động; chưa khắc phục được một cách triệt
để những chồng chéo, giao thoa về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, cơ quan ngang
31 Đồng Tháp, Kiên Giang, Vinh Long, An Giang, Hậu Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Phú Yên, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lào Cai, Hà Tinh, Hưng Yên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Hải Dương, Tây Ninh, Trà Vinh, Cần Thơ, Sơn La, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế.
32 Cụ thể với các nội dung: (1) Kết hợp đặt trụ sở Bộ phận Một cửa các cấp tại trụ sở của Bưu điện (đã triển khai tại 14 Trung tâm Hành chính công, 28 Bộ phận Một cửa cấp huyện, 48 Bộ phận Một cửa cấp xã); (2) Bố trí nhân viên bưu điện hỗ trợ công chức, viên chức tại Bộ phận Một cửa các cấp trong việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả (tại 16 Trung tâm Hành chính công, 36 Bộ phận Một cửa cấp huyện, 38 Bộ phận Một cửa cấp xã); (3) Hỗ trợ, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ công trực tuyến.
87
bộ; nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm
chính chưa được phát huy mạnh mẽ nên vẫn phải phối hợp, họp nhiều, quy trình xử lý
công việc chậm.
- Chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của chính quyền địa phương được xác định và
kiện toàn theo Hiến pháp và luật, bước đầu thực hiện cơ chế phân quyền, phân cấp,
ủy quyền nhưng chưa đồng bộ và triệt để. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện
chưa được hoàn thiện theo hướng phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và phù hợp
với đặc thù của địa phương, mà cơ bản được tổ chức đồng nhất như nhau, chưa thật
phù hợp với tinh thần Kết luận số 64-KL/TW.
- Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa và đổi mới, sắp xếp lại khu vực các đơn vị sự
nghiệp công lập còn chậm, hiệu quả thấp. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các đơn vị sự nghiệp công lập chưa được đẩy mạnh; số lượng người làm việc trong
các ĐVSNCL vẫn tăng về số lượng, nhất là ở các địa phương.
b) Nguyên nhân
- Mô hình tổng thể về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa được hoàn thiện,
một số bộ phận, lĩnh vực chưa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Nhận
thức, ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ, toàn diện về
yêu cầu đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
- Công tác chỉ đạo cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn chưa thực sự
quyết liệt, thiếu đồng bộ, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của nhiều cấp,
nhiều ngành, địa phương trong việc tìm tòi, đề xuất mô hình, phương pháp mới để
nâng cao hiệu quả; còn tâm lý bảo vệ lợi ích cục bộ, nể nang, né tránh, ngại va chạm.
Chưa có cơ chế bảo đảm gắn quyền hạn với trách nhiệm để người đứng đầu có thể
thực hiện mạnh mẽ việc đổi mới tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế.
- Một số chủ trương, chính sách về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
được triển khai không đồng bộ, chưa được đặt trong tổng thể cải cách hành chính nên
hiệu quả thấp. Việc ban hành văn bản thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng,
cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và các luật về tổ chức bộ máy Chính phủ, chính quyền
địa phương còn chậm và chưa đầy đủ. Đồng thời, còn chậm ban hành nghị định quy
88
định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ (trong nhiệm
kỳ 2016 - 2021, đến tháng 7 năm 2017 mới ban hành được 13/30 nghị định); chậm
sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp liên quan đến thực hiện tinh giản biên
chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và đối với người
hoạt động không chuyên trách cấp xã cũng là một trong những nguyên nhân gây khó
khăn cho việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về cải cách tổ chức bộ
máy hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành
30 văn bản(33) có làm phát sinh tổ chức bộ máy hoặc biên chế, trong đó có những
văn bản làm tăng bộ máy và biên chế.
- Việc chia, tách các đơn vị hành chính ở cấp huyện, cấp xã tuy đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và nguyện vọng của địa phương nhưng cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến tăng bộ máy, tăng số cơ quan chuyên môn thuộc UBND
cấp huyện, tăng đơn vị sự nghiệp, biên chế công chức, viên chức và những người
hoạt động không chuyên trách.
- Nhiều địa phương chưa thực hiện đúng quy định của trung ương về rà soát, tinh giản
biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao chất lượng
quản lý nhà nước; một số cơ quan còn bổ nhiệm số lượng cấp phó vượt quy định, tỷ lệ
lãnh đạo nhiều hơn chuyên viên; chưa chủ động đề xuất, kiến nghị với trung ương sửa
đổi, bổ sung các văn bản không phù hợp với thực tế địa phương.
1.3.3. Cải cách bộ máy hành chính giai đoạn 2021-2030
a) Mục tiêu
Tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp,
định rõ việc của cơ quan hành chính nhà nước; phân định rõ mô hình tổ chức chính
quyền nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Tăng cường
đổi mới, cải tiến phương thức làm việc nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước và sắp xếp, tinh gọn hệ thống tổ chức cơ quan hành chính nhà nước
các cấp theo quy định. Đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước; tăng cường rà soát, sắp
33 Báo cáo số 392/BC-CP ngày 22/9/2017 của Chính phủ, Phụ lục XVIII.
89
xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, có cơ cấu hợp lý
và nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Đến năm 2025:
+ Hoàn thành việc nghiên cứu, đề xuất mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống hành
chính nhà nước phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới.
+ Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức, khắc phục
được tình trạng chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ
quan, tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước.
+ Hoàn thành việc sắp xếp thu gọn các đơn vị hành chính cấp huyện, xã và thôn, tổ
dân phố theo tiêu chuẩn quy định.
+ Giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% số lượng đơn vị sự nghiệp công lập và 10%
biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021.
+ Mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính
nhà nước đạt tối thiểu 90%. Mức độ hài lòng của người dân về cung cấp dịch vụ y tế,
giáo dục công lập đạt tối thiểu 85%.
- Đến năm 2030:
+ Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức Chính phủ theo hướng giảm hợp lý đầu
mối các bộ, cơ quan ngang bộ và giảm tương ứng số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; giảm mạnh đầu mối các tổ chức trung gian.
+ Tiếp tục giảm bình quân 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà
nước so với năm 2025.
+ Mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính
nhà nước đạt tối thiểu 95%. Mức độ hài lòng của người dân về cung cấp dịch vụ y tế,
giáo dục công lập đạt tối thiểu 90%
90
+ Phân định rõ và tổ chức thực hiện mô hình chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo và
đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
b) Nhiệm vụ
- Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
+ Nghiên cứu, đề xuất mô hình, cơ cấu tổ chức Chính phủ trong bối cảnh đẩy mạnh
phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số và chủ động tham gia, thích ứng với cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
+ Rà soát, xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan hành chính phải thực hiện, những
công việc cần phân cấp cho địa phương, cấp dưới thực hiện; công việc cần chuyển giao
cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm; trên cơ sở đó thiết kế, sắp xếp tổ
chức bộ máy hành chính phủ hợp ở Trung ương và địa phương.
+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
của một số bộ, ngành, nhất là những bộ, ngành có chức năng, nhiệm vụ tương đồng,
trùng lắp để có giải pháp phù hợp và thực hiện kiện toàn, sắp xếp cơ cấu tổ chức, bảo
đảm tinh gọn các bộ, cơ quan ngang bộ.
+ Các địa phương đã thực hiện thí điểm hợp nhất, sáp nhập các cơ quan chuyên môn
theo Kết luận số 34-KL/TW ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Bộ Chính trị về thực hiện
một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017,
tổng kết việc thực hiện thí điểm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
- Tổ chức sắp xếp, kiện toàn các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước:
+ Tiếp tục triển khai rà soát, sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức các cơ quan, đơn vị,
giảm đầu mối tổ chức trung gian, khắc phục triệt để sự trùng lắp, chồng chéo chức
năng, nhiệm vụ, đảm bảo nguyên tắc một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng
một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
91
+ Tiếp tục thí điểm chuyển giao một số nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà
nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm.
+ Sắp xếp, giảm tối đa các ban quản lý dự án, các tổ chức phối hợp liên ngành, nhất là
các tổ chức có bộ phận giúp việc chuyên trách.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về tổ chức chính quyền địa phương
theo hướng phân định rõ hơn tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo,
đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt:
+ Sắp xếp, kiện toàn, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo quy định
của pháp luật; nghiên cứu, thí điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
+ Ban hành giải pháp khuyến khích sáp nhập, tăng quy mô các đơn vị hành chính các
cấp ở những nơi có đủ điều kiện để nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tăng
cường các nguồn lực của địa phương.
+ Thực hiện sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố phù hợp với yêu cầu quản lý và tổ
chức hoạt động của thôn, tổ dân phố.
+ Thí điểm mô hình chính quyền đô thị trực thuộc cấp tỉnh, đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt ở những nơi có đủ điều kiện.
- Đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động để tinh gọn đầu
mối, khắc phục chồng chéo, dàn trải và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của các đơn
vị sự nghiệp công lập:
+ Rà soát, hoàn thiện các quy định về tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập,
hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập theo từng ngành, lĩnh vực; quy hoạch
mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập, trọng tâm là các lĩnh vực: Y tế; giáo dục và
đào tạo; lao động, thương binh và xã hội; khoa học và công nghệ; văn hóa, thể thao và
du lịch; thông tin và truyền thông.
+ Chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện sang công ty cổ phần.
92
+ Nghiên cứu, ban hành các biện pháp đổi mới phương thức quản lý, tổ chức và hoạt
động để nâng cao năng lực quản trị. Thực hiện thí điểm việc thi tuyển, thuê giám đốc
điều hành tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Tăng cường phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Trung ương và địa phương,
giữa cấp trên và cấp dưới, gắn với quyền hạn và trách nhiệm; khuyến khích sự năng
động, sáng tạo và phát huy tính tích cực, chủ động của các cấp, các ngành trong thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.
+ Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa
phương; phân cấp giữa các cấp ở địa phương.
+ Ban hành cơ chế, chính sách kiểm soát quyền lực chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, công
khai, minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ
phân cấp. Triển khai các biện pháp theo dõi, kiểm tra, giám sát hiệu quả việc thực hiện
các nhiệm vụ đã phân cấp.
- Nghiên cứu, triển khai các biện pháp đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng
suất, hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên cơ sở ứng dụng
mạnh mẽ các tiến bộ khoa học và công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin; tăng
cường chỉ đạo, điều hành, xử lý công việc của cơ quan hành chính các cấp trên môi
trường số, tổ chức họp, hội nghị bằng hình thức trực tuyến, không giấy tờ.
93
Chương 4
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
Trong quá trình hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra sâu
sắc trên tất cả các lĩnh vực.Đây vừa là bối cảnh vừa là điều kiện vừa là thách
thức cho công cuộc hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa nền công vụ nước nhà. Nó
đòi hỏi đội ngũ công chức phải có đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng
lực, trình độ chuyên môn ở một tầm cao mới đủ để giải quyết mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
1. Quan điểm đường lối của Đảng về xây dựng đội ngũ công chức hành
chính
- Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ( từ ngày 28/6-
1/7/1996) của Đảng về xây dựng cải cách hành chính có nêu ra quan điểm,
đường lối về xây dựng đội ngũ công chức hành chính:
+ Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp quy về chế độ công vụ và
công chức;
+ Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật công chức
hành chính;
+ Quy định chế độ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng công chức;
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước vừa có trình độ chuyên môn
và kỹ năng nghề nghiệp cao vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm,
tận tụy, công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII ( từ ngày 20/1- 28/1/2016) của Đảng
về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nêu lên
quan điểm của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức:
Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện phát triển kinh
94
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
“Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn,
cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức”; dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định
rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ, năng lực chuyên
môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
Đảng bố trí cán bộ, đảng viên có trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức
cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ những cương vị chủ chốt trong
bộ máy chính quyền các cấp, qua đó giữ vững sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối
của Đảng đối với hệ thống chính trị. Đồng thời “ xây dựng cơ chế chính sách đãi
ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài” với thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát
đội ngũ cán bộ, công chức là đảng viên và xử lý nghiêm minh đối với những cán
bộ, đảng viên vi phạm pháp luật.
- Trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng
nền hành chính hiện đại nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa-
hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, trong thời gian
tới, dưới sự lãnh đạo của Đảng một trong những nội dung tập trung vào là làm
tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: “ Đảng tập trung lãnh đạo về
đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách cụ thể.
Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm
của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất chính trị vững vàng, có trình độ năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu
cầu giai đoạn mới”.
- Chính vì vậy, Đảng phải lãnh đạo quyết định việc xây dựng được đội ngũ
công chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, tinh thông và có phẩm chất đạo
đức. Phải xem đây là nhiệm vụ chiến lược cần phải tập trung mạnh mẽ. Từ sự
95
phân tích trên, có thể thấy đã đến lúc cần xác định đúng vị thế có tầm nhìn chiến
lược của nhiệm vụ xây dựng và từng bước hoàn thiện đội ngũ công chức chuyên
nghiệp của nước ta.
- Trong bối cảnh thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của trình độ khoa học
công nghệ và đất nước đang hội nhập sâu rộng với thế giới trên nhiều lĩnh vực,
đội ngũ cán bộ công chức cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ công chức phải có năng lực cao, có trình độ chuyên
môn giỏi mới có thể hoàn thành công việc được giao. Trình độ của cán bộ được
đánh giá là tốt khi đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đó. Cụ thể
trong thời kỳ hiện nay khi khoa học công nghệ phát triển, cán bộ phải có trình độ
tiếp cận và sử dụng công nghệ hiện đại, làm chủ khoa học công nghệ trong lĩnh
vực chuyên môn của mình.Qua đó có được kỹ năng tiếp cận và sử dụng những
công nghệ mới phục vụ cho quá trình công tác.
Thứ hai, cán bộ công chức phải được trang bị văn hóa chính trị, văn hóa công
sở cao, làm việc khoa học, hiệu quả, vì dân. Người cán bộ, công chức phải có
nhận thức: hành động của mình là phục vụ nhân dân. Công cuộc cải cách hành
chính đã được đẩy mạnh từ nhiều năm nay cũng là nhằm vào mục tiêu này. Lối
làm việc tùy tiện, nặng về hành chính, quan liêu, thói cửa quyền, hách dịch của
một bộ phận cán bộ tồn tại khá lâu đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng,
Chính quyền, làm giảm hiệu quả công việc trong các cơ quan nhà nước. Chính
vì vậy, xây dựng văn hóa làm việc chuyên nghiệp, có tính kế hoạch, kỷ luật cao,
dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm là cần thiết.
Thứ ba, người cán bộ phải có bản lĩnh và bản lĩnh chính trị vững vàng. Trong
tình hình cách mạng phức tạp hiện nay, đây được xem là một trong những yêu
cầu hàng đầu. Bản lĩnh mà trước hết là bản lĩnh chính trị của người cán bộ chính
là yếu tố quan trọng, có bản lĩnh người cán bộ sẽ không bị tác động, ảnh hưởng
của những yếu tố tiêu cực. Đó là những cám dỗ từ mặt trái cơ chế thị trường, từ
96
chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Nền hành chính hiện đại không thể không có những cán bộ chuyên nghiệp,
thông minh, mẫn cán với đạo đức công vụ trên tinh thần tận tâm phục vụ nhân
dân. Do đó, trong nghị quyết đại hội XII của Đảng, chúng ta cần phải tập trung
sức mạnh và trí tuệ của toàn đảng, toàn dân trong việc đổi mới cải cách đội ngũ
cán bộ, công chức.
2. Pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ công chức hành chính
Nhằm để thực hiện được công cuộc của Đảng và Nhà nước ta về “Xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình
độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”, pháp luật
của nước ta cũng ban hành rất nhiều chính sách và văn bản pháp luật về vấn đề
này. Mục đích của pháp luật đưa ra chủ yếu nhằm xây dựng một đội ngũ công
chức hành chính phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà nước và mang lại
lợi ích cho nhân dân. Trong các nhiệm vụ của Đảng và nhà nước ta, vấn đề nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của
năm 2018 và những năm tiếp theo. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức của đất nước với số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng nâng cao, cơ cấu
hợp lý, có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách
nhiệm, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện có hiệu
quả công tác cán bộ, công chức, viên chức.
Cụ thể, pháp luật của Đảng và nhà nước ta về vấn đề xây dựng đội ngũ công
chức hành chính sẽ được quy định cụ thể trong một số văn bản pháp luật sau:
- Luật cán bộ công chức năm 2008;
- Và một số văn bản quy định những người là công chức:
+ Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của chính phủ quy định những
97
người là công chức;
+ Thông tư 08/2011/ TT-BNV hướng dẫn một số điều của nghị định số
06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của chính phủ quy định những người là công
chức.
- Cùng một số văn bản khác như:
+ Nghị định số 18/2010/ NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức;
+ Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý
công chức;
+ Nghị định số 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức;
+ Nghị định số 93/201/NĐ-CP sửa đổi một số điều của nghị định số
24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức;
+ Thông tư số 03/2011/TT-BNV hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị
định số 18/2010/ NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức.
- Đồng thời tại Điều 4 Hiến pháp nước ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội”. Đảng lãnh đạo Nhà nước được thể hiện ở nhiều phương
diện khác nhau: lãnh đạo trong tổ chức hoạt động của toàn bộ máy nhà nước,
đưa ra các chủ trương, quan điểm xây dựng Nhà nước, định hướng chính trị cho
hoạt động của nhà nước thông qua các công tác kiểm tra, giám sát của Đảng,
thông qua công tác cán bộ.
Về phía Đảng, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về công tác cán bộ, trong đó
nhấn mạnh những tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên nói chung và công
chức nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu phục vụ dân tộc và chủ nghĩa xã hội phấn đấu thực hiện có kết quả đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết
98
đấu tranh chống tham nhũng
- Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với
nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết vê lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ
năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ
được giao
Để làm được điều đó, các tổ chức Đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý,
kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đội ngũ cán bộ, Đảng viên phải
tự giác rèn luyện đạo đức, thực hiện lối sống cần kiệm, liêm chính, chí công vô
tư; gương mẫu giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ cộng sản đề cao tinh thần đoàn
kết, chống chủ nghĩa cá nhân; chấp hành nghiêm điều lệ Đảng, pháp luạt Nhà
nước; đồng thời chú ý giáo dục, thuyết phục gia đình cùng thực hiện.
Về phía Nhà nước, nhằm để xây dựng đội ngũ công chức hành chính thì đã
có các quy định cụ thể sau:
- Để hiểu về đội ngũ công chức hành chính thì tại khoản 2 điều 4 của luật cán
bộ công chức 2008 thì ta hiểu công chức là “ công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của
Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ( sau đây gọi chung là đơn vị
sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì
lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định
99
của pháp luật”.
- Đồng thời tại luật ( luật Cán bộ công chức năm 2008) này cũng quy định
nhiều vấn đề cụ thể đối với công chức hành chính, để xây dựng đội ngũ công
chức hành chính này, cụ thể như:
+ Điều 5. Các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức
Bên cạnh đó quy định những nghĩa vụ mà các công chức hành chính phải làm
khi đã là công chức hành chính để đảm bảo chức trách và nhiệm vụ của họ với
nhân dân:
+ Điều 8. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
+ Điều 9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ
+ Điều 10. Nghĩa vụ cán bộ, công chức là người đứng đầu
+ Điều 18. Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo
đức, công vụ
+ Điều 19. Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật
nhà nước
+ Điều 20. Những việc khác cán bộ, công chức không được làm
Đồng thời đề ra những quy định cụ thể cho các công chức hành chính ở cấp tỉnh,
huyện và xã, quy định về tuyển dụng công chức và chế độ về quản lý đội ngũ
công chức hiện nay như: Nội dung quản lý cán bộ, công chức ( Điều 65),...
- Ngoài ra còn căn cứ trên nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Theo đó, nghị định này đã đưa ra được
những quy định mới, đáng chú ý như:
+ Nâng cao trình độ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ( điều 5). Điều
này khác với quy định hiện hành, việc đào tạo trình độ cho công chức chỉ áp
dụng cho công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ lãnh đạo mà chưa
đáp ứng tiêu chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật hoặc theo cơ
100
quan, đơn vị được tổ chức sắp xếp lại.
+ Nới lõng điều kiện đào tạo sau đại học ( điều 6). Như vậy, so với quy định
hiện hành, điều kiện tham gia đào tạo sau đại học của công chức đã được nới
lõng hơn
+ Hướng dẫn tính chi phí đền bù ( điều 7, 8, 9)
3. Thực tế triển khai và kết quả đạt được
a. Thực tế triển khai việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính
Những tồn tại trong công tác quản lý đội ngũ công chức:
- Trong quá trình xây dựng, hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực này chưa
được hoàn thiện và kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật đó không những
chưa ràng buộc người công chức trong việc phục vụ nhà nước, phục vụ nhân
dân mà còn thiếu tính cụ thể.
- Qua các quy chế pháp lý, người công chức chưa xác định, ý thức được hoạt
động của mình, dẫn đến chưa nhìn nhận rõ trách nhiệm của mình là phục vụ
Nhà nước và nhân dân để giữ gìn phẩm chất, tận tụy với nhân dân, hết mình
với công vụ. Ngược lại, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý công chức
chưa phản ánh lòng tin của Nhà nước, của nhân dân gửi gắm vào đội ngũ
công chức.
- hành vi của công chức chưa hoàn toàn được kiểm soát và điều chỉnh, hiện
tượng lạm dụng thẩm quyền sách nhiễu nhân dân, thoái hoá biến chất vẫn còn
tồn tại do thiếu căn cứ cụ thể để xử lý công chức vi phạm.
- phương thức hoạt động, trách nhiệm của công chức khi thi hành công vụ
chưa được cụ thể hoá, chưa phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan quản lý
hành chính nhà nước nói chung và công chức nói riêng, Quy chế làm việc
thiếu tính chặt chẽ, chuyên nghiệp.
- trong quá trình xây dựng quy chế pháp lý cho công tác quản lý công chức
còn thiếu những đảm bảo cho những nội dung này đi vào đời sống xã hội nói
chung cũng như hoạt động của công chức nói riêng, trong đó có nguyên tắc
101
pháp chếxã hội chủ nghĩa.
Những tồn tại về tinh thần trách nhiệm và đạo đức công chức
- Trách nhiệm và đạo đức công chức chưa được cụ thể hoá, chỉ định tính mà
không định lượng. Phạm trù đạo đức chưa mang tính đặc thù với đối tượng là
công chức, trách nhiệm và đạo đức công chức có thể được coi là yếu tố hàng
đầu, có tính quyết định chất lượng nền hành chính. Thực tế phần lớn công
chức chưa biết lắng nghe, thiếu kiến thức và kỹ năng giải quyết công việc,
thiếu nhẫn nại và kiềm chế, thái độ chưa thân thiện, xử lý công việc chậm và
thiếu linh hoạt... Không những thế công chức hiện nay còn trở lên thờ ơ, lãnh
đạm, máy móc, thiếu tế nhị, thiếu tôn trọng nhân dân.
Thực tế triển khai:
Một trong 5 mục tiêu quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu
phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”. Đề án đẩy mạnh cải cách
chế độ công vụ, công chức cũng xác định mục tiêu: xây dựng một nền
công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước chuẩn bị kết thúc giai
đoạn 1 trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những thời cơ và thách
thức mới, đòi hỏi phải có các giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn nữa để
thực hiện thành công mục tiêu của Chương trình, đặc biệt là những giải
pháp về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đây là chìa khóa để giải
quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Công cuộc xây dựng đội ngũ công chức được triển khai trên cả nước nói
chung, từ trung ương đến cơ sở, từ cấp tỉnh đến cấp xã. Các tỉnh đã lập kế
hoạch cụ thể và triển khai đồng bộ.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã triển khai nghiêm túc các văn bản chỉ đạo,
hướng dẫn của cấp trên và ban hành hệ thống các văn bản nhằm cụ thể
102
hóa và triển khai thực hiện tốt kế hoạch CCHC như: Kế hoạch Nâng cao
năng lực hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp giai đoạn
2016-2020; Kế hoạch Đào tạo, bồi dưỡng năm 2016; Kế hoạch Công tác
thi đua khen thưởng năm 2016; Công văn Nâng cao kết quả thực hiện
công tác CCHC tại UBND thành phố và các xã, phường.
Thực hiện kiểm tra rà soát văn bản QPPL xây dựng và thực hiện nghiêm túc
kế hoạch kiểm tra, rà soát văn bản QPPL qua các năm.
100% các cơ quan chuyên môn thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính; kết nối internet, mạng
nội bộ phục vụ việc trao đổi, cập nhật thông tin, giải quyết công việc được
tiện lợi, nhanh chóng góp phần nâng cao năng suất lao động của công chức.
Thiết lập hộp thư điện tử để chuyển, nhận văn bản, tài liệu; trong đó có cơ
quan đã trang bị, sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành.Tiếp tục
duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 tại một số phòng, ban chuyên môn của thành phố và các đơn vị
hành chính xã, phường.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại
ngữ, tin học có nhiều đổi mới, việc phân công, phân cấp rõ ràng hơn; chính
sách cải cách tiền lương được quan tâm và đạt được những kết quả nhất định.
- Kết quả hoạt động công vụ phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ công
chức nói chung và đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý nói riêng. Chất lượng
đội ngũ công chức được hình thành dựa trên cơ sở tiêu chuẩn công chức và
chịu ảnh hưởng của các nội dung quy định trong tiêu chuẩn công chức. Trong
hoạt động thực tiễn, các cơ quan quản lý công chức đều căn cứ vào tiêu
chuẩn công chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, đánh giá,
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý công chức.
- Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý, tiêu chuẩn
ngạch công chức đã gắn với yếu tố năng lực để thực thi nhiệm vụ khi công
103
chức được bố trí vào vị trí việc làm ứng với ngạch đó; đối với tiêu chuẩn các
chức vụ quản lý, đã bổ sung thêm và quy định rõ, cụ thể các nội dung liên
quan đến tiêu chuẩn năng lực của từng vị trí quản lý tuy nhiên còn nhiều hạn
chế. Đã xây dựng hệ thống các vị trí việc làm trong từng cơ quan, đơn vị.
Mỗi vị trí việc làm đã quy định chức trách, các nhiệm vụ cụ thể và ngạch
công chức tương ứng để bổ nhiệm công chức khi bố trí vào vị trí việc làm đó.
Tất nhiên, việc xây dựng vị trí việc làm là mới, khó và phức tạp đòi hỏi phải
có sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, qua đó mới có thể đổi mới căn
bản chế độ công vụ, công chức ở nước ta.
- Đã thực hiện triển khai đồng bộ các giải pháp khác như xây dựng vị trí việc
làm, đổi mới phương thức quản lý biên chế, đổi mới nội dung và hình thức
thi tuyển, thi nâng ngạch công chức, đổi mới chế độ đào tạo, bồi dưỡng...
theo hướng chú trọng yếu tố năng lực, trọng dụng người có tài năng trong
hoạt động công vụ đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tiếp tục đổi mới chế độ công vụ,
công chức.
- Hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức.
- Hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức gắn với đẩy mạnh công tác
thanh tra, kiểm tra. Hệ thống pháp luật về tuyển dụng công chức khá đầy đủ,
đã điều chỉnh các nội dung, hoạt động trong quá trình tuyển dụng và thể hiện
được đúng tinh thần đổi mới của Luật cán bộ, công chức về công tác tuyển
dụng như: tuyển dụng phải căn cứ vào vị trí việc làm, ưu tiên tuyển chọn
người có tài năng, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.Đang tiếp tục đổi
mới nội dung và hình thức thi tuyển công chức, tập trung xây dựng ngân
hàng đề thi đối với môn kiến thức chung và môn ngoại ngữ, tin học. Các bộ
quản lý ngành, lĩnh vực xây dựng ngân hàng đề thi đối với từng môn nghiệp
vụ chuyên ngành để đánh giá đúng và sát trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
gắn với tiêu chuẩn của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Đây là yếu tố quan
104
trọng nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng đều chất lượng đối với đội ngũ
công chức sau khi được tuyển dụng. Đang từng bước đẩy mạnh và nhân rộng
thi tuyển công chức bằng hình thức thi trực tuyến trên máy tính để bảo đảm
sự công bằng, minh bạch trong tuyển dụng công chức. Các câu hỏi mang tính
xử lý tình huống, kỹ năng hành chính để công chức sau khi được tuyển dụng
sớm đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm được chú trọng.
- Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc, quy trình, thủ tục
tuyển dụng công chức, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi sai phạm của
cán bộ, công chức trong công tác tổ chức thi tuyển được đẩy mạnh.
- Hoàn thiện chế độ trách nhiệm công vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của công chức
- Công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn
phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó. Nghĩa vụ và quyền của công
chức là những vấn đề cơ bản của chế độ công vụ, được quy định trong pháp
luật về công vụ, công chức. Nghĩa vụ và quyền của công chức thể hiện mối
quan hệ giữa công chức với nhà nước, nhân dân trong quá trình thực thi công
vụ.
- Các cấp, các ngành đã và đang xem đây là hạt nhân của việc nâng cao hiệu
quả quản lý và tư duy đổi mới của hoạt động lãnh đạo, điều hành; là tác nhân
nhằm lập lại kỷ cương trong hệ thống chính trị. Xây dựng bộ máy các cơ
quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương theo hướng xác
định rõ ràng, minh bạch thẩm quyền và trách nhiệm mỗi cấp hành chính, bảo
đảm thực hiện tốt các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) và
Luật Tổ chức chính quyền địa phương mới được Quốc hội thông qua. Tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện Luật cán bộ, công chức, trong đó chú trọng đến tính
trách nhiệm và xử lý các biểu hiện thiếu trách nhiệm và vi phạm chế độ trách
nhiệm trong hoạt động công vụ và quản lý công chức. Các quy định về trình
tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật và xử lý trách nhiệm đối với công
chức vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ, về đánh giá công chức, về
105
các hoạt động liên quan đến xây dựng và phát triển đội ngũ công chức như
tuyển dụng, nâng ngạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức... đều phải thể hiện
được tính trách nhiệm của người đứng đầu. Bảo đảm nguyên tắc quản lý công
chức là thực hiện kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ
tiêu biên chế. Việc xác định rõ vị trí việc làm để bố trí công chức là cơ sở
quan trọng để nâng cao trách nhiệm trong hoạt động công vụ của công chức;
từ đó phân công, bố trí công chức phù hợp với yêu cầu của mỗi vị trí. Trong
tổ chức công việc phải quy định rõ ràng, cụ thể chức trách, nhiệm vụ và
quyền hạn để mỗi công chức biết phải làm gì và phải chịu trách nhiệm về kết
quả công việc. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện
Luật cán bộ, công chức nói chung và trách nhiệm của công chức trong hoạt
động công vụ nói riêng là một hoạt động rất cần thiết nhằm đôn đốc, giám sát
để phát hiện những hạn chế trong việc thực hiện công vụ. Quy định rõ chế độ
trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân người đứng đầu trong quản lý điều hành
cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo đó, quyền hạn giao cho người đứng đầu phải
phù hợp, tương thích với trách nhiệm, nhiệm vụ được giao. Quy định rõ cơ
chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cơ quan, từng công chức.
Xử lý nghiêm khắc những vi phạm của công chức, bảo đảm kỷ luật, kỷ
cương hành chính.
- Chuyển đổi mô hình quản lý công chức hiện nay từ mô hình chức nghiệp
sang mô hình việc làm
- Hiện nay, chúng ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi từ quản
lý công chức theo mô hình chức nghiệp sang mô hình việc làm. Mô hình việc
làm thực chất là một hệ thống tiền lương được thiết lập dựa trên cơ sở đánh
giá công việc, do đó coi trọng công việc hơn là đặc điểm cá nhân của người
nắm giữ công việc. Nền công vụ bao gồm một hệ thống thứ bậc công việc
được thiết lập dựa trên việc phân tích một cách hệ thống nội dung các công
việc đó. Công việc được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc chứ không phải bản
106
thân công chức và trình độ học vấn của họ như trong mô hình chức nghiệp.
Đánh giá công việc và phân loại công việc thường được thực hiện bởi đội
ngũ chuyên gia mang tính chuyên môn cao. Sắp xếp các vị trí công việc khác
nhau phải căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc. Vấn đề được quan tâm
nhất trong mô hình này là đảm bảo việc trả lương công bằng theo các vị trí
công việc.
- Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ thông tin vào công tác quản lý nhà nước
trong các cơ quan quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực
- Cần nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
của các cơ quan QLNN đa ngành, đa lĩnh vực. Tăng cường tuyên truyền luật
và các văn bản dưới luật, các chủ trương, chính sách, chỉ đạo về công nghệ
thông tin. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn hệ thống bộ máy hành chính, trong đó
có các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin từ Trung ương
đến địa phương. Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành đối với lĩnh vực
công nghệ thông tin; tạo ra một môi trường pháp lý tốt, tạo ra chính sách
đúng, nhất quán và thúc đẩy hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin. Tăng
cường năng lực và hiệu quả QLNN về công nghệ thông tin và nâng cao năng
lực ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn hệ thống pháp luật phù hợp với
luật pháp và thông lệ quốc tế. Từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý hỗ
trợ và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong nước. Ứng dụng công
nghệ thông tin xử lý quy trình công việc trong nội bộ cơ quan hành chính,
trong giao dịch với các cơ quan hành chính khác và trong giao dịch với tổ
chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính công;
công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng do các
cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở lên cung cấp. Tăng cường đào
tạo, bồi dưỡng công chức về kiến thức và khả năng ứng dụng, sử dụng công
nghệ thông tin có hiệu quả trong các hoạt động nghiệp vụ, nghiên cứu và hợp
tác; chú trọng đào tạo cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin để thực
107
hiện thành công các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan
QLNN. Đồng thời, phải từng bước chuẩn hóa đội ngũ công chức theo hướng
nâng cao trình độ tin học, tin học hành chính và ngoại ngữ theo các quy định
chung.
- Thực hiện quy chế đạo đức công chức
- Với bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, những giá
trị đạo đức nghề nghiệp hướng tới xây dựng một nền công vụ mới, phục vụ
nhân dân được chú trọng, hình thành và phát triển trên nền tư tưởng đạo đức
mới, pháp luật mới. Trong hệ thống pháp luật mới đã xuất hiện và ngày càng
hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về công chức, công vụ. Nhiều
nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới được thể chế hóa thành
những quy phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức
trong thi hành công vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng nền
công vụ mới. Luật cán bộ, công chức quy định nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa
giao tiếp, những việc cán bộ, công chức không được làm, trên cơ sở đó, các
cơ quan, đơn vị đã xây dựng các quy định về quy chế dân chủ ở cơ sở, quy
tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp... của cán bộ, công chức. Như vậy, cơ bản
chế định về đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện, cùng với đó
là quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, Quy định về chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh… Vấn đề
quan trọng ở đây là tổ chức thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu các
cơ quan, đơn vị.
- Bảo đảm thực hiện tốt nghiệp vụ công tác tổ chức - cán bộ trong các cơ quan
quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực
- Công tác tổ chức - cán bộ có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng, hoàn
thiện cơ quan QLNN đa ngành, đa lĩnh vực nói chung và công tác xây dựng
đội ngũ công chức trong các cơ quan QLNN đa ngành, đa lĩnh vực nói riêng.
Công tác quy hoạch, điều động, luân chuyển công chức, công chức lãnh đạo,
108
quản lý giữa các đơn vị trực thuộc trong cơ cấu tổ chức của cơ quan QLNN
đa ngành, đa lĩnh vực, vì đây sẽ là những sợi dây kết nối hết sức quan trọng
giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các ngành, lĩnh vực trong một cơ quan quản lý,
nhất là những cơ quan, đơn vị mới được sáp nhập được triển khai. Xây dựng
thống nhất các quy định, quy chế về công tác tổ chức - cán bộ, kế hoạch - tài
chính, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế..., tránh được tình trạng mỗi đơn
vị có những quy chế, quy định riêng, thiếu sự đồng bộ, thống nhất. Việc phân
cấp quản lý cán bộ hiện nay đang được thực hiện theo quy định chung của
Đảng, Nhà nước, tuy nhiên đơn vị giúp việc cho lãnh đạo cơ quan về công
tác tổ chức - cán bộ cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hướng
dẫn, uốn nắn kịp thời các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong thực hiện công tác
tổ chức - cán bộ. Thực hiện tinh giản biên chế, xác định vị trí việc làm và cơ
cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức gắn với công tác cải cách hành chính để
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cơ quan QLNN đa ngành, đa lĩnh vực. Chú
trọng xây dựng những cán bộ, công chức khoa học đầu ngành, chuyên gia
giỏi, có trình độ cao và khả năng dự báo, xử lý tốt những vấn đề phức tạp nảy
sinh. Công tác tổ chức - cán bộ phải bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch,
dân chủ và từng bước đổi mới để phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của
từng cơ quan QLNN đa ngành, đa lĩnh vực. Công chức làm công tác tổ chức -
cán bộ trong cơ quan hành chính là những người “có tầm, có tâm” và hiểu
biết, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, những thuận lợi, khó khăn của từng
ngành, lĩnh vực trong cơ quan, đơn vị để có những tham mưu đề xuất đúng
và trúng, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan, đơn vị.
b. Kết quả đạt được
- Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục được cải cách theo
hướng rõ hơn về phân công và phân cấp. Đã có sự phân định khá rõ về trách
nhiệm, thẩm quyền quản lý đội ngũ cán bộ, công chức hành chính của Thủ
tướng Chính phủ, của các bộ và chính quyền địa phương. Thẩm quyền và
109
trách nhiệm trong bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức
cũng đã được xác định khá rõ cho người đứng đầu các cơ quan hành chính và
thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Đặc biệt, thẩm quyền và trách
nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công được nâng cao
đáng kể phù hợp với các cơ chế đã có về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các đơn vị sự nghiệp, dịch vụcông.
- Đội ngũ CBCC đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Việc bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm cán bộ đã được thực hiện đúng tiêu chuẩn, quy định,
bước đầu bố trí các chức danh công chức phù hợp với trình độ chuyên môn
được đào tạo; việc quản lý, sử dụng công chức đã dần đi vào nề nếp, hầu hết
số công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển đều có
trách nhiệm với công việc và vị trí công tác được giao, từng bước thực hiện
tốt chế độ tiền lương, quy định đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với CBCC,
vì vậy đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ CBCC. Đặc biệt là từ khi có Luật Cán bộ công chức năm 2008; Luật
Viên chức năm 2010; Nghị định số 114/2003/NĐ-CP; Quyết định số
04/2004/QĐ-BNV; Nghị định số 112/2012/NĐ-CP thì đội ngũ CBCC không
ngừng được kiện toàn, củng cố, phần lớn được rèn luyện, thử thách trong quá
trình công tác, được quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật và
tinh thần trách nhiệm, góp phần giúp hoạt động của hệ thống chính trị nói
chung và Ủy ban nhân dân cấp xã nói riêng có chuyển biến và hiệu quả hơn
- Đến nay cơ bản đội ngũ CBCC có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và
năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao các mặt
công tác, khơi dậy được nguồn lực của nhân dân, nâng cao trình độ dân sinh,
dân trí, dân chủ ở cơ sở, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể, góp phần
vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, đảm
110
bảo an ninh, chính trị, quốc phòng ở các địa phương và trên địa bàn cấp xã.
- Việc thực hiện CCHC của các cơ quan Nhà nước đã có sự thay đổi về chất,
đó là dần chuyển từ các biện pháp quản lý sang phục vụ người dân.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng có những bước tiến rõ
rệt.
- Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã bước đầu
được đổi mới theo hướng phù hợp với các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng, cụ
thể là chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước chuyên viên cao cấp,
chuyên viên chính, chuyên viên, chương trình đào tạo tiền công vụ, chương
trình bồi dưỡng Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Song song với quá trình này là
sự đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng. Việc nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được chú
trọng.
- Việc thi nâng ngạch đối với chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao
cấp và các ngạch tương đương tiếp tục được triển khai, qua đó tạo ra sự thay
đổi tích cực góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức.
4. Ưu điểm và hạn chế của việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính
a. Ưu điểm:
- Tuyệt đại đa số cán bộ, Đảng viên vững vàng trước những biến dộng trong
nước và thế giới, kiên định mục tiêu con đường đi lên CNXH. Hăng hái đi
đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
- Giữ vững phẩm chất đạo đức, chính trị cách mạng tỏng sáng, lối sống lành
mạnh.
- Bộ máy công chức hiện nay đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, chịu
trách nhiệm trước dân, trước Đảng
- Đã có sự phân định khá rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của công chức hành
111
chính ở từng cấp.
- Đội ngũ công chức hành chính ngày càng hoàn thiện về trình độ cũng như là
việc áp dụng các thành tựu khoa học- thuật vào trong công việc để hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ
b. Hạn chế:
- Tình trạng quan liêu, tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống ở một bộ phận công chức.
- Còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Nguồn quy hoạch chưa phong phú, chưa đảm bảo 2- 3 người một chức danh.
- Cơ cấu cán bộ chưa đảm bảo cơ cấu 3 độ tuổi, cán bộ trẻ ít, tuổi bình quân
cao, tỉ lệ cán bộ nữ và cán bộ người dân tộc thiểu số còn hạn chế.
- Cán bộ chưa đi vào thực chất, còn mang tính hình thức cho nên cán bộ đưa
vào quy hoạch chưa đạt chuẩn theo quy định
- Công tác thi tuyển cán bộ, công chức hành chính còn nhiều hạn chế, nội dung
thi tuyển hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của việc tuyển dụng bố trí công
chức
- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
phục vụ cho công tác
- Một số bộ phận cán bộ công chức làm việc ở “ bộ phận một cửa” còn hạn chế
hiểu biết pháp luật, thủ tục hành chính, kỹ năng hành chính, chưa phát huy
hết trách nhiệm của mình, cũng như cách tiếp cận giải quyết công việc với cá
nhân, tổ chức dẫn đến tình trạng bắt người dân bổ túc hồ sơ nhiều lần, giải
quyết công việc chậm trễ, xảy ra nhiều trường hợp nhũng nhiễu, tiêu cực
5. Phương hướng để xây dựng đội ngũ công chức hành chính của nhóm
- Đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao,
tận tụy phục vụ nhân dân
+ Thực hiện tuyển dụng theo nguyên tắc đúng người, đúng việc, khắc phục tình
112
trạng cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ trái với chuyên môn đào tạo. Lấy
công việc và hiệu quả công việc làm tiêu chí lựa chọn nhân sự.Thi tuyển phải
thực sự khách quan, công bằng và công tâm. Trong việc xây dựng cơ chế thi
tuyển công chức, Chính phủ nên giao cho một tổ chức độc lập thực hiện và đánh
giá
+ Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tuyển dụng, dử dụng, quản
lý biên chế giao cho người đứng đầu tổ chức sử dụng cán bộ công chức. Quy
định trách nhiệm liên đới giữa người đứng đầu đối với cán bộ công chức dưới
quyền. Cho phép người thủ trưởng được trực tiếp tuyển dụng nhưng phải chịu
trách nhiệm trực tiếp nếu nhân viên câp dưới làm sai.
+ Có thái độ kiên quyết dứt khoát với cán bộ, công chức không đáp ứng được
công việc. Kiên quyết đưa ra khỏi nền công vụ những người không làm được
việc, đồng thời giải quyết thỏa đáng chế độ tài chính cho đối tượng này, để đảm
bảo trong cơ quan Nhà nước thực sự chỉ có người làm được việc và cống hiến
cho cơ quan đơn vị
+ Thực hiện đánh giá công chức dựa trên hiệu quả công việc. Bảo đảm tính công
bằng trong đánh giá, không đánh đồng và đồng nhất kết quả giữa các đối tượng
công chức khác nhau và giữa công chức chuyên môn với công chức giữ vị trí
lãnh đạo, quản lý. Thực hiện việc xây dựng tiêu chí và xét các danh hiệu thi đua
theo từng nhóm đối tượng có vị trí, chức năng, nhiệm vụ tương đương nhau,
không xét các danh hiệu thi đua theo cơ quan đơn vị. Như vậy, nhằm đảm bảo
tính công bằng và tạo động lực thực sự cho phong trào thi đua
+ Xây dựng và thực thi chế tài nghiêm khắc, nghiêm trị những hành vi vi phạm
pháp luật để cán bộ, công chức “không dám” thực hiện những hành vi vi phạm
pháp luật, vi phạm đạo đức công vụ trái với lương tâm và đạo đức xã hội
- Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức
danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức
+ Các tiêu chuẩn chức danh quản lý của công chức phải được quy định rõ ràng,
113
có thể kiểm tra đánh giá được trên thực tế nhằm bảo đảm tốt nhất tính công khai,
minh bạch trong việc quản lý sử dụng công chức nhất là trong khâu tuyển chọn
và bổ nhiệm
+ Bên cạnh các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, rất cần thiết phải xác định các
tiêu chuẩn về kỹ năng ứng với một khung năng lực công tác cụ thể của từng vị
trí lãnh đạo, quản lý để có cơ sở xem xét, kiểm tra, đánh giá và xem xét quá trình
công tác của đội ngũ cán bộ, công chức
- Cải cách tiền lương và các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức
+ Cần đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, kỹ luật, đào tạo, bồi dưỡng, môi
trường và điều kiện làm việc... Mỗi cán bộ, công chức cần có sự công bằng trong
đánh giá, khen thưởng và kỹ luật. Công chức mong muốn có được cơ hội công
bằng ở mọi vị trí phấn đấu trong cơ quan, đơn vị. Vì vậy, cách thức đánh giá và
trả lương phải lấy hiệu quả công việc làm thước đo. Bên cạnh đó, một môi
trường làm việc năng động, sáng tạo sẽ khuyến khích mọi công chức dù ở vị trí
nhân viên hay lãnh đạo đều bình đẳng và cạnh tranh công bằng
+ Trong cơ quan Nhà nước phải tạo dựng và duy trì được nét văn hóa lấy giá trị
công việc, hiệu quả công việc, sự hài lòng của công dân và doanh nghiệp làm
thước đo đánh giá năng lực của cán bộ công chức
- Thiết lập chặt chẽ minh bạch, công khai nhằm ngăn ngừa những hành vi vi
phạm pháp luật của cán bộ, công chức. Thực hiên chế độ công khai minh
bạch và trách nhiệm giải trình về tài sản của cán bộ, công chức trước, trong
và sau khi rời khỏi nhiệm sở
- Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, kiểm soát được các đầu mối công
việc trong nội bộ các cơ quan hành chính để phát hiện kịp thời các nguy cơ
dẫn đến tiêu cực, quan liêu và tham nhũng
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với cả những mặt tích cực và
tiêu cực. Việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính là một thách thức lớn,
114
quyết liệt đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảng. Đội ngũ này phải được đào
tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản, trong đó đặc biệt coi trọng giáo dục, nâng cao
bản lĩnh chính trị, trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng; đồng thời cần
tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Đảng viên chuyên môn nghiệp
vụ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
6. Kết quả xây dựng đội ngũ công chức giai đọan 2011-2020
6.1. Kết quả chủ yếu đã đạt được
a) Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý cán bộ, công chức,
viên chức
Trong giai đoạn 2011 - 2020, các quy định về cán bộ, công chức, viên chức được
tiếp tục hoàn thiện đồng bộ trên tất cả các khâu từ tuyển dụng, sử dụng, bố trí, đánh giá,
đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch, thăng hạng. Triển khai Luật Cán bộ, công chức, Luật
Viên chức và đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức nhằm xây dựng một nền
công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả” theo Quyết
định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức”, một loạt cơ chế, chính
sách pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, viên chức đã được Chính phủ ban hành.
Đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành 59 Nghị định
và ban hành theo thẩm quyền 92 Thông tư và Thông tư liên tịch trong lĩnh vực quản lý
cán bộ, công chức, viên chức(34). Bộ Nội vụ cũng đã kịp thời phối hợp với cơ quan có
liên quan sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định về quản lý cán bộ, công
chức, viên chức.
Ngày 19 tháng 5 năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết
số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược,
đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bộ Chính trị đã ban hành Kế
hoạch số 10-KH/TW ngày 06 tháng 6 năm 2018 thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW;
34 Như: Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 quy định vị trí việc làm trong ĐVSNCL; Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 quy định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; Thông tư số 14/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP; Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP; Nghị định số 21/2010/NĐ-CP, Nghị định số 110/2015/NĐ-CP ngày 29/10/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức...
115
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 về
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW. Trên cơ
sở đó, Bộ Nội vụ đã ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản
pháp luật quan trọng về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức(35). Thông qua
đó, các quy định pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, về vị trí, việc làm, đào tạo, bồi
dưỡng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với yêu cầu thực tiễn quản lý.
b) Kết quả triển khai và thực hiện các nội dung về cải cách chế độ công vụ, công
chức
Các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện, bố trí công chức đảm
bảo theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức tương ứng với bản
mô tả công việc, khung năng lực của từng vị trí. Việc thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm
vào các chức danh lãnh đạo, quản lý cũng đã bước đầu được thực hiện. Bộ Chính trị đã
có Thông báo Kết luận số 202-TB/TW ngày 26 tháng 5 năm 2015 về Đề án “Thí điểm
đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp Vụ, cấp Sở, cấp phòng”. Tiếp theo đó,
theo chỉ đạo của Ban Bí thư tại Công văn số 3135-CV/VPTW ngày 16 tháng 01 năm
2017 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc triển khai thực hiện Đề án, Bộ Nội vụ
đã có Văn bản số 2424/BNV-CCVC ngày 09 tháng 5 năm 2017 hướng dẫn thực hiện
Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng.
Theo Đề án đã được phê duyệt, cả nước có 14 cơ quan trung ương và 22 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương được chọn thực hiện thí điểm đổi mới phương thức tuyển
chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng. Trong tháng 4 năm 2020, Bộ Nội vụ
đã tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết 3 năm thực hiện Đề án “Thí điểm đổi mới cách
tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng”, sau gần 3 năm thực hiện đã
35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; Nghị định số 03/NĐHN-BNV ngày 21/5/2019 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, ĐVSNCL; Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019 - 2030”; Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 về vị trí việc làm và biên chế công chức; Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 về vị trí việc làm và số người làm việc trong ĐVSNCL; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức.
116
có 12/14 cơ quan trung ương tổ chức thi tuyển đối với 29 chức danh cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp vụ và cấp phòng, có 42 ứng viên trúng tuyển (cấp vụ có 32 ứng viên; cấp
phòng có 10 ứng viên). Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đã có
17/22 địa phương tổ chức thi tuyển 86 chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở và
cấp phòng, có 368 ứng viên trúng tuyển (cấp sở có 33 ứng viên; cấp phòng có 335 ứng
viên). Bên cạnh đó, theo báo cáo của các bộ, ngành và địa phương, giai đoạn từ năm
2016 đến tháng 3 năm 2020, đã có 71 công chức tại bộ, ngành và 24.313 công chức tại
các tỉnh đã được bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thông qua thi tuyển
cạnh tranh (Biểu đồ 10, Biểu đồ 11).
Việc tuyển dụng công chức thường xuyên được đổi mới về phương pháp, cách
thức, nội dung, theo đó, các bộ, ngành và địa phương đã ƯDCNTT để tổ chức thi trắc
nghiệm trên máy tính; bố trí, lắp đặt máy ghi hình hỗ trợ giám sát công tác coi thi. Để
thu hút những người có tài năng (kể cả khu vực ngoài nhà nước) vào làm việc trong
các cơ quan nhà nước, Chính phủ đã có quy định về việc xét tuyển đặc cách đối với
những người tốt nghiệp thủ khoa, tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài hoặc có
kinh nghiệm công tác từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm
cần tuyển dụng. Đồng thời, để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc, Bộ
Nội vụ đã xây dựng Đề án về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt
nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Giai đoạn 2011 - 2020, công tác đánh giá, phân
loại cán bộ, công chức, viên chức hàng năm được thực hiện theo các quy định của
Đảng và Nhà nước và cũng có những sự đổi mới nhất định, từ thể chế đến tổ chức thực
hiện(36).
36 Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP. Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.
117
Biểu đồ 10: Số lượng tuyển dụng và bổ
Biểu đồ 11: Số lượng tuyển dụng và bổ
nhiệm theo hình thức thi cạnh tranh tại
nhiệm theo hình thức thi cạnh tranh tại
các bộ, ngành
các tỉnh, thành phố
Giai đoạn 2011 - 2015, tổng số cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng là gần
2.900.000 lượt người, trong đó bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ là
1.870.000 lượt người, đạt tỷ lệ gần 65% tổng số lượt cán bộ, công chức được đào tạo,
bồi dưỡng. Thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2016 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
chức giai đoạn 2016 - 2025, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ được đổi mới, phân công, phân cấp rõ ràng hơn. Hệ thống các cơ sở
đào tạo, bồi dưỡng đã được tiến hành sắp xếp, tổ chức lại, theo hướng tinh gọn, góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Việc tổ chức biên soạn lại các chương
trình, tài liệu đã được quan tâm thực hiện. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án
“Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai
đoạn 2019 - 2030”(37) nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ cho công chức, viên chức,
đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ và làm việc trong môi trường quốc tế.
37 Tại Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ.
118
Giai đoạn 2016 - 2020 (tính đến tháng 3 năm 2020), cả nước đã tiến hành đào tạo,
bồi dưỡng cho hơn 5,4 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức(38). Theo báo cáo của
các bộ, ngành địa phương, tính đến tháng 3 năm 2020, tổng số lượt công chức được
đào tạo, bồi dưỡng trong cả giai đoạn 2016 - 2020 tại các bộ, ngành là 594.654 lượt
người, trong khi đó, tại các tỉnh, thành phố, số lượng là hơn 1.151.654 triệu lượt công
chức (Biểu đồ 12, Biểu đồ 13). Tổng số viên chức tại các bộ, ngành trung ương và các
tỉnh, thành phố được đào tạo, bồi dưỡng cũng tăng đều qua các năm. Năm 2019 có số
lượng viên chức được đào tạo, bồi dưỡng tăng gấp 2,7 lần so với năm 2016, từ hơn 419
nghìn lên hơn 1,1 triệu lượt viên chức.
Việc áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng phần mềm quản lý cán bộ, công chức
được thực hiện tại nhiều bộ, ngành và địa phương và bước đầu hình thành cơ sở dữ
liệu cán bộ, công chức, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo, điều hành, thực hiện chế độ,
chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ban hành nhiều quy định góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động công
vụ(39). Ngày 02 tháng 4 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
364/QĐ-TTg thành lập Tổ công tác về kiểm tra công vụ, do Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm
Tổ trưởng. Thời gian qua, Tổ công tác đã tổ chức các đoàn kiểm tra hoạt động công vụ
tại nhiều bộ, ngành và địa phương, qua đó, đã kịp thời chấn chỉnh và chỉ đạo xử lý một
số tồn tại, hạn chế trong công tác tuyển dụng, luân chuyển, bổ nhiệm công chức, viên
chức tại các cơ quan, đơn vị.
38 Trong số 5,4 triệu lượt người được đào tạo, bồi dưỡng nói trên, có khoảng 697.036 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; 447.181 lượt người được bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước và khoảng hơn 4,2 triệu lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ (gấp hơn 2,3 lần so với giai đoạn 2011 - 2015).
39 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 19/3/2014 về việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý công chức, viên chức và thi đua khen thưởng; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 08/9/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...
119
Biểu đồ 12: Số lượng công chức được
Biểu đồ 13: Số lượng viên chức được
đào tạo, bồi dưỡng cả nước
đào tạo, bồi dưỡng cả nước
c) Về công chức cấp xã
Năm 2015, tổng số cán bộ, công chức cấp xã có 234.061 người, bình quân 21
người/xã (trong đó: Cán bộ cấp xã có 116.043 người, công chức cấp xã có 118.018
người). Đến tháng 4 năm 2020, tổng số cán bộ, công chức cấp xã có 234.617 người,
bình quân 21 người/xã (trong đó: Cán bộ cấp xã có 113.672 người, công chức cấp xã
có 120.945 người). Nhìn chung, trình độ, năng lực, trách nhiệm, phong cách, thái độ
của công chức cấp xã đã có những cải thiện nhất định trong thời gian vừa qua. Chất
lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ. Đến năm 2018, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức cấp xã là:
Sau đại học 3,23%; đại học 58,23%; trung cấp, cao đẳng 37,86%; sơ cấp và chưa qua
đào tạo 0,89 %. Về trình độ chính trị: Cử nhân 1,02%; cao cấp lý luận 3,11 %; trung
cấp lý luận 48,9%; sơ cấp và chưa qua đào tạo, bồi dưỡng 28,07%.
d) Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công
- Cải cách chính sách tiền lương đã được quan tâm và đạt được những kết quả tích cực.
Từ năm 2011 đến nay, Chính phủ đã ban hành 07 nghị định quy định về các cơ chế,
chính sách tiền lương, Bộ Nội vụ đã tham mưu, trình Ban Cán sự đảng Chính phủ việc
xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương theo từng giai đoạn phát triển của đất
nước tại các Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI; Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI. Đặc
120
biệt, Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thông qua Nghị
quyết số 27-NQ/TW ngày 21 tháng 5 năm 2018 về cải cách chính sách tiền lương đối
với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh
nghiệp. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 107/NQ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2018
về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW. Từ
năm 2011 đến nay, Chính phủ đã từng bước điều chỉnh mức lương cơ sở đối với khu
vực hưởng lương ngân sách phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và khả năng ngân
sách nhà nước từ 730.000 đồng/tháng (năm 2011) lên 1.490.000 đồng/tháng (năm
2019).
- Từ năm 2007, quan điểm của Đảng về chính sách bảo hiểm xã hội chính thức được
luật hóa bằng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Tiếp theo đó, thực hiện Nghị quyết số
21-NQ/TW ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020, Luật
Bảo hiểm xã hội được sửa đổi toàn diện vào năm 2014 với nhiều nội dung cải cách,
đổi mới.
- Kết quả thực hiện chính sách người có công: Đến nay cả nước đã xác nhận được trên
9,2 triệu người có công với cách mạng; trong đó, số người có công đang hưởng chế độ
ưu đãi hàng tháng gần 1,4 triệu người và khoảng 300.000 thân nhân người có công
đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng với tổng kinh phí khoảng 30.000 tỷ đồng/năm.
6.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kể cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở
một số ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, địa phương còn hạn chế, chưa thực sự đảm
bảo so với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức chưa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, một số nội dung thực hiện còn hình thức,
chưa tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm,
miễn nhiệm cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan,
121
tổ chức có dấu hiệu vi phạm quy định của Đảng và pháp luật nhà nước. Tình trạng
tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu nhân dân vẫn xảy ra trong một bộ phận cán bộ,
công chức. Kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; công tác kiểm tra, thanh tra
công vụ chưa thường xuyên; việc phát hiện các vụ việc tiêu cực chưa kịp thời, còn hạn
chế, công tác xử lý cán bộ, công chức vi phạm pháp luật chưa triệt để.
- Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức mặc dù đã có những đổi
mới nhất định, tuy nhiên, kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức
hàng năm của các bộ, ngành, địa phương chưa phản ánh được thực tế kết quả thực
nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
b) Nguyên nhân
- Tư duy, phương pháp quản lý cán bộ, công chức ở nhiều bộ, ngành trung ương và địa
phương chưa có sự đổi mới. Việc đổi mới quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo
luật chậm được thực hiện, một số quy định về quản lý cán bộ, công chức, viên chức
được ban hành quá lâu không còn phù hợp với thực tế nhưng chưa được thay đổi.
- Công tác kiểm tra, thanh tra công vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật
chưa thường xuyên, tính răn đe, làm gương trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức hiệu
quả thấp.
- Chưa thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút, sử dụng nguồn công chức trẻ theo
ngành nghề đào tạo mà các bộ, ngành, địa phương đang cần.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa hiệu quả.
7. Cải cách chế độ công vụ giai đọan 2011-2030
a) Mục tiêu
Xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động và thực tài. Thực hiện
cơ chế cạnh tranh lành mạnh, dân chủ, công khai, minh bạch trong bổ nhiệm, đề bạt
cán bộ và tuyển dụng công chức, viên chức để thu hút người thực sự có đức, có tài vào
làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước.
- Đến năm 2025:
122
Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có cơ cấu hợp lý, đáp ứng
tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.
- Đến năm 2030:
Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng
cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý; đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ
phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ: 50% - 60% số lãnh đạo, quản lý
cấp phòng, vụ, cục, tổng cục và tương đương ở Trung ương, 25% - 35% số lãnh đạo,
quản lý cấp sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương đương, trên 30% số lãnh
đạo, quản lý cấp phòng trực thuộc sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và tương
đương, 80% số lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước có đủ khả năng làm việc
trong môi trường quốc tế.
100% cán bộ, công chức cấp xã có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hoá về lý
luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng làm việc.
b) Nhiệm vụ
- Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hoặc ban hành mới các văn bản quy
phạm pháp luật về xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo quy
định của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức, bảo đảm đồng bộ với các quy định
của Đảng về công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
đủ năng lực, phẩm chất, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển đất
nước trong giai đoạn mới.
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn
chức danh nghề nghiệp viên chức; đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm,
luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức.
Ban hành quy định về tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan
hành chính nhà nước. Quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện, chính sách để giảm tỷ lệ
người phục vụ trong từng cơ quan, nhất là khối văn phòng.
123
Xây dựng, ban hành các quy định thực hiện thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu
vào công chức, làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương lựa chọn, tuyển dụng theo
yêu cầu, nhiệm vụ; tăng cường phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng,
khu vực.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng tuyển dụng, nâng
ngạch công chức, thăng hạng viên chức.
- Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành theo vị
trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, nâng cao chất lượng,
hợp lý về cơ cấu.
- Tiếp tục mở rộng và triển khai có hiệu quả việc thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm các
chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng và tương đương.
- Nghiên cứu, đổi mới phương pháp, quy trình đánh giá, phân loại cán bộ, công chức,
viên chức theo hướng dẫn chủ, công khai, minh bạch, lượng hóa các tiêu chí đánh giá
dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ và gắn với vị trí việc làm, thông qua công việc,
sản phẩm cụ thể.
- Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức triển khai các văn bản pháp luật quy định về chế độ
tiền lương mới đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo lộ trình
cải cách chính sách tiền lương; quy định quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng
trong các doanh nghiệp nhà nước; quy định về xác định tiền lương đối với sản phẩm,
dịch vụ công ích.
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về quản lý, sử dụng và thực hiện chế độ
chính sách đối với viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi hoạt động
theo hướng đẩy mạnh tự chủ.
- Hoàn thiện quy định về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt động
công vụ; xây dựng và ban hành quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; kịp thời phát
124
hiện và xử lý nghiêm những người có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc
nghỉ hưu.
- Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng và
phẩm chất cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với vị trí việc làm. Rà soát,
sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo
tiêu chuẩn ngạch công chức, hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và yêu cầu của vị
trí việc làm, bảo đảm không trùng lắp, tiết kiệm, hiệu quả; rà soát, cắt giảm các chứng
chỉ bồi dưỡng không cần thiết.
- Đổi mới cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở xã,
phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, bảo đảm
giảm dần số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, nâng cao hiệu quả
hoạt động, thực hiện khoán kinh phí.
- Đổi mới cơ chế, chính sách ưu đãi để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát hiện, thu
hút, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền
vững. Xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng
dụng nhân tài giai đoạn 2021 - 2030.
125
Chương 5
CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG
Trong bất cứ quốc gia nào, nền kinh tế nào, bộ phận tài chính công vẫn
luôn luôn đóng vai trò quan trọng nhất không những đối với hệ thống tài chính
mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân và tất cả các hoạt động của nhà
nước.
Một nhà nước ra đời, có thể tồn tại duy trì hoạt động và thực hiện nhiệm vụ
chức năng của mình thì nhất định phải có nguồn lực tài chính để chi tiêu, thực
hiện các kế hoạch. Đặc biệt, trong thời kì kinh tế xã hội phát triển, vai trò của
Nhà nước ngày càng quan trọng thì hoạt động của nhà nước ngày càng phong
phú, đa dạng, nhu cầu chi tiêu của nhà nước từ đó cũng không ngừng tăng lên về
quy mô và phạm vi. Nguồn tiền do nhà nước thu chi chính là tài chính công.
Hiện nay, trong bối cảnh nên kinh tế mang tính chất hội nhập toàn cầu, các cuộc
khủng hoảng về kinh tế ngày càng phức tạp, thì tài chính công đóng vai trò quan
trọng và chủ chốt trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia, cũng như giảm thiểu
đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường.
Vậy trong bối cảnh hiện đại thì Đảng và Nhà nước đã có những chính sách như
thế nào để cải cách nền tài chính công? Và việc cải cách đó đã tác động như thế
nào ?
I. Khái quát chung về tài chính công
1. Khái niệm tài chính công
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước
tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo
lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của
nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội.
2. Các yếu tố tiền đề quyết định sự ra đời của Tài chính công.
126
1.1 Nhà nước
Nhà nước ra đời mang tính chất khách quan nhưng tồn tai lại mang tính
chất chủ quan Nhà nước có 2 chức năng chính là trấn áp bạo lực và tổ chức quản
lý. Nhà nước thể hiện chức năng trấn áp của mình để phục vụ lợi ích cho nhà
nước, cụ thể ở Việt Nam: thông qua 2 cơ quan là Bộ Công An và Bộ Quốc
phòng. Nhà nước tổ chức quản lý trong 2 lĩnh vực chính là kinh tế và xã hội.
1.2. Nền kinh tế hàng hóa tiền tệ
Kể từ khi xã hội xuất hiện chiếm hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm làm
ra đã làm cho nền kinh tế hàng hóa ra đời và tiền tệ bắt đầu xuất hiện
Xét về mặt hình thức là các hoạt động thu, chi tiền tệ của nhà nước gắn liền với
quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu thực
hiện chức năng của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công cho xã hội.
Xét về mặt thực chất: tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế trong
phân phối nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của
nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhằm thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho xã hội
không vì mục tiêu lợi nhuận.
2. Đặc điểm của tài chính công
- Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước
Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ
công đặc biệt là quỹ ngân sách nhà nước. Các quyết định của nhà nước được thể
chế bằng luật do cơ quan quyền lực cao nhất phê chuẩn. Việc tạo lập và sử dụng
quỹ công phụ thuộc vào quan điểm của nhà nước và các mục tiêu kinh tế-xã hội
quốc gia đặt ra trong từng thời kì.
- Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng
Tài chính công phản ánh quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể
khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính quốc gia nên
127
hoạt động tài chính công phản ánh các quan hệ lợi ích giữa nhà nước với các chủ
thể khác nhau trong nền kinh tế, trong đó lợi ích tổng thể được đặt lên hàng đầu
và chi phối các quan hệ lợi ích khác.
- Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hoá được
Chủ yếu mang tính chất không hoàn lại trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu
quả một cách cụ thể, chính xác. Tuy nhiên, hiệu quả của tài chính công có thể
xác định một cách tương đối thông qua các chỉ tiêu kinh tế-xã hội như tốc độ
tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, hộ nghèo, tỷ lệ thất học...
- Phạm vi hoạt động rộng
Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của nhà nước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục,
y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Hoạt động thu chi tài chính công có tác động
đến thu nhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay
tiêu dùng. Tuy nhiên, phạm vi và mức độ tác động tuỳ thuộc vào chính sách tài
chính công, bối cảnh kinh tế-xã hội quốc gia trong từng thời kì và tuỳ thuộc vào
từng chủ thể.
II. Cải cách tài chính công
1. Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tài
chính công.
1.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tiến hành tại Thủ đô
Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 22- 4-2001. Đại hội đã nghe đồng chí Trần Đức
Lương, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị đọc Diễn văn khai mạc Đại hội, đồng
chí Lê Khả Phiêu,Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóaVIII) đọc
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về các văn
kiện trình Đại hội IX. Đại hội Đảng lần thứ IX có nhiệm vụ tổng kết 5 năm thực
hiện Nghị quyết của Đại hội VIII, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế xã hội 1991 - 2000 và tổng kết 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới.
128
Đại hội IX kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây
dựng Đảng ngang tầm với đòi hỏi của dân tộc trong thời kỳ mới, sửa đổi, bổ
sung Điều lệ, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới.
1.2 Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng, một trong những vấn đề mà Đảng đề
ra,đó là cải cách nền tài chính công. Ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số 136/2001/QĐ- TTg phê chuẩn chương trình cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010.
2. Cụ thể về cải cách tài chính công như sau:
a. Đổi mới cơ chếphân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống
nhất của hệ thốngtài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương;
đồng thời pháthuy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa
phương và cácngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.
b. Bảo đảm quyềnquyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các
cấp, tạo điều kiệncho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở
địa phương; quyềnquyết định của các Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ ngân sách
cho các đơn vị trựcthuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách
trong phạm vi dự toán đượcduyệt phù hợp với chế độ, chính sách.
c. Trên cơ sở phânbiệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp,
dịch vụ công,trong 2 năm 2001 và 2002 thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân
sách cho cơ quanhành chính, xoá bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế,
thay thế bằngcách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động,
hướng vàokiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành
chính, đổimới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ
động của cơquan sử dụng ngân sách.
d. Đổi mới cơ bản cơchế tài chính đối với khu vực dịch vụ công. Xây dựng quan
niệmđúng về dịch vụ công. Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất
và vănhoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ
129
công đềudo cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhận. Trong từng lĩnh vực định rõ
những côngviệc mà Nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công
việc cần phảichuyển để các tổ chức xã hội đảm nhiệm.
Nhà nước có các chínhsách, cơ chế tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức xã
hội và nhân dân trựctiếp làm các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dưới sự
hướng dẫn, hỗ trợ vàkiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành chính nhà nước.
Xoá bỏ cơ chế cấp pháttài chính theo kiểu "xin - cho", ban hành các cơ chế,
chính sách thựchiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều
kiện như trườngđại học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v... trên cơ sở xác định
nhiệm vụ phảithực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và phần còn
lại do cácđơn vị tự trang trải.
e. Thực hiện thíđiểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới, như :
Cho thuê đơn vị sựnghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường,
bệnh viện; chế độ bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức
chuyển từ các đơn vị cônglập sang dân lập;
Cơ chế khuyến khíchcác nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các
cơ sở đào tạo dạynghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao
ở các thành phố,khu công nghiệp; khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp
của nước ngoài vàolĩnh vực này;
Thực hiện cơ chế khoánmột số loại dịch vụ công cộng như: vệ sinh đô thị, cấp
thoát nước, cây xanhcông viên, nước phục vụ nông nghiệp ...;
Thực hiện cơ chế hợpđồng một số dịch vụ công trong cơ quan hành chính.
g. Đổi mới công táckiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp
nhằm nâng cao tráchnhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước,
xóa bỏ tình trạngnhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các cơ
quan hành chính,đơn vị sự nghiệp. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về
tài chính công,tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được công bố công khai.
Thực hiện tốt những cải cách trên đây về tài chính công sẽ tác động trực tiếp đến
130
hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, làm tăng tính tự chủ của các đơn vị
gắn với sự chủ động về tài chính; tạo ra cơ chế tài chính khuyến khích các đơn
vị chi tiêu có hiệu quả, hướng vào kết quả đầu ra và tiết kiệm ngân sách, trên cơ
sở đó tăng cường thu nhập cho người lao động. Đó chính là những động lực thúc
đẩy các cơ quan trong bộ máy nhà nước đổi mới về tổ chức, phương thức hoạt
động và nâng cao năng lực của đội ngũ Cán bộ, công chức, làm cho bộ máy nhà
nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Ngày 08 tháng 11 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP năm
2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 –
2020. Nghị quyết quyết nghị 9 điều khoản về chương trình tổng thể cải cách
hành chính cho 10 năm để Việt Nam đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở
thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Nghị quyết 30/NQ-CP
được ban hành là sự phát triển và kế thừa chương trình tổng thể cải cách hành
chính 2001-2010 theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ. Để thực hiện thành công Nghị quyết 30c/NQ/CP việc phổ biến tuyên truyền
đến toàn thể người dân và doanh nghiệp, quán triệt đến tất cả các cán bộ, công
chức, đảng viên có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bối cảnh ra đời của chương trình
lần này khác với bối cảnh đất nước cách đây 10 năm. Vì vậy, cách tiếp cận lần
này có những điểm khác biệt so với trước đây. Trước hết, lần này Chính phủ ra
Nghị quyết về Chương trình tổng thể cải cách hành chính thay cho Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ. Điều này phù hợp với Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2008. Giá trị pháp lý, tính nhất quán trong việc thông qua văn
bản cũng như tổ chức thực hiện Nghị quyết của Chính phủ cao hơn Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ. Thứ hai, trọng tâm cải cách hành chính trong giai
đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo
động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng
và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ
131
công. Như vậy, so với mục tiêu của chương trình 2011-2010, mục tiêu chương
trình lần này viết gọn hơn mang tính định lượng chứ không như lần trước mục
tiêu tổng quát mang tính định tính.
* Cụ thể như sau:
a) Động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát
triển kinh tế - xã hội; tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, các chính
sách về thu nhập, tiền lương, tiền công; thực hiện cân đối ngân sách tích cực,
bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; dành nguồn lực cho con
người, nhất là cải cách chính sách tiền lương và an sinh xã hội; phấn đấu giảm
dần bội chi ngân sách;
b) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước,
nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay và trả
nợ nước ngoài; giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an
toàn;
c) Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển
khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả
ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công
nghệ sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phát triển các doanh nghiệp khoa
học, công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm; xây dựng
đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài
khoa học và công nghệ;
d) Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới
xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp
ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra,
chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà
132
nước;
đ) Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội
chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục,
thể thao.
Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch
vụ công; từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công
phù hợp; chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế
công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hóa chất lượng dịch
vụ giáo dục, đào tạo, y tế; nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo,
khám chữa bệnh, từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới
và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh; có lộ
trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
Pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện Cải cách tài chính công theo
Nghị quyết của Đảng:
Cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công: Cơ chế này đã được hoàn
thiện nhằm tăng cường huy động các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế -
xã hội. Bước đầu đã hình thành hệ thống các văn bản pháp quy trong lĩnh vực
quản lý tài sản nhà nước, bao gồm các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, vừa tạo
thuận lợi cho đơn vị sử dụng, vừa có tác dụng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài
chính, tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành, các đơn vị trong quản lý và
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản nhà nước, từng bước xác lập chủ sở hữu
đích thực về tài sản nhà nước. Hình thành thống nhất tổ chức quản lý tài sản nhà
nước từ trung ương đến địa phương.
Cụ thể, nhà nước đã ban hành Luật Ngân sách nhà nước để quy định cụ thể các
chính sách, nhiệm vụ chiến lược để đưa nền tài chính phát triển theo một hướng
mới.
- Thứ nhất, Luật NSNN 2015 xác định rõ nhiệm vụ chi của ngân sách trung
133
ương (Điều 36) trong lĩnh vực đầu tư công, bao gồm: Đầu tư cho các dự án, bao
gồm cả các dự án có tính chất liên vùng, khu vực của các cơ quan ở trung ương
theo các lĩnh vực; Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp (DN) cung cấp sản
phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng; các tổ chức kinh tế; các tổ chức
tài chính của trung ương; đầu tư vốn nhà nước vào DN theo quy định của pháp
luật;
Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương (Điều 38) trong lĩnh vực đầu tư
công, bao gồm: Đầu tư cho các dự án do địa phương quản lý theo các lĩnh vực;
Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các DN cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà
nước đặt hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương.
- Thứ hai, định hướng đầu tư vốn cho các DN đã được thể chế hóa trong Luật
Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất - kinh doanh tại DN được
thông qua tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII. Cụ thể: Đầu tư vốn nhà nước để
thành lập DN; Đầu tư bổ sung vốn điều lệ; Đầu tư bổ sung vốn nhà nước để tiếp
tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Đầu tư vốn nhà nước để mua lại một
phần hoặc toàn bộ DN.
Như vậy, việc cơ cấu lại đầu tư công, tập trung vào những dự án trọng
điểm có tầm quan trọng, có tác động lan tỏa thay thế cho cơ chế đầu tư dàn trải,
phân tán trước đây sẽ góp phần đưa nguồn vốn NSNN trở thành “vốn mồi”, kích
thích các nguồn vốn khác trong nền kinh tế.
Về quy định riêng tài chính công:
- Ngân sách nhà nước: Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các
khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi
cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội quan trọng và giải quyết những
vấn đề xã hội bức xúc. Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi
mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địa
phương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủ tục không
134
cần thiết trong cấp phát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát tài chính. Bội chi ngân sách nhà nước được xử lý theo hướng tích cực
và được kiềm chế trong giới hạn cho phép. Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ
nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ
quốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia. Hội nhập quốc tế
trong lĩnh vực tài chính bước đầu đã thu được kết quả tích cực.
- Cơ chế tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp: Trên cơ sở phân định rõ
các đơn vị hành chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng cơ chế quản lý tài
chính đối với cơ quan hành chính, Nhà nước đã ban hành Nghị định số
130/2005/NĐ - CP, ngày 17-10-2005 "Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà
nước" và Nghị định số 43/2006/NĐ - CP, ngày 25-4-2006 "Quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập". Tóm lại, cơ chế tài chính đối với khu
vực hành chính sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theo hướng tiết kiệm và nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính. Cơ chế tài chính trong việc cung cấp
dịch vụ công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu tư
để thực hiện và cung cấp một số dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh
vực sự nghiệp, thu hút được nguồn nội lực đáng kể cho phát triển sự nghiệp: -
Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị hành chính và sự
nghiệp theo Nghị định số 130/2005/NĐ - CP và Nghị định số 43/2006/NĐ - CP
của Chính phủ đã ban hành.
- Nhà nước cần khẩn trương nghiên cứu để trình Quốc hội thông qua Luật Quản
lý, sử dụng tài sản; nó là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện
Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước
về đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là cơ chế quản
lý vốn, tách bạch tài chính doanh nghiệp với tài chính nhà nước.
135
- Nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát kết quả quản lý và sử dụng tài chính công.
- Quy định rõ ràng trách nhiệm vật chất của những người đứng đầu cơ quan
chính quyền nhà nước mỗi cấp trước kết quả quản lý tài chính công của cấp đó.
- Đổi mới công tác thanh tra, giám sát tài chính trong toàn bộ quá trình quản lý
tài chính công.
Trong những năm qua, quản lý tài chính công ở Việt Nam đã từng bước
được cải cách và đổi mới trên nhiều phương diện. Để tiếp tục thực hiện những
mục tiêu, định hướng phát triển tài chính xác định trong các chiến lược, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn của đất nước, Chiến lược Tài
chính đến năm 2020 đã được Bộ Tài chính xây dựng và trình Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt (theo Quyết định số 450/QĐ - TTg ngày 18/04/2012). Chiến lược
này đã đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đối với sự phát
triển của ngành Tài chính Việt Nam theo lộ trình. Mục tiêu xuyên suốt xác định
trong Chiến lược Tài chính đến năm 2020 là từng bước xây dựng nền tài chính
quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô,
tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô
hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã
hội; huy động, quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã
hội hiệu quả, công bằng; cải cách hành chính đồng bộ, toàn diện; đảm bảo tính
hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý, giám sát tài chính.
3. Thực tế triển khai cải cách tài chính công và kết quả đạt được:
3.1. Giai đoạn 2001-2010:
Những kết quả và hạn chế trong quá trình cải cách tài chính
Việt Nam thực hiện cải cách tài chính công chưa được bao lâu, nhưng những kết
quả đạt được trong cải cách là rất cơ bản.
- Hệ thống thuế: Sau nhiều năm thực hiện cải cách, chính sách thuế đã được
136
đổi mới theo hướng thích ứng dần với cơ chế thị trường và phù hợp với thông lệ
quốc tế. Thuế đã bảo đảm nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện tốt các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Trong hệ thống chính
sách thuế đã từng bước giảm dần sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu; thủ tục hành chính
trong thu nộp thuế được đơn giản hóa, công tác quản lý thuế được đổi mới và
dần được hiện đại hóa.
Chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng áp
dụng thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và bước đầu phù hợp với
thông lệ quốc tế, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.
- Ngân sách nhà nước: Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các
khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi
cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội quan trọng và giải quyết những
vấn đề xã hội bức xúc. Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi
mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địa
phương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủ tục không
cần thiết trong cấp phát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát tài chính. Bội chi ngân sách nhà nước được xử lý theo hướng tích cực
và được kiềm chế trong giới hạn cho phép. Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ
nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ
quốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia. Hội nhập quốc tế
trong lĩnh vực tài chính bước đầu đã thu được kết quả tích cực.
- Cơ chế tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp: Trên cơ sở phân định
rõ các đơn vị hành chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng cơ chế quản lý
tài chính đối với cơ quan hành chính, Nhà nước đã ban hành Nghị định số
130/2005/NĐ - CP, ngày 17-10-2005 "Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà
137
nước" và Nghị định số 43/2006/NĐ - CP, ngày 25-4-2006 "Quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập". Tóm lại, cơ chế tài chính đối với khu
vực hành chính sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theo hướng tiết kiệm và nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính. Cơ chế tài chính trong việc cung cấp
dịch vụ công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu tư
để thực hiện và cung cấp một số dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh
vực sự nghiệp, thu hút được nguồn nội lực đáng kể cho phát triển sự nghiệp.
- Cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công: Cơ chế này đã được
hoàn thiện nhằm tăng cường huy động các nguồn lực tài chính cho phát triển
kinh tế - xã hội. Bước đầu đã hình thành hệ thống các văn bản pháp quy trong
lĩnh vực quản lý tài sản nhà nước, bao gồm các chế độ, định mức, tiêu chuẩn,
vừa tạo thuận lợi cho đơn vị sử dụng, vừa có tác dụng nâng cao kỷ luật, kỷ
cương tài chính, tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành, các đơn vị trong
quản lý và sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản nhà nước, từng bước xác lập chủ
sở hữu đích thực về tài sản nhà nước. Hình thành thống nhất tổ chức quản lý tài
sản nhà nước từ trung ương đến địa phương.
- Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA đã được sử dụng
để khôi phục, nâng cấp và xây dựng mới hàng loạt các dự án quốc gia quy mô
lớn trong các lĩnh vực giao thông, điện, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế, giáo dục
và đào tạo. Đồng thời, vốn ODA cũng được chú trọng hơn vào lĩnh vực nông
nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản, sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu,
lĩnh vực du lịch và dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự gia tăng giá trị sản lượng nông
nghiệp và tạo ra nguồn thu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. Nhờ vậy, nguồn vốn
ODA đã đóng góp tích cực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH,
giải quyết các vấn đề xã hội và xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn ODA cho vay
138
lại đối với các doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn để thực hiện
các mục tiêu đầu tư cho các doanh nghiệp, thực hiện đổi mới công nghệ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao đời sống cho người lao động.
- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Việc gia tăng vốn đầu tư thực
hiện thể hiện môi trường đầu tư và kinh doanh ở nước ta đã ngày càng được cải
thiện, tạo điều kiện để các dự án sau khi được cấp phép triển khai có hiệu quả.
Trong 2 năm gần đây, cơ cấu đầu tư nước ngoài có chuyển biến tích vượt bậc,
đặc biệt là việc gia tăng tỷ trọng đầu tư vào kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật của một số ngành mũi nhọn và một số lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
- Quản lý nợ nước ngoài: Đã thực hiện thành công quá trình cơ cấu lại các
khoản nợ trước đây của Việt Nam đối với các chủ nợ nước ngoài, làm giảm đáng
kể nghĩa vụ trả nợ của Việt Nam, tạo điều kiện khai thông quan hệ tài chính - tín
dụng với các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài. Thực hiện thanh toán
trả nợ với các khoản vay mới và các khoản đã cơ cấu lại nợ đã bảo đảm trả nợ
đúng như các hiệp định đã ký, không để phát sinh nợ quá hạn. Đã linh hoạt xử lý
theo hướng chuyển đổi một phần nợ nước ngoài thành các khoản tài trợ cho các
dự án đầu tư trong nước; xử lý giảm số nợ thông qua mua lại nợ, chuyển đổi nợ,
giảm nợ... Bổ sung, sửa đổi cơ chế chính sách quản lý về vay và trả nợ nước
ngoài; tăng cường giám sát về nợ nước ngoài, hợp lý và hiện đại hóa nghiệp vụ
quản lý nợ.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện cải cách tài chính
công ở Việt Nam còn tiềm ẩn những yếu tố chưa ổn định; chất lượng, hiệu quả
và tính bền vững của sự phát triển còn thấp; nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển
lớn, nhưng mức đáp ứng vốn còn hạn chế, nhiều tiềm năng vốn trong nước và
vốn nước ngoài chưa được khai thác tốt.
- Đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng cao, nhưng mức đóng góp vào tăng
trưởng thấp, chưa tương xứng. Quy mô tài chính còn nhỏ, cân đối ngân sách nhà
nước chưa thực sự vững chắc, tỷ trọng thuế trực thu còn thấp. Vốn đầu tư thực
hiện tăng, nhưng tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã 139
hội có xu hướng giảm do tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chậm hơn
tốc độ tăng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác.
- Cơ cấu đầu tư nước ngoài còn mất cân đối cả về cơ cấu vùng và ngành. Đầu
tư vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng giảm sút so với các năm trước. Mặc dù,
Chính phủ đã áp dụng chính sách ưu đãi, nhưng đầu tư nước ngoài vào các vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn chưa đáng kể. Chưa chú ý khai thác vốn
thông qua các "kênh" gián tiếp và thông qua thị trường vốn. Phạm vi đánh thuế
còn hạn hẹp, hệ thống thuế chưa bao quát hết các nguồn thu nhập, bỏ sót nguồn
thu và đối tượng nộp thuế.
- Tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước chưa được khắc phục, bao cấp
chưa được xóa bỏ triệt để; hiệu quả đầu tư còn thấp; thất thoát, lãng phí trong
quản lý và sử dụng đất đai, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi tiêu ngân
sách còn nghiêm trọng, chi tiêu hành chính còn nhiều bất hợp lý, chi ngân sách
cho một số lĩnh vực nhu cầu chăm lo phát triển con người như giáo dục, y tế
chưa đáp ứng nhu cầu cần thiết. Trong nông nghiệp còn nặng về đầu tư thủy lợi
(chiếm khoảng 70%) chủ yếu phục vụ trồng lúa; việc đầu tư cho các lĩnh vực
khác nhau như nghiên cứu giống cây con, chuyển giao công nghệ, chế biến để
nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế. Trong công
nghiệp và các ngành kinh tế còn quá chú trọng đầu tư để tăng công suất (số
lượng) chưa chú ý đến đầu ra của sản phẩm; công tác quy hoạch ngành còn
nhiều hạn chế.
3.2. Giai đoạn 2010-2020
Cải cách tài chính công là một trong 6 nhiệm vụ của Chương trình cải cách hành
chính, góp phần thúc đẩy, bổ trợ cho các nhiệm vụ khác, nhất là các nhiệm vụ về
cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
140
chức và cải cách thủ tục hành chính.
Mục tiêu xuyên suốt xác định trong Chiến lược tài chính đến năm 2020 là
từng bước xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an
ninh tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh
tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội; huy động, quản lý, phân phối và sử
dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng; cải cách hành
chính đồng bộ, toàn diện; đảm bảo tính hiệu quả và hiệu lực của công tác quản
lý, giám sát tài chính. Để thực hiện mục tiêu tổng này, Chiến lược tài chính đến
năm 2020 đã đề ra 8 phương hướng trong đó, liên quan đến lĩnh vực quản lý tài
chính công sẽ tập trung vào 6 trụ cột chủ đạo sau:
1. Nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính quốc gia với các nhiệm
vụ trọng tâm là: Hoàn thiện thể chế tài chính, tạo lập môi trường thuậnlợi nhằm
thu hút hiệu quả, kịp thời các nguồn tài chính trong và ngoài nước cho các mục
tiêu phát triển kinh tế-xã hội; động viên hợp lý các nguồn thu NSNN trên cơ sở
tiếp tục thực hiện cải cách hệ thống thuế, phí, các khoản thu NSNN phù hợp với
quá trình chuyển đổi của nền kinh tế và thông lệ quốc tế; thực hiện đa dạng hoá
các nguồn đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, phát triển dịch vụ công;
2. Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với
quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia, trong đó, tập trung vào các nội dung
như: tăng cường vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện tái cấu trúc đầu tư công; đổi mới cơ chế
phân cấp quản lý NSNN, hoạt động lập và phân bổ dự toán NSNN; từng bước
hoàn thiện khung pháp lý để xây dựng Kế hoạch ngân sách trung hạn, Kế hoạch
đầu tư trung hạn;
3. Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công cùng với đa dạng
hóa nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ công theo hướng: tăng cường phân cấp
141
và tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong
quản lý, sử dụng nguồn lực; đổi mới cơ chế giá dịch vụ sự nghiệp công lập; hoàn
thiện cơ chế chính sách tài chính để thu hút các nguồn lực trong xã hội cho đầu
tư phát triển sự nghiệp công;
4. Hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính doanh nghiệp và thực hiện tái cấu
trúc doanh nghiệp nhà nước với hai nhiệm vụ trọng tâm là: tiếp tục đổi mới
chính sách, cơ chế tài chính doanh nghiệp theo hướng bình đẳng, ổn định, minh
bạch nhằm giải phóng, phát triển sức sản xuất của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế; đẩy mạnh quá trình đổi mới và cơ cấu lại khu vực doanh
nghiệp, các tổng công ty Nhà nước;
5. Nâng cao năng lực, hiệu quả kiểm tra, thanh tra, giám sát và đảm bảo an ninh
tài chính quốc gia, trong đó, tập trung vào các định hướng là: tăng cường nâng
cao kỷ luật tài chính, đẩy mạnh công khai tài chính; tăng cường sự giám sát của
cộng đồng và người dân đối với quá trình huy động, sử dụng nguồn lực công;
nâng cao hiệu quả giám sát, quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn nợ công, nợ quốc
gia; tăng cường vai trò, chức năng giám sát của Nhà nước đối với thị trường tài
chính và dịch vụ tài chính; đổi mới phương thức và cách thức giám sát tài chính
vĩ mô;
6. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, hoàn thiện phương
thức điều hành chính sách tài chính trên cơ sở tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp
luật về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính và thực hiện hiện đại hóa nền
tài chính quốc gia với trọng tâm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
(CNTT).
Đặc biệt, để thực hiện có kết quả những mục tiêu, nhiệm vụ xác định 3 trong
Chiến lược tài chính đến năm 2020, ngành Tài chính đã xác định ba khâu đột
142
phá. Đó là:
Đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế tài chính theo cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa;
Thực hiện tái cơ cấu nền tài chính quốc gia;
Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với hiện đại hóa công nghệ quản lý, đặc biệt là
CNTT. Với các định hướng nói trên có thể thấy vai trò của CNTT trong quá trình
cải cách tài chính ở Việt Nam đã rất được chú trọng và định vị cụ thể. Chiến lược
tài chính đến năm 2020 đã đề ra các định hướng về tăng cường ứng dụng CNTT
trong lĩnh vực tài chính như: tiếp tục xây dựng và triển khai các hệ thống CNTT lớn;
thực hiện tích hợp và đồng bộ các hệ thống công nghệ thông tin hiện có; xây dựng
cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia, củng cố các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; tăng
cường hiệu quả khai thác các hệ thống CNTT trong chỉ đạo điều hành cũng như
trong quá trình dự báo kinh tế - tài chính, phân tích tác động chính sách; và tiến
hành xây dựng Hệ thống thông tin quản lý tài chính chính phủ.
Cải cách hệ thống tài chính công là tiến trình nhằm mục tiêu phát triển bền vững
cả về chính sách huy động nguồn lực, chính sách phân bổ nguồn lực và chính sách
quản lý nợ công. Trong quá trình cải cách này, đổi mới đồng bộ hệ thống thể chế và
khuôn khổ pháp lý về quản lý tài chính công đóng vai trò quyết định. Chính vè vậy,
yêu cầu đặt ra đó là nhanh chóng cải cách toàn diện, cải cách có hiệu quả về mặt
143
pháp lý và thể chế nhằm đạt mục tiêu cải cách tài chính công hiệu quả./.
Từ năm 2011 đến nay, cải cách tài chính công đã có bước chuyển mạnh và đạt
được kết quả thiết thực, góp phần tạo hiệu ứng chung của cải cách hành chính,
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Riêng khía cạnh cải cách cơ
chế quản lý tài chính của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, cải cách tài
chính công đã đạt những kết quả quan trọng.
Việc thực hiện cơ chế khoán kinh phí hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước trong giai đoạn 2011-2015 đã mở rộng hơn về quyền tự chủ của cơ quan
nhà nước trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính, đặc biệt là
việc chủ động trong sử dụng kinh phí hiệu quả, tiết kiệm để hoàn thành nhiệm
vụ được giao, từng bước cải thiện thu nhập của cán bộ, công chức.
Phạm vi các cơ quan thực hiện khoán có sự mở rộng đáng kể so với giai đoạn
trước. Tính đến nay, hầu hết các bộ đã giao thực hiện chế độ tự chủ cho 100%
đơn vị trực thuộc. Tại địa phương, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương đã giao tự chủ đến từng cơ quan, đơn vị trực thuộc. Đặc biệt, từ khi triển
khai theo Nghị định 117/2013/NĐ-CP, việc khoán kinh phí hoạt động đã được
triển khai đến nhiều UBND xã, phường, thị trấn trên khắp cả nước.
Cơ chế khoán kinh phí đã tăng quyền chủ động của các cơ quan trong quá trình
chi tiêu, thực hiện nhiệm vụ nên tỷ trọng kinh phí thực hiện khoán trong tổng
kinh phí được giao của các cơ quan hành chính luôn tăng qua các năm. Khối các
bộ, ngành trung ương, kinh phí giao tự chủ chiếm trên 60% kinh phí được giao,
đối với khối các cơ quan ở địa phương, kinh phí giao tự chủ cao hơn, chiếm trên
70% kinh phí được giao.
Để triển khai cơ chế khoán kinh phí, các cơ quan hành chính phải xây dựng và
thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý tài sản. Việc thực hiện các
quy chế này ngày càng đi vào thực chất, qua đó, đã giúp việc quản lý, sử dụng
kinh phí giao khoán cũng như kinh phí tiết kiệm tại các cơ quan được chặt chẽ,
144
tiết kiệm, hiệu quả.
Thông qua việc thực hiện các biện pháp sử dụng kinh phí được giao tiết kiệm,
hiệu quả, các cơ quan thực hiện khoán kinh phí đã tiết kiệm hơn và sử dụng
nguồn tiết kiệm để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Trong đó, việc phân
phối thu nhập tăng thêm đối với cán bộ, công chức đã gắn với hiệu suất công tác
trên cơ sở đánh giá, phân loại A, B, C; đồng thời thực hiện công khai, minh bạch,
dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Qua đó, đã góp phần nâng cao hiệu quả làm việc,
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong thi hành công vụ.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định: “Trong những năm qua,
tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trước những biến động về kinh
tế và địa chính trị trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu tích cực trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh xã hội; kinh tế vĩ
mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân được cải thiện. Cùng
với đó, nền tài chính công Việt Nam cũng được đổi mới theo hướng ngày càng
minh bạch, hiệu quả, bền vững hơn, có nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc
phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với
biến đổi khí hậu, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế và nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế…”
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng chỉ ra
một loạt thách thức, rủi ro mà nền tài chính công của Việt Nam đang phải đối
mặt. Đó là: Quy mô thu ngân sách so với GDP giảm nhanh, cơ cấu thu chưa hợp
lý, giai đoạn 2006-2010 thu ngân sách là 26 3,°o GDP (trong đó thu từ thuế, phí
là 22 ,6° 0 GDP) và giai đoạn 2011-2015 thu ngân sách là 23 ,6°o GDP (trong
đó thu từ thuế, phí là 20, 8% GDP); Nhu cầu chi ngân sách không ngừng tăng,
vượt khả năng cân đối nguồn lực, dẫn đến cân đối NSNN khó khăn, bội chi cao;
tích lũy ngân sách cho đầu tư phát triển thấp. Cơ cấu chi ngân sách chưa hợp lý,
tỷ trọng chỉ thường xuyên tăng cao, đầu tư phát triển giảm. Nợ công và nghĩa vụ
trả nợ tăng nhanh, áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn
nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ; nợ đọng xây dụng cơ bản và ứng trước 145
ngân sách còn lớn; việc quản lý, sử dụng vốn vay còn bất cập; thiếu gắn kết giữa
quyết định đầu tư với cân đối nghĩa vụ trả nợ. Việc sử dụng ngân sách và vốn
đầu tư công còn lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả. ..
Trong khi đó, mở cửa, hội nhập sâu rộng nền kinh tế, tham gia vào cùng sân
chơi với các nước đi trước, với môi trường cạnh tranh khốc liệt và có xu hướng
gia tăng thời gian tới đòi hỏi công cụ tài chính ngân sách phải đủ mạnh để thực
hiện hiệu quả vai trò định hướng, điều tiết, phân phối và hỗ trợ nền kinh tế…
3.3. Giai đoạn 2011-2020:
3.3.1. Kết quả chủ yếu đạt được
a) Hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, các chính sách về thu nhập, tiền lương,
tiền công, chính sách an sinh xã hội
Trong giai đoạn vừa qua, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước được ban hành, đã từng bước góp phần hoàn thiện chính sách về thuế, thu
nhập, tiền lương và chính sách an sinh xã hội, trở thành động lực phát huy nhân tố con
người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế(40).
Các chính sách thuế được ban hành đã góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà
nước để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn,
bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị trường.
b) Tình hình triển khai các chính sách cải cách về thuế, thu nhập, tiền lương, tiền
công và các chính sách an sinh xã hội
40 Bộ luật Lao động năm 2012; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018, Nghị quyết số 107/NQ-CP ngày 16/8/2018, Kế hoạch số 547-KH/BCSĐ ngày 12/9/2018 của Ban cán sự Đảng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, Quyết định số 1477/QĐ-LĐTBXH ngày 25/10/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về kế hoạch triển khai thực hiện phân công của Chính phủ tại Nghị quyết số 107/NQ-CP; Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13/6/2016 và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13/6/2016 quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người lao động và người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
146
Thực hiện các chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách chính sách tiền lương,
chính sách xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ đã thực hiện chế độ phụ cấp công
vụ đối với cán bộ, công chức, người hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm từ ngân sách
nhà nước(41); điều chỉnh mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức,
người hưởng lương, phụ cấp và người lao động hưởng lương từ ngân sách tùy theo
điều kiện ngân sách hàng năm(42); đồng thời điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã
hội, trợ cấp hàng tháng và trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công; nâng mức trợ giúp xã
hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội(43). Tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2020, mức
lương cơ sở của người lao động trong khu vực công đạt 1.490.000 đồng/tháng, bằng
104% so với mức lương cơ sở năm 2011 (730.000 đồng/tháng). Giai đoạn 2011 - 2020,
thu nhập của người lao động khu vực hành chính, sự nghiệp công đã có sự cải thiện rõ
rệt, góp phần nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, rút ngắn khoảng
cách với mức lương bình quân trên thị trường lao động.
c) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước;
quản lý việc vay và trả nợ nước ngoài, nợ Chính phủ, nợ quốc gia, nợ công.
Các cơ chế, chính sách về quản lý tài chính doanh nghiệp và sắp xếp, cổ phần hóa,
thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ và
được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp và tình
hình thị trường, thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm ngăn chặn thất
thoát vốn, tài sản nhà nước, tạo minh bạch trong công tác quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nước. Các thể chế, chính sách pháp luật trong lĩnh vực quản lý nợ công
cũng đã được hoàn thiện và đổi mới, từng bước tiếp cận các thông lệ quốc tế.
d) Đổi mới cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển khai các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ; phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ
41 Nghị định số 334/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủ về chế độ phụ cấp công vụ.
42 Gồm các Nghị định số: 22/2011/NĐ-CP, 31/2012/NĐ-CP, 66/2013/NĐ-CP, 47/2016/NĐ-CP, 47/2017/NĐ-CP, 72/2018/NĐ-CP, 38/2019/NĐ-CP.
Giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ đã 06 lần điều chỉnh mức lương cơ sở, từ 730.000 đồng lên 1.490.000 đồng, tăng 104%, bình quân tăng 7,6%/năm.
43 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
147
(DNKHCN); xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng
đáng nhân tài khoa học và công nghệ
Bảng 1: Số lượng DNKHCN tại một số tỉnh/thành phố điển hình
Số lượng DNKHCN
Số lượng DNKHCN
Tỉnh/Thành phố
năm 2019
năm 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
78(44)
58
Hà Nội
60(45)
44
Thanh Hóa
24
23
Long An
15
11
Sơn La
12
9
Quảng Ninh(46)
11
11
Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển DNKHCN tiếp tục được hoàn thiện. Ngày
01 tháng 02 năm 2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2019/NĐ-CP về
DNKHCN, quy định những điểm đổi mới căn bản, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự
phát triển của DNKHCN. Ngày 01 tháng 3 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định
số 27/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc thu hút, sử dụng, trọng
dụng cá nhân, chuyên gia hoạt động khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định số
40/2014/NĐ-CP và Nghị định số 87/2014/NĐ-CP. Tính đến tháng 8 năm 2019, cả
nước có 468 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận DNKHCN, tăng 82 doanh
nghiệp so với thời điểm tháng 8 năm 2018. DNKHCN được cấp giấy chứng nhận có
kết quả khoa học và công nghệ thuộc hầu hết các lĩnh vực công nghệ được khuyến
khích phát triển, trong đó chủ yếu: Công nghệ sinh học (38,5%), công nghệ tự động
hóa (20,6%), công nghệ vật liệu mới (9,8%), công nghệ thông tin (9,3%).
đ) Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước
44 Trong đó có 1 doanh nghiệp do Cục PTTTDN cấp Giấy chứng nhận.
45 Trong đó có 6 doanh nghiệp do Cục PTTTDN cấp Giấy chứng nhận.
46 Gặp khó khăn trong việc cấp Giấy chứng nhận DNKHCN do những vướng mắc, khó khăn trong việc giao quyền kết quả nhiệm vụ KHCN sử dụng NSNN theo Nghị định số 70/2018/NĐ-CP.
148
Công tác quản lý tài chính, ngân sách có nhiều chuyển biến rõ nét. Bước đầu đã hình
thành cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành và địa phương trong thực hiện các nội dung cải
cách tài chính công; việc giám sát chi tiêu bằng quy chế chi tiêu nội bộ đã có nhiều
chuyển biến tích cực, làm tăng tính hiệu quả của chi tiêu công, hạn chế tham nhũng,
lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính,
từng bước tăng tính minh bạch trong thực hiện ngân sách.
e) Tăng cường đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm
lo phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục, thể thao
Việc triển khai chính sách xã hội hóa trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du
lịch; giáo dục và đào tạo; y tế... đã từng bước khai thác, phát huy có hiệu quả, nguồn
lực xã hội hóa đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển ngành, từng bước nâng
cao chất lượng hoạt động, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần của
nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, y tế cho người dân.
g) Đẩy mạnh xã hội hóa, hoàn thiện thể chế và tăng cường các biện pháp khuyến
khích đầu tư theo hình thức công - tư (PPP) đối với việc cung cấp dịch vụ công trong y
tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình dự án cơ sở hạ tầng
Các chính sách xã hội hóa đã tạo điều kiện huy động sự đóng góp của các tầng lớp
nhân dân tham gia thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy
nghề; y tế; văn hóa, thể thao tại các địa phương, mang lại nhiều chuyển biến tích cực
với chất lượng ngày càng được cải thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập ngày càng
tăng; mở rộng mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám chữa
bệnh với số lượng và chất lượng cao hơn, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của các
tầng lớp nhân dân.
h) Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự
nghiệp công lập
Hầu hết các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đã thực hiện Nghị định
số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử
dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước và Nghị
định số 117/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
149
130/2005/NĐ-CP. Giai đoạn 2014 - 2018, tỷ lệ kinh phí giao tự chủ/tổng kinh phí
được giao chi quản lý hành chính của các bộ, cơ quan trung ương trung bình khoảng
68% và có xu hướng tăng (năm 2014 đạt 69,7%, năm 2018 tăng lên 73,2%)(47). Tại các
địa phương, kinh phí giao tự chủ/tổng kinh phí được giao chi quản lý hành chính trong
cùng giai đoạn trung bình khoảng 56% và có xu hướng giảm (năm 2014 là 58,9% thì
đến năm 2018 chỉ còn 52,3%)(48).
Hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tự chủ của ĐVSNCL, trong đó có tự
chủ về tài chính, đã từng bước được hoàn thiện theo hướng đẩy mạnh giao quyền tự
chủ tài chính cho các ĐVSNCL(49). Đồng thời, các bộ, ngành đã có nhiều nỗ lực trong
việc triển khai rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các ĐVSNCL theo quy định tại Nghị quyết
số 19-NQ/TW và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các
bộ, ngành (trừ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), từ năm
2011 đến tháng 3 năm 2020, số lượng các ĐVSNCL tự chủ ngày càng tăng, từ 449 đơn
vị ở năm 2011 lên 761 đơn vị ở năm 2015, 816 đơn vị ở năm 2017 và 848 đơn vị ở
tháng 3 năm 2020. So sánh tăng, giảm số lượng ĐVSNCL tự chủ của các bộ, ngành
năm 2020 với năm 2015 cho thấy, ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên tăng hơn 66
đơn vị, trong khi đó, ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên tăng hơn 33
đơn vị ở năm 2020 so với năm 2015. Số lượng ĐVSNCL do nhà nước bảo đảm chi
thường xuyên giảm 33 đơn vị ở năm 2020 so với năm 2015 (Biểu đồ 14, Biểu đồ 15).
47 Tỷ lệ này năm 2014 là 69,7%; năm 2015 là 68,6% và tăng dần trong giai đoạn 2016 - 2018 (năm 2016 là 67,9%, năm 2017 là 71,2% và năm 2018 là 73,2%).
48 Năm 2014 là 58,9%; năm 2015 là 59,1%; năm 2016 là 55%; năm 2017 là 52,3%; năm 2018 là 52,3%.
49 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015; Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong linh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác; Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
150
Biểu đồ 14: Số lượng ĐVSNCL tự chủ
Biểu đồ 15: Số lượng tăng/giảm
của các bộ, ngành trung ương
ĐVSNCL tự chủ của các bộ, ngành
năm 2020 so sánh với năm 2015
Biểu đồ 16: Số lượng ĐVSNCL tự chủ
Biểu đồ 17: Số lượng tăng/giảm
của các tỉnh
ĐVSNCL tự chủ của các tỉnh năm 2020
so sánh với năm 2015
Ở địa phương, theo số liệu tại báo cáo tổng kết của các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương cho thấy, năm 2011 số lượng ĐVSNCL tự chủ là 30.736 đơn vị; đến năm
2015 là 31.138 đơn vị; năm 2017 là 33.324 đơn vị và đến tháng 3 năm 2020 là
151
32.066(50) đơn vị. Số lượng và tỷ lệ tự chủ theo các mức độ của các ĐVSNCL cũng có
sự thay đổi qua các năm. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, cơ cấu tự chủ của các
ĐVSNCL thuộc UBND cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và UBND cấp huyện
cũng có sự thay đổi, theo đó, tỷ lệ tự chủ của các ĐVSNCL bảo đảm chi thường xuyên
và chi đầu tư ngày càng tăng và ĐVSNCL nhà nước bảo đảm chi thường xuyên cũng
có xu hướng giảm (Biểu đồ 16, Biểu đồ 17).
Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ
công lập theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 và một số văn
bản khác của Chính phủ đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều tổ chức khoa học và
công nghệ đã phát huy hiệu quả trong hoạt động, thu hút nguồn lực của xã hội cho hoạt
động khoa học và công nghệ và đầu tư có trọng điểm.
7.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Chính sách tiền lương trong khu vực Nhà nước hiện nay chưa trở thành động lực
mạnh mẽ thúc đẩy và khuyến khích cán bộ, công chức Nhà nước làm việc, tăng năng
suất lao động.
- Hệ thống khuôn khổ pháp lý về chính sách xã hội chưa đồng bộ; các chính sách,
chương trình được ban hành dựa trên vấn đề và nhóm đối tượng mới phát sinh mà
không theo một chiến lược và tầm nhìn tổng thể, dài hạn.
- Việc thực hiện tự chủ tài chính nhìn chung còn chậm, mức độ tự chủ chưa cao, đặc
biệt ở các địa phương; nguồn thu sự nghiệp còn thấp, chủ yếu vẫn là ngân sách nhà
nước cấp phát; chưa có bước chuyển biến mang tính đột phá; chưa thực sự đồng bộ về
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế với tự chủ
về tài chính. Hầu hết các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí vào giá,
dẫn đến khó khăn cho các ĐVSNCL khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.
b) Nguyên nhân
50 Số liệu ĐVSNCL tự chủ của các tỉnh, thành phố bao gồm: đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND cấp tỉnh; đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh; đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND cấp huyện.
152
- Thể chế kinh tế nói chung, thể chế tài chính nói riêng trong một số nội dung còn chưa
bắt kịp đòi hỏi của thực tiễn và liên tục phải sửa đổi, bổ sung.
- Hệ thống tổ chức, bộ máy nhà nước cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức
chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp,...; phân công, phân cấp, phân quyền chưa coi
trọng hiệu quả kinh tế, trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
chưa rõ ràng; cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai, minh
bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế.
- Tư duy bao cấp vẫn còn tồn tại trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở một
số lĩnh vực. Chưa thực sự coi trọng một cách đầy đủ vai trò của thị trường trong huy
động và phân bổ các nguồn lực trong xã hội.
3.3. Phương hướng cải cách tài chính công giai đoạn 2011-2030
5. Cải cách tài chính công
a) Mục tiêu
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp công lập gắn với nhiệm vụ được giao và sản phẩm đầu ra,
nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thúc đẩy sự sáng tạo; nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động; kiểm soát tham nhũng tại các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh
thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu
tư tại doanh nghiệp.
- Đến năm 2025:
+ Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật để đổi mới cơ chế quản lý, phân bổ ngân
sách nhà nước theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và chủ
động, tích cực của ngân sách địa phương.
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài
chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Đến năm
153
2025, có tối thiểu 20% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; 100%
đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, có đủ điều kiện, hoàn thành việc chuyển
đổi thành công ty cổ phần hoặc chuyển sang tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu
tư.
- Đến năm 2030:
Hoàn thiện đầy đủ và đồng bộ hệ thống pháp luật để thể chế hóa các chủ trương của
Đảng về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước và
đơn vị sự nghiệp công lập. Giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước
cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.
b) Nhiệm vụ
- Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản có
liên quan để đổi mới cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước. Sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện quy định về thực hiện cơ chế khoán kinh phí quản lý hành chính tại các cơ
quan, tổ chức hành chính nhà nước trên cơ sở cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và
đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đẩy mạnh hoạt động hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính; tăng cường
theo dõi, giám sát thực hiện quá trình hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực.
Nâng cao năng lực, hiệu quả giám sát và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia; giám sát
an toàn về nợ công, nợ quốc gia, nợ Chính phủ; tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử
dụng vốn vay về cho vay lại.
- Phát triển đồng bộ thị trường tài chính và dịch vụ tài chính: Thị trường chứng khoán
ổn định, vững chắc, hoạt động hiệu quả; thị trường bảo hiểm lành mạnh, an toàn; đồng
bộ thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán; nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá
của Việt Nam; thị trường trái phiếu theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh đi đôi với tái cấu
trúc thị trường tài chính.
- Hoàn thiện cơ chế tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập:
154
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công
lập, bao gồm các quy định về nguồn thu, nhiệm vụ chi, phân phối thu nhập bổ sung;
thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; tăng cường
phân cấp, tạo quyền chủ động cho đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách
nhà nước, các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí làm cơ sở cho việc ban
hành đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật.
+ Ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách
nhà nước; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng và quy chế kiểm tra,
nghiệm thu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý
của bộ, cơ quan Trung ương và địa phương.
+ Chuyển từ hỗ trợ theo cơ chế cấp phát bình quân sang cơ chế Nhà nước đặt hàng,
giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công căn cứ vào chất lượng đầu ra hoặc đấu
thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; tạo sự cạnh tranh bình đẳng trong cung cấp dịch
vụ sự nghiệp công, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa dịch vụ sự nghiệp công.
- Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã
hội hóa:
+ Rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách tạo điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa
cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, nhất là y tế, giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ...
+ Ban hành các chính sách khuyến khích thành lập đơn vị sự nghiệp ngoài công lập
(giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ).
+ Chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập sang mô hình tự chủ hoàn toàn cả về chi
đầu tư, chi thường xuyên.
155
- Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế quản lý vốn
nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế,
chính sách phục vụ quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước. Xây dựng và ban hành
các cơ chế, chính sách thúc đẩy, đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp
nhà nước.
156
Chương 6
HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG SỞ
I. Khái niệm công sở
Điều đầu tiên ta hiểu khái niệm về Công sở hành chính Nhà nước:
“Công sở hành chính Nhà nước (sau đây viết tắt là công sở): Là tổ chức của
hệ thống bộ máy Nhà nước hoặc tổ chức công ích được Nhà nước công nhận,
bao gồm cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế công chức
hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ Nhà nước.
Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do
pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước
hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng.”
Dựa vào khái niệm nêu trên có thể thấy về mặt nội dung công việc, hoạt
động của công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng; về mặt hình
thức tổ chức thì công sở là một tập hợp cơ cấu tổ chức, có phương tiện vật chất
và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình; về ý
nghĩa tổ chức Nhà nước thì có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ quan
Nhà nước, do Nhà nước lập ra và có thẩm quyền giải quyết công vụ. Vậy từ
phân tích trên có thể hiểu: Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành,
kiểm soát công việc hành chính, là nơi phối hợp thực hiện một nhiệm vụ được
Nhà nước giao và là bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lí Nhà
nước.
2. Hiện đại hóa công sở
Hiện đại hóa công sở là quá trình đổi mới phương thức điều hành của hệ
thống hành chính Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định
157
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; từng bước hiện đại hoá công sở,
trang bị các phương tiện làm việc cần thiết; tập trung xây dựng cơ sở khoa học,
thực tiễn để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phương thức điều hành
và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính Nhà nước, là một bộ phận hợp
thành của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước.
II. QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ HIỆN
ĐẠI HÓA CÔNG SỞ
Theo Nghị quyết số 17/NQ-TW về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lí của bộ máy Nhà nước (tại Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành Trung ương khoá X)”, cải cách hành chính phải được tiếp tục
thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo tuân thủ các mục tiêu, quan
điểm, yêu cầu, chủ trương và giải pháp.
- Cải cách hành chính phải được tiến hành trên cơ sở các nghị quyết và
nguyên tắc của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh
đạo và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quy chế phối hợp để nâng cao
vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan và cả bộ máy Nhà nước. Thực hiện phân
công, phân cấp rõ ràng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phục vụ tốt nhất
cho nhân dân và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân.
- Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ, vững chắc, có
trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể và bảo đảm sự phát
triển ổn định, bền vững của đất nước.
Trên tinh thần một số quan điểm chính sách về hiện đại hóa nền hành chính,
hiện đại hóa công sở được triển khai trong các Chương trình cải cách hành
158
chính :
- Cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại,
ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là
công nghệ thông tin.
- Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống công sở của các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; đồng thời định rõ kế
hoạch đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp, xây dựng công sở; xây dựng tiêu chuẩn
hoá chế độ về trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan hành chính
Nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước, làm cơ sở xác
định nguyên tắc đầu tư, thứ tự đầu tư và bảo đảm sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn có tính đến hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
- Đổi mới một cách căn bản chế độ họp và giấy tờ hành chính (không bao gồm
văn bản quy phạm pháp luật) trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà
nước; giảm tối đa và loại bỏ những cuộc họp không cần thiết.
- Tăng cường công tác quản lý và hiện đại hoá công sở của các cơ quan hành
chính địa phương theo hướng tập trung.
- Đầu tư phù hợp các điều kiện thiết yếu cho cải cách như cơ sở vật chất, trang
thiết bị, chế độ ưu đãi nhằm phục vụ tốt hơn cho yêu cầu của tổ chức và công
dân và từng bước hiện đại hoá công sở. Công sở của cơ quan hành chính Nhà
nước các cấp phải được đầu tư, xây dựng hợp lý theo quy hoạch, tiết kiệm và có
hiệu quả.
- Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong nền kinh tế thị
trường thì khách hàng - dân là thượng đế. Vì vậy trong mọi hoạt động công vụ,
cán bộ, công chức phải lấy phục vụ nhân dân làm mục đích cao nhất. Khi làm
việc với dân hay khi dân có việc đến công sở, cán bộ, công chức phải có phong
cách “của người bán hàng”: tôn trọng, lắng nghe, niềm nở, lịch thiệp. Dân chưa
biết thì hướng dẫn, dân chưa hiểu, chưa thông thì tuyên truyền, giải thích, phải
159
làm “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”.
- Những công việc của công sở cũng không nhất thiết chỉ có người của công
sở làm. Trừ những việc liên quan đến bí mật quốc gia, những công việc phải làm
thường xuyên, còn những việc khác như các chương trình, dự án, xây dựng quy
hoạch, chế độ, chính sách, thậm chí soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật
cũng có thể thuê chuyên gia hoặc ký hợp đồng với các tổ chức. Có thể tổ chức
đấu thầu để chọn ra các cá nhân, tổ chức làm có chất lượng, hiệu quả và kinh tế
nhất. Áp dụng quy luật cạnh tranh trong các cơ quan hành chính Nhà nước chính
là giải pháp đổi mới tổ chức và phương pháp làm việc khắc phục căn bệnh bảo
thủ, trì trệ trong bộ máy Nhà nước. Ngoài ra Nhà nước cũng phải tính đến các
chế độ, chính sách để cạnh tranh, thu hút và giữ nhân tài làm việc cho Nhà nước.
III. PHÁP LUẬT VỀ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG SỞ
1. Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 –
2010 (Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày17 tháng 9 năm 2001 của
Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành
chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010)
1.1. Mục tiêu chung
Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cóphẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được
cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
1.2. Nội dung
a. Cải cách thể chế
160
b. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
c. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
d. Cải cách tài chính công
1.3. Các chương trình hành động thực hiện Chương trình tổng thể
Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 được thực hiện thông qua các chương trình hành động cụ thể sau đây :
1.3.1. Chương trình hiện đại hóa nền hành chính với nội dung liên quan đến
hiện đại hóa công sở như:
- Đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính;
- Hiện đại hóa công sở,bảo đảm trang thiết bị và điều kiện làm việc tương
đối hiện đại cho các cơ quan hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;
- Tiếp tục nâng cấp và mở rộng mạng tin học diện rộng của Chính phủ đến
4 cấp chính quyền;
- Chính quyền cấp xã có trụ sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu
của nhiệm vụ quản lý.
1.3.2. Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hóa công sở của hệ
thống hành chính Nhà nước giai đoạn 2003-2005 (Quyết định số
169/2003/QĐ-TTg ngày 12/8/2003 Phê duyệt Đề án Đổi mới phương thức
điều hành và hiện đại hóa công sở của hệ thống hành chính Nhà nước giai
đoạn I (2003- 2005)
- Mục tiêu
Mục tiêu của đề án là tiếp tục đổi mới phương thức điều hành của hệ thống
hành chính Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; từng bước hiện đại hoá công sở, trang bị các
161
phương tiện làm việc cần thiết; trước mắt, tập trung xây dựng cơ sở khoa học,
thực tiễn để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phương thức điều hành
và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính Nhà nước, là một bộ phận hợp
thành của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010.
- Yêu cầu
a) Xác định rõ phương thức điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ theo hướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung chỉ đạo điều hành vĩ
mô đối với toàn xã hội thông qua việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực
hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
b) Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ quan
Nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện chính sách; xác định rõ các nguyên tắc
làm việc, quy chế hoá quy trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính
Nhà nước các cấp, theo hướng mỗi việc phải có một tổ chức, một cá nhân chịu
trách nhiệm, việc nào chưa thể giao tách bạch cho một cơ quan thì phải quy định
cơ quan chủ trì kèm theo quy chế phối hợp; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành
chính, đề cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức bằng các quy định cụ
thể, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính Nhà nước;
c) Quy trình giải quyết công việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước
phải được chuẩn hoá và công khai hoá; hệ thống các biểu mẫu, giấy tờ hành
chính được sử dụng thống nhất trong các cơ quan hành chính Nhà nước;
d) Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống công sở của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; đồng thời định rõ
kế hoạch đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp, xây dựng công sở; xây dựng tiêu
chuẩn hoá chế độ về trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan hành
162
chính Nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước, làm cơ
sở xác định nguyên tắc đầu tư, thứ tự đầu tư và bảo đảm sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn có tính đến hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
- Phạm vi:
Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống
hành chính Nhà nước giai đoạn I (2003 - 2005) được giới hạn trong phạm vi sau
đây :
a) Đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước;
b) Hiện đại hoá công sở các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp.
Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống
hành chính Nhà nước giai đoạn I (2003 - 2005) được thực hiện thông qua các
tiểu Đề án cụ thể sau đây:
Tiểu Đề án 1 : Nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ quan
hành chính Nhà nước trong quá trình xây dựng, ban hành và kiểm tra việc
thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
- Mục tiêu :
Tạo được một sự chuyển biến về chất trong công tác phối hợp giữa các cơ
quan hành chính Nhà nước ở trung ương trong quá trình xây dựng, ban hành và
kiểm tra việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phục vụ cho
phát triển kinh tế - xã hội. Định rõ được trách nhiệm của bộ, ngành và địa
phương trong quá trình tham gia xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện
chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.
- Nội dung :
Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ
163
quan hành chính Nhà nước trong việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực
hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; nghiên cứu, xác định rõ các
nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị đổi mới công tác phối hợp, ban hành cơ
chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch.
Tiểu Đề án 2 : Rà soát, đánh giá quy chế làm việc của các cơ quan hành
chính Nhà nước; xây dựng quy chế làm việc mẫu của bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp
- Mục tiêu :
Quy chế hoá quy trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính
Nhà nước các cấp theo hướng mỗi việc phải có một tổ chức, một cá nhân chịu
trách nhiệm, việc nào chưa thể giao tách bạch cho một cơ quan thì phải quy định
cơ quan chủ trì kèm theo quy chế phối hợp; đề cao trách nhiệm cá nhân của cán
bộ, công chức bằng các quy định cụ thể, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu
các cơ quan hành chính Nhà nước.
- Nội dung :
- Điều tra, thu thập tài liệu các quy chế làm việc hiện hành các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp;
- Rà soát, đánh giá quy chế làm việc của các cơ quan hành chính Nhà nước;
xây dựng quy chế làm việc mẫu của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Tiểu Đề án 3 : Thí điểm và triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước
- Mục tiêu :
Xây dựng một quy trình xử lý công việc trong các cơ quan hành chính Nhà
nước một cách khoa học, hợp lý, tạo điều kiện để người đứng đầu cơ quan hành 164
chính Nhà nước kiểm soát được quá trình giải quyết công việc trong nội bộ của
cơ quan, thông qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác
quản lý và cung cấp dịch vụ công.
- Nội dung :
- Khảo sát tình hình, xây dựng văn bản về điều kiện áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước;
- Lựa chọn một số cơ quan để làm thí điểm và cấp chứng chỉ khi đạt yêu
cầu;
- Tiến hành tổng kết, đánh giá, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy
phạm pháp luật quy định cho phép mở rộng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng;
tổ chức áp dụng và cấp chứng chỉ cho các cơ quan đạt tiêu chuẩn hệ thống quản
lý chất lượng trong quản lý hành chính.
Tiểu Đề án 4 : Cải tiến chế độ họp, giảm bớt giấy tờ hành chính trong
hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước
- Mục tiêu :
Đổi mới một cách căn bản chế độ họp và giấy tờ hành chính (không bao
gồm văn bản quy phạm pháp luật) trong hoạt động của các cơ quan hành chính
Nhà nước; giảm tối đa và loại bỏ những cuộc họp không cần thiết, xây dựng hệ
thống mẫu văn bản hành chính thống nhất trong cơ quan hành chính Nhà nước
các cấp.
- Nội dung :
- Khảo sát, đánh giá về thực trạng họp và giấy tờ hành chính của các cơ
165
quan hành chính Nhà nước;
- Xây dựng biểu mẫu, giấy tờ hành chính trong các cơ quan hành chính Nhà
nước.
Tiểu Đề án 5 : Khảo sát, đánh giá thực trạng và xây dựng quy hoạch
tổng thể hệ thống công sở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Ủy ban nhân dân các cấp
- Mục tiêu :
Đánh giá thực trạng hệ thống công sở của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấptừ quy hoạch đến đầu tư xây
dựng mới, sửa chữa cải tạo; đề xuất yêu cầu, nội dung và giải pháp hiện đại hoá
công sở.
- Nội dung :
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hệ thống công sở các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; đề xuất nội dung, nguyên
tắc quy hoạch và quy hoạch tổng thể công sở của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp;
- Nghiên cứu và xây dựng bộ tiêu chuẩn công sở mới của các cơ quan hành
chính Nhà nước;
- Nghiên cứu, xây dựng mô hình khu hành chính tập trung ở cấp tỉnh,
huyện;
- Nghiên cứu, xây dựng các quy định về thiết kế mẫu, thiết kế điển hình,
chế độ bảo hành bảo trì, quy chế quản lý Nhà công sở các cơ quan hành chính
Nhà nước.
Tiểu Đề án 6 : Lập kế hoạch đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp, xây
dựng hệ thống công sở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
166
Ủy ban nhân dân các cấp giai đoạn 2005 – 2010
- Mục tiêu :
Lập kế hoạch để nắm được nhu cầu cần đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp,
xây dựng hệ thống công sở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp; trên cơ sở đó xác định nguyên tắc đầu tư, thứ tự đầu tư
và bảo đảm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tiết kiệm
cho ngân sách Nhà nước.
- Nội dung :
Nghiên cứu và lập kế hoạch đầu tư sửa chữa, cải tạo nâng cấp, xây dựng hệ
thống công sở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân
dân các cấp.
Tiểu Đề án 7 : Điều tra, nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn chế độ về
trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên
chức hành chính Nhà nước
- Mục tiêu :
Tiêu chuẩn hoá về chế độ trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan
và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước trên nguyên tắc bảo đảm
sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước.
- Nội dung :
- Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng trang thiết bị, phương tiện làm
việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước;
- Nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn chế độ về trang thiết bị, phương tiện
167
làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước.
1.3.2. Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2011-2020 (Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về
Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020)
Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể
chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú
trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công
chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất
lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
Nhiệm vụ của Chương trình
1. Cải cách thể chế
2. Cải cách thủ tục hành chính
3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước
4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
5. Cải cách tài chính công
6. Hiện đại hóa hành chính
Trong hiện đại hóa hành chính, việc hiện đại hóa công sở cũng đặt ra các
yêu cầu:
a) Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành
chính của Chính phủ trên Internet. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin -
truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước để đến năm
2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính
Nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức
thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu
168
điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch
của các cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử,
mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết
các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành
chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người
dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;
b) Ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công
việc của từng cơ quan hành chính Nhà nước, giữa các cơ quan hành chính Nhà
nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt
động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;
c) Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin
điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet. Xây dựng và sử dụng thống nhất
biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính Nhà nước, tổ chức và
cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính;
d) Thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan
hành chính Nhà nước;
đ) Phê duyệt Kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã, phường bảo đảm yêu cầu cải
cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước;
e) Xây dựng trụ sở cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương hiện đại,
tập trung ở những nơi có điều kiện.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước 10 năm được chia
thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2011 - 2015) về Hiện đại hóa hành chính công sở gồm các
mục tiêu chủ yếu
- 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành
chính Nhà nước được thực hiện trên mạng điện tử; 100% cơ quan hành chính
169
Nhà nước từ cấp huyện trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin
điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định; cung cấp tất cả các dịch vụ
công trực tuyến ở mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức
độ 3 tới người dân và doanh nghiệp;
- Các trang tin, cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
hoàn thành việc kết nối với Cổng thông tin điện tử Chính phủ, hình thành đầy đủ
Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet.
Giai đoạn 2 (2016 - 2020)
Đến năm 2020, việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong
hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước đạt được mục tiêu đề ra ở mục
tiêu chung
Kế hoạch cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2016-2020
(Quyết định số 225/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Kế
hoạch cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2016 – 2020)
Mục tiêu
- Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách
hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP của
Chính phủ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính Nhà
nước trong giai đoạn II (2016 - 2020). Trong đó, tập trung thực hiện các trọng
tâm cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020 là: Cải cách thể chế; xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách
chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên
chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch
vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
- Khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực
170
hiện giai đoạn 2011 - 2015 của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà
nước theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính
phủ.
- Gắn kết công tác cải cách hành chính của các bộ, ngành và địa phương;
tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu cơ
quan hành chính Nhà nước các cấp trong việc triển khai nhiệm vụ cải cách hành
chính. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của cải cách hành chính để phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2020.
Vềhiện đại hóa hành chính công sở
a) Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin hành chính điện
tử của Chính phủ; xây dựng Cổng dịch vụ công Quốc gia để tích hợp tất cả các
dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành, địa phương.
b) Triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử. Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông trong quy trình xử lý công
việc của từng cơ quan hành chính Nhà nước, giữa các cơ quan hành chính Nhà
nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân. Phát triển, tích
hợp, kết nối các hệ thống thông tin quy mô quốc gia, tạo lập môi trường mạng,
chia sẻ thông tin rộng khắp giữa các cơ quan Nhà nước.
c) Phát triển các hệ thống thông tin thiết yếu cho công tác ứng dụng công
nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp; bảo đảm triển khai đồng bộ
với việc phát triển các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quy mô quốc gia; thống
nhất ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, toàn diện tại Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông; tăng cường kết nối,
chia sẻ thông tin, trao đổi, xử lý hồ sơ qua mạng.
d) Nâng cao chất lượng phục vụ và tính công khai, minh bạch trong hoạt
động của cơ quan hành chính Nhà nước thông qua đẩy mạnh cung cấp dịch vụ
công trực tuyến cho người dân, tổ chức; cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực
tuyến mức độ 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ cá nhân và tổ chức mọi lúc, 171
mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau. Ứng dụng công nghệ thông
tinđể giảm thời gian, số lần trong một năm cá nhân, tổ chức phải đến trực tiếp cơ
quan Nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính.
Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2016 - 2020: 30% hồ sơ thủ tục hành chính
được xử lý trực tuyến tại mức độ 4; 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được
nộp qua mạng; 90% số doanh nghiệp thực hiện nộp thuế qua mạng; 90% cơ
quan, tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong việc thực hiện thủ tục tham gia
Bảo hiểm xã hội; tỷ lệ cấp đăng ký doanh nghiệp qua mạng đạt 20%; tỷ lệ cấp
giấy chứng nhận đầu tư qua mạng đạt 10%.
đ) Kết hợp chặt chẽ với triển khai các nội dung cải cách hành chính để
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước có tác
dụng thực sự thúc đẩy cải cách hành chính. Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông
tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước nhằm tăng tốc độ xử lý công việc,
giảm chi phí hoạt động.
e) Nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành hoạt động của cơ quan hành
chính thông qua việc sử dụng hiệu quả mạng thông tin điện tử hành chính.
- 100% văn bản không mật trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ dưới dạng điện tử;
- 80% văn bản trao đổi giữa các cơ quan Nhà nước dưới dạng điện tử.
g) Xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tại các cơ quan hành
chính theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008, ưu tiên triển khai ISO
điện tử.
h) Tổng kết, đánh giá hoạt động của Trung tâm hành chính tập trung, mô
hình trung tâm hành chính công của một số địa phương. Tiếp tục đầu tư xây
172
dựng trụ sở cơ quan hành chính, đặc biệt là trụ sở cấp xã.
Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
cơ quan nhà nước giai đoạn 2016-2020
(Quyết định số 1819/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước giai đoạn 2016 –
2020)
Mục tiêu
- Cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 4, đáp ứng nhu cầu
thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều
phương tiện khác nhau. Ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thời gian, số lần
trong một năm người dân, doanh nghiệp phải đến trực tiếp cơ quan Nhà nước
thực hiện các thủ tục hành chính.
- Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
Nhà nước nhằm tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hoạt động.
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia,
tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.
Tích hợp, kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trên quy mô quốc gia, tạo
lập môi trường chia sẻ thông tin qua mạng rộng khắp giữa các cơ quan trên cơ
sở Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.
- Thực hiện thành công các mục tiêu hàng năm nêu trong Nghị quyết của
Chính phủ về Chính phủ điện tử.
Các hoạt động của chương trình
Hoạt động 1: Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và
doanh nghiệp
Hoạt động 2: Phát triển và hoàn thiện các ứng dụng công nghệ thông tin trong
173
nội bộ cơ quan Nhà nước
Hoạt động 3: Phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử
Ngoài ra để thực hiện việc hiện đại hóa nền hành chính, trong đó có hiện
đại hóa công sở còn 1 số các chính sách pháp luật như:
- Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ nămBan chấp hành Trung ương Đảng khóa Xvề đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý của Bộ máy Nhà nước (Nghị quyết số
53/2007/NQ-CP của Chính phủ):
a) Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan
hành chính Nhà nước.
b) Tiếp tục áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN
9001 - 2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước.
c) Phấn đấu đến hết năm 2010, khắc phục xong tình trạng một số xã chưa
có trụ sở chính quyền hoặc có nhưng ở mức độ chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt
động của chính quyền cấp xã.
- Chỉ thị 1073/CT-TTg Về việc tăng cường công tác quản lý và hiện đại
hóa công sở của cơ quan hành chính ở địa phương theo hướng tập trung (2011)
Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về việc đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước, để thực hiện yêu cầu
“quy hoạch và xây dựng công sở theo hướng tập trung và từng bước hiện đại, có
đủ điều kiện và phương tiện làm việc, tạo thuận lợi cho người dân khi đến liên
hệ giải quyết công việc”, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
1. Yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
174
Trung ương chỉ đạo quyết liệt để đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp lại Nhà,
đất thuộc sở hữu Nhà nước, đặc biệt rà soát lại hệ thống công sở các cơ quan
hành chính Nhà nước thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
2. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hệ thống công sở
còn nằm rải rác, chưa đủ diện tích làm việc và chất lượng công sở bị xuống cấp
thì chủ động sắp xếp, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức. Đối
với địa phương có đủ điều kiện thì xây dựng phương án và báo cáo Thủ tướng
Chính phủ xem xét về chủ trương đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung.
3. Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung phải phù
hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất, các quy hoạch liên quan và
đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Khu hành chính tập trung phải đáp ứng mục tiêu, yêu cầu hiện đại hóa
công sở; bảo đảm mục tiêu làm việc liên hoàn với đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ
thuật hiện đại (phòng họp, hội nghị, hội thảo, bộ phận tiếp công dân, lưu trữ, thư
viện, giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc…); là địa điểm
làm việc giao dịch thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước và đáp ứng nhu cầu giải
quyết công việc của người dân; được trang bị đồng bộ (thiết bị văn phòng) phù
hợp, hiệu quả, thống nhất cung cấp các dịch vụ công sở.
b) Vị trí lựa chọn để xây dựng khu hành chính tập trung phải phù hợp với
quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được cấp có thẩm quyền
phê duyệt; thiết kế kiến trúc, xây dựng công trình tuân theo các quy định của
pháp luật về quy hoạch và xây dựng; tùy theo điều kiện về địa hình, khí hậu và
đặc điểm địa chất, kiến trúc của từng vùng, miền để nghiên cứu phương án bảo
đảm tiết kiệm quỹ đất và chi phí vận hành.
c) Việc quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung
175
phải căn cứ định hướng biên chế của cơ quan hành chính Nhà nước theo từng
giai đoạn được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn, định
mức sử dụng trụ sở làm việc các cơ quan Nhà nước
d) Khu hành chính tập trung được bố trí là nơi làm việc của các cơ quan
quản lý hành chính Nhà nước cấp tỉnh. Tùy theo tình hình thực tế ở địa phương
có thể bố trí trong khu hành chính tập trung là khu làm việc của các cơ quan
Đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Bên cạnh khu hành chính tập trung hình thành
khu dịch vụ công (các đơn vị sự nghiệp công lập, trung tâm y tế, các khu thể
thao…).
đ) Khu hành chính tập trung phải có Quy chế quản lý quy định cụ thể về
công tác quản lý, sử dụng. Thành lập Ban quản lý khu hành chính tập trung là cơ
quan chuyên trách được giao dự toán ngân sách hàng năm có trách nhiệm quản
lý, bố trí sử dụng, quản lý vận hành hoặc thuê dịch vụ quản lý, vận hành đồng bộ
khu hành chính tập trung.
IV> THỰC TIỄN
Triển khai đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong hiện đại hóa
công sở và kết quả
Từ những quan điểm hiện đại hóa công sở mà Nhà nước ta đặt ra, Nhà
nước ta cũng từng bước triển khai các quan điểm thành thực tế:
1. Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2001 – 2010
Thời gian thực hiện: 2001 -2010, chia 2 giai đoạn là: 2001 - 2005 và 2006
- 2010.
Cơ quan chủ trì: Văn phòng Chính phủ.
Căn cứ Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ
176
tướng chính phủ về Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà
nước giai đoạn 2001-2010, một trong 7 chương trình hành động thực hiện
chương trình tổng thể là chương trình hiện đại hóa nền hành chính, với nội dung
chủ yếu là:
+ Đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính;
+ Hiện đại hóa công sở, bảo đảm trang thiết bị và điều kiện làm việc
tương đối hiện đại cho các cơ quan hành chính;
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp;
+ Tiếp tục nâng cấp và mở rộng mạng tin học diện rộng của Chính phủ
đến 4 cấp chính quyền;
+ Chính quyền cấp xã có trụ sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu
của nhiệm vụ quản lý.
Cần lưu ý rằng 7 chương trình hành động không thay thế kế hoạch cải
cách hành chính của các Bộ, ngành và địa phương, một vài đề án như:
Quyết định 169 Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá
công sở của hệ thống hành chính Nhà nước giai đoạn I (2003 – 2005)
Ngày 12 tháng 8 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
169/2003/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại
hoá công sở của hệ thống hành chính Nhà nước giai đoạn I (2003 - 2005 - gọi tắt
là Đề án 169) và giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học và Công nghệ
thực hiện Đề án này.
Thực hiện chỉ đạo của Ban Điều hành Đề án 169, trong tháng 11 năm
2003 các bộ có liên quan đều đã ra quyết định phân công đơn vị trực thuộc chủ
trì thực hiện tiểu đề án được phân công; từ tháng 11/2003 đến tháng 5 năm 2004
các bộ đã lần lượt thành lập Ban Điều hành, Ban Chỉ đạo hoặc Tổ công tác để 177
giúp Bộ trưởng phối hợp giữa các đơn vị trực thuộc bộ tổ chức triển khai thực
hiện nội dung của tiểu đề án được phân công .
Tổng kinh phí thực hiện Đề án là 10.317.000.000 đồng được cấp từ nguồn
Ngân sách Nhà nước theo Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 Thủ
tướng Chính phủ và chuyển về tài khoản của Văn phòng Chính phủ.
Tại kế hoạch 2005, Bộ Xây dựng giao cho Viện Nghiên cứu Kiến trúc lập
thiết kế mẫu, thiết kế điển hình công sở phù hợp với Chương trình cải cách hành
chính của Chính phủ, phù hợp với sự đổi mới về bố cục, về trang thiết bị... của
công trình. Đối tượng nghiên cứu bao gồm Công sở cơ quan hành chính Nhà
nước cấp Trung ương, Công sở các Sở, Ban, Ngành tỉnh, thành phố, Công sở
HĐND - UBND cấp huyện, Công sở làm việc phường. Các mẫu công sở được
thiết kế theo phương pháp thiết kế điển hình bộ phận để đảm bảo được yêu cầu
đa dạng hoá mặt bằng và mặt đứng công trình, tạo không gian kiến trúc linh hoạt,
dễ áp dụng cho nhiều khu đất xây dựng ở nhiều vùng khác nhau.
Thực hiện chủ trương hiệnđại hoá công sở của Chính phủ, nhiều địa
phương đã triển khai việc đầu tư xây dựng mới và cải tạo công sở làm việc. Viện
Nghiên cứu Kiến trúc đã tập trung thiết kế điển hình Công sở cơ quan hành
chính Nhà nước cấp Trung ương, Công sở các Sở, Ban, Ngành tỉnh, thành phố,
Công sở HĐND - UBND cấp huyện, Công sở làm việc phườngThiết kế điển
hình công sở Nhà nước đã đáp ứng được yêu cầu xây dựng hiện nay.
Chỉ thị số 1073/CT-TTg yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
T.Ư tăng cường công tác quản lý và hiện đại hóa công sở của cơ quan hành
chính ở địa phương theo hướng tập trung.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc T.Ư chỉ đạo quyết liệt để đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp lại Nhà, đất
178
thuộc sở hữu Nhà nước, rà soát lại hệ thống công sở các cơ quan hành chính Nhà
nước thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư. Ðối với các địa phương có đủ
điều kiện thì xây dựng phương án và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét về
chủ trương đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung, bảo đảm mục tiêu làm
việc liên hoàn, giao dịch thuận lợi. Bên cạnh khu hành chính tập trung hình
thành khu dịch vụ công (các đơn vị sự nghiệp công lập, trung tâm y tế, các khu
thể thao...).
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lựa chọn các hình thức
huy động vốn đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung, phù hợp với điều kiện
thực tế của từng địa phương, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực
hiện có...
2. Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2011- 2020
Thực hiện theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính
phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2011-2020
Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương ứng dụng
CNTT nhằm cải cách hành chính, hiện đại hóa cơ quan chính phủ, xây dựng một
Chính phủ hiệu lực, hiệu quả hơn, thực sự của dân, do dân và vì dân, nâng cao
năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Điều
này được thể hiện rõ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các chương
trình về cải cách hành chính của đất nước.
Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển ứng dụng CNTT,
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình ứng dụng CNTT trong các CQNN hết
sức cụ thể, thiết thực, như: Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số
179
64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt
động của CQNN; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ
quy định vể việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông
tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN; Quyết định số 1605/QĐ-TTg
ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về
ứng dụng CNTT trong hoạt dộng của CQNN giai đoạn 2011-2015, Luật An toàn
thông tin và Nghị quyết số 36a/NQ- CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về
CPĐT.
Bộ Thông tin và Truyền thông với chức năng là cơ quan quản lý Nhà
nước về CNTT, bên cạnh việc tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
trong việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về ứng dụng CNTT, đã ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra các cơ quan Nhà nước trong tổ
chức triển khai thực hiện ứng dụng CNTT.
Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước đã
dược triển khai xây lựng, kết nối đến cấp sở, ban, ngành, quận, huyện.
Kết quả đạt được
Thời gian qua, phương thức điều hành của Chính phủ và cơ quan hành
chính Nhà nước các cấp đã từng bước được đổi mới. Chính phủ, các bộ đã tập
trung nhiều hơn vào công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trước
hết là thể chế kinh tế; Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Các bộ, ngành và địa
phương đã chú trọng vào việc hiện đại hoá công sở; đặc biệt về đầu tư sửa chữa,
cải tạo nâng cấp, xây dựng công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ
quan, từng bước cải thiện điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức hành chính Nhà nước.
- Nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ quan hành chính
180
Nhà nước trong quá trình xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch: Đặc biệt là Dự thảo Nghị định về công
tác phối hợp trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước đã hoàn
thành và hoàn tất các thủ tục thẩm định của Bộ Tư pháp, xin ý kiến thành viên
Chính phủ.
- Rà soát, đánh giá quy chế làm việc của các cơ quan hành chính Nhà
nước và xây dựng quy chế làm việc mẫu của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, UBND các cấp, trong đó đã có Báo cáo tổng quan và Dự thảo
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế làm việc mẫu của bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
- Đã thí điểm và triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng và hoạt
động của các cơ quan hành chính Nhà nước
- Cải tiến chế độ họp, giảm bớt giấy tờ hành chính trong hoạt động của
các cơ quan hành chính Nhà nước. Việc tổ chức thực thi đơn giản hóa thủ tục
hành chính nhằm từng bước sửa đổi, bổ sung hệ thống thủ tục hành chính theo
phương án đã được Chính phủ phê duyệt tại 25 Nghị quyết chuyên đề năm 2010
là một nội dung trọng tâm trong công tác cải cách thủ tục hành chính từ năm
2011 đến nay được các ngành, các cấp tích cực tổ chức thực hiện. Tính đến
tháng 6 năm 2016, các Bộ, ngành đã ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp
có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để đơn giản hóa
4.527/4.723 thủ tục hành chính đã được Chính phủ phê duyệt tại 25 Nghị quyết
chuyên đề (đạt tỷ lệ 95,85%) thủ tục hành chính, cơ bản hoàn thành mục tiêu
của Đề án 30.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng và xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống
công sở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp.
- Đã xây dựng tiêu chuẩn chế độ về trang thiết bị, phương tiện làm việc
181
của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước. Bên cạnh đó,
việc đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đẩy
mạnh cải cách hành chính, việc điều tra, khảo sát và nghiên cứu, đánh giá thực trạng
và tình hình quản lý Nhà nước thuộc phạm vi đối tượng được phân công để xác định
đầy đủ, đồng bộ các cơ sở thực tiễn và khoa học cho việc hình thành các giải pháp đổi
mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở hành chính, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh của Việt Nam, đồng thời bắt kịp xu thế chung của các nước trong khu vực
và trên thế giới. Ngoài ra, còn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan các
vấn đề đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành
chính, một khuôn khổ thể chế đồng bộ về các vấn đề này theo tinh thần đẩy mạnh cải
cách hành chính đã được hình thành, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội
nhập, giúp hình thành khuôn khổ thể chế đồng bộ cho việc thúc đẩy đổi mới phương
thức điều hành và hiện đại hoá hệ thống công sở từ Trung ương đến cơ sở. Đồng thời
với việc ban hành khuôn khổ thể chế tạo cơ sở cho việc đổi mới phương thức quản lý,
điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước, tập trung vào quản lý, điều hành vĩ mô
trên phạm vi toàn xã hội là việc xây dựng, ban hành một hệ thống các tiêu chuẩn, định
mức mới về công sở như tiêu chuẩn thiết kế Nhà công sở ở từng cấp, các tiêu chuẩn
định mức sử dụng diện tích và trang thiết bị làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức,
viên chức theo các chức danh từ trung ương đến địa phương... đáp ứng các yêu cầu về
hiện đại hoá, thay thế cho các tiêu chuẩn, định mức cũ quá lạc hậu được hình thành
trong cơ chế cũ.
đã nghiên cứu và hình thành tương đối đồng bộ các cơ sở khoa học và thực tiễn cho
1. Kết quả chủ yếu đạt được
a) Việc ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách phát triển ƯDCNTT, xây
dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử; đô thị thông minh; Cổng dịch vụ công quốc gia
Thực hiện Chương trình tổng thể, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện thể chế, chính
sách phát triển ƯDCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, những thể chế, chính
182
sách này bao trùm nhiều lĩnh vực ƯDCNTT, từ các chương trình, định hướng của quốc
gia(51), cho tới cung cấp thông tin, dịch vụ công(52); chuyển đổi số và đô thị thông
minh(53)... Để đổi mới công tác chỉ đạo điều hành về xây dựng Chính phủ điện tử, Thủ
tướng Chính phủ đã thành lập Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử và ban hành Quy
chế hoạt động của Ủy ban. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình
chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030(54), nhằm thực hiện
“mục tiêu kép” là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành
các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu.
Về xây dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử: Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng,
ban hành Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam phiên bản 1.0; tiếp theo đó,
ngày 31 tháng 12 năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số
2323/QĐ-BTTTT ban hành Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam, phiên bản
2.0. Hiện nay, đã có 19/22 bộ, cơ quan ngang bộ; 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương xây dựng, ban hành Kiến trúc và đang tổ chức triển khai, thực hiện.
Về xây dựng đô thị thông minh: Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết
định số 829/QĐ-BTTTT ngày 31 tháng 5 năm 2019 ban hành Khung tham chiếu ICT
phát triển đô thị thông minh (Phiên bản 1.0). Đến nay, đã có 03 địa phương đã ban
51 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ƯDCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ƯDCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế và Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22/05/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục Cơ sở dữ liệu Quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử; Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025; Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 30/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Công nghệ thông tin giai đoạn 2016 - 2020; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về triển khai thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước...
52 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định cung cấp thông tin DVCTT trên Trang thông tin điện tử hoặc Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước.
53 Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030.
54 Tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
183
hành Kiến trúc ICT phát triển đô thị thông minh bao gồm: Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thái
Nguyên. Một số địa phương khác đang xây dựng: Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình,
Đắk Lắk, Lào Cai, Yên Bái…
b) Kết quả đạt được trong ƯDCNTT tại bộ, ngành và địa phương
Về hạ tầng kỹ thuật ƯDCNTT của các bộ, ngành, địa phương đã đạt được nhiều kết
quả tích cực (Bảng 2).
Tính đến tháng 12 năm 2019 đã cung cấp trên 220.000 chứng thư số cho 95 đầu mối
(bao gồm Văn phòng Trung ương Đảng, 31 bộ, ngành trung ương và 63 địa phương)
và 351 chứng thư số cho lãnh đạo cấp bộ, cấp tỉnh. Trong đó, có 89/95 bộ, ngành, địa
phương đã tích hợp chữ ký số, 06/95 đơn vị chưa tích hợp(55) chữ ký số chuyên dùng
Chính phủ vào hệ thống quản lý văn bản và điều hành để sử dụng trong xử lý công
việc. Riêng số liệu theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông(56) tính đến ngày 31
tháng 12 năm 2018, Ban Cơ yếu Chính phủ đã cấp 140.297 chứng thư số cho 30 bộ,
ngành và 63 tỉnh, thành phố. Trong đó, chứng thư số đã cấp cho các bộ, ngành là
60.592, các tỉnh là 79.705. Số chứng thư đang hoạt động ở các bộ, ngành là 56.247,
các tỉnh là 75.800.
Bảng 2: Hạ tầng kỹ thuật ƯDCNTT của các bộ, ngành, địa phương
(Tính đến thời điểm 15/7/2020)
Cơ
quan
Tỉnh, thành phố
Bộ,
cơ quan
TT Tiêu chí
thuộc Chính
trực
thuộc
ngang bộ
phủ
Trung ương
1
Tỷ lệ cơ quan nhà nước
97%
96%
91%
đã kết nối với mạng diện
rộng (WAN)
55 Các đơn vị chưa tích hợp chữ ký số: Đài Tiếng nói Việt Nam, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, Bạc Liêu, Hải Dương.
56 Báo cáo tình hình phát triển và ứng dụng chữ ký số tại Việt Nam được Bộ Thông tin và Truyền thông phát hành thường niên về linh vực chứng thực chữ ký số từ năm 2016. Trong các năm qua, Báo cáo đã được phát hành rộng rãi và trở thành tài liệu tham khảo hữu ích của nhiều cơ quan, tổ chức, chuyên gia trong và ngoài nước về linh vực chữ ký số nói riêng và phát triển Chính phủ điện tử nói chung.
184
Cơ
quan
Tỉnh, thành phố
Bộ,
cơ quan
TT Tiêu chí
thuộc Chính
trực
thuộc
ngang bộ
phủ
Trung ương
2
Tỷ lệ bộ/tỉnh:
- Có trung tâm dữ liệu
86,36% (19/22) 66,66% (4/6)
93,65% (59/63)
- Có trung tâm dữ liệu dự
59,09% (13/22) 50% (3/6)
50,79% (32/63)
phòng
- Có phòng máy chủ
13,64% (3/22)
33,33% (2/6)
6,35% (4/63)
3
Tỷ lệ bộ/tỉnh đã triển khai
72,73% (16/22) 83,33% (5/6)
63,49% (40/63)
mô hình điện toán đám
mây
Các bộ, ngành đã tích cực xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia và đã đạt được những
kết quả quan trọng, góp phần hình thành nên cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác chỉ
đạo, điều hành của Chính phủ, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết
TTHC cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
bộ máy nhà nước. Điển hình là các cơ sở dữ liệu, như: Dữ liệu quốc gia về dân cư; dữ
liệu quốc gia về đất đai; dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; dữ liệu quốc gia về
tài chính; dữ liệu quốc gia về bảo hiểm (thu thập thông tin cá nhân của khoảng 93 triệu
người); dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc; dữ liệu giáo dục; dữ liệu danh mục dùng
chung của Bộ Y tế,… Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia đã được xây dựng,
từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương. Hết tháng 6 năm
2020, khoảng 65,21% bộ, ngành, địa phương đã xây dựng Nền tảng tích hợp, chia sẻ
dữ liệu cấp bộ/tỉnh.
- Về ƯDCNTT trong hoạt động của bộ, ngành, địa phương:
Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật,
triển khai xây dựng nhiều phần mềm, cơ sở dữ liệu nền tảng phục vụ xây dựng và phát
triển Chính phủ điện tử theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Triển khai
việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước
185
theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg, ngày 12
tháng 7 năm 2018, Văn phòng Chính phủ đã chính thức khai trương đưa vào sử dụng
Trục liên thông văn bản quốc gia, kết nối liên thông để phục vụ gửi, nhận văn bản điện
tử giữa 95/95 cơ quan nhà nước bộ, ngành, địa phương, kết nối với Văn phòng Trung
ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, một số tỉnh ủy, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Giám sát tài chính quốc
gia, các tổ chức chính trị - xã hội và các tập đoàn, tổng công ty. Từ khi khai trương, có
hơn 3,8 triệu văn bản điện tử được gửi, nhận điện tử trên Trục liên thông văn bản quốc
gia. Số lượng văn bản điện tử gửi, nhận trong năm 2020 tăng 2,5 lần so với năm 2019.
Việc gửi nhận văn bản điện tử giúp tiết kiệm chi phí xã hội vào khoảng trên 1.200 tỷ
đồng/năm.
Từ năm 2016 đến tháng 3 năm 2020, theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, số
cơ quan, đơn vị thực hiện việc sử dụng phần mềm quản lý văn bản hoặc kết nối giữa
các hệ thống quản lý văn bản và điều hành của bộ, tỉnh với Trục liên thông văn bản
quốc gia, ở các bộ, ngành là 1.668 cơ quan, đơn vị; số cơ quan triển khai ứng dụng
phần mềm quản lý văn bản ở các bộ, ngành là 5.551 cơ quan, đơn vị. Đối với các tỉnh:
Tổng số là 44.233 cơ quan, đơn vị thực hiện việc sử dụng phần mềm quản lý văn bản
hoặc kết nối giữa các hệ thống quản lý văn bản và điều hành của tỉnh với Trục liên
thông văn bản quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp ký điện tử ban hành Quyết định số 274/QĐ-TTg phê
duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia(57). Đồng thời, Hệ thống thông tin phục vụ
họp và xử lý công việc của Chính phủ (Hệ thống e-cabinet) cũng đã chính thức được
đưa vào sử dụng, góp phần đổi mới phương thức làm việc của Chính phủ trên cơ sở
ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, hướng tới Chính phủ không giấy tờ, tiết kiệm
thời gian, chi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Chính phủ, Thủ
57 Cổng Dịch vụ công quốc gia kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh từ ngày 09/12/2019. Đến nay, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã tích hợp, cung cấp hơn 2.650 dịch vụ công trực tuyến trên tổng số gần 6.700 TTHC tại 4 cấp chính quyền; hơn 97 triệu lượt truy cập, trên 406 nghìn tài khoản đăng ký, hơn 26,6 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 687 nghìn hồ sơ thực hiện trực tuyến trên Cổng; tiếp nhận, hỗ trợ trên 41 nghìn cuộc gọi, xử lý hơn 9.000 phản ánh, kiến nghị; chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến khoảng 8.000 tỷ đồng/năm.
186
tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ(58). Văn phòng Chính phủ đã khai
trương Hệ thống Thông tin báo cáo quốc gia; Trung tâm Thông tin, chỉ đạo điều hành
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ(59). Một số bộ, ngành, địa phương đã xây dựng
Trung tâm điều hành tích hợp, chia sẻ các cơ sở dữ liệu, như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tỉnh: Phú Thọ, Kon Tum, Trà Vinh,...
Một số văn bản về lưu trữ điện tử cũng đã được ban hành(60). Các bộ, ngành và địa
phương đã tích cực thực hiện việc gửi, nhận văn bản điện tử có ký số trên Trục liên
thông văn bản quốc gia, tiến tới ký số tất cả các văn bản điện tử gửi, nhận văn bản (trừ
văn bản Mật). Một số bộ, ngành, địa phương cũng đã xây dựng các phần mềm hoặc kết
nối phần mềm chuyên ngành của bộ, ngành phục vụ các hoạt động quản lý, điều
hành(61). Từ năm 2011 đến nay, theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, tỷ lệ trung
bình công chức được cấp tài khoản hộp thư điện tử công vụ tại các bộ, ngành là 99%,
trong khi đó, tại các tỉnh, tỷ lệ này là khoảng 79,69%. Từ năm 2011 đến tháng 3 năm
2020, trung bình tỷ lệ văn bản hành chính được trao đổi dưới dạng điện tử tại các tỉnh,
58 Tính từ ngày khai trương 24/6/2019 đến tháng 11/2020, Hệ thống đã phục vụ 24 Hội nghị, phiên họp của Chính phủ và thực hiện xử lý 625 phiếu lấy ý kiến Thành viên Chính phủ thay thế việc phát hành hơn 230 nghìn phiếu giấy, hồ sơ, tài liệu kèm theo. Chi phí tiết kiệm được khi sử dụng Hệ thống khoảng 169 tỷ đồng/năm.
59 Hệ thống thông tin báo cáo Quốc gia và Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ khai trương ngày 19/8/2020 là hạ tầng số thông minh phục vụ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số phù hợp theo lộ trình chuyển đổi số quốc gia. Đến nay Hệ thống đã kết nối 14 bộ, cơ quan, 37 địa phương và 106/200 chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Chi phí tiết kiệm khi vận hành Hệ thống này khoảng 460 tỷ đồng/năm. Hiện tại, 106/106 chỉ tiêu kết nối đã cung cấp dữ liệu, hiển thị trên các Bảng theo dõi trực quan (Infographic) tại Trung tâm thông tin; kết nối ổn định, thông suốt của 12 thông tin, dữ liệu trực tuyến của các bộ, cơ quan: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia; phối hợp với 54/63 tỉnh cung cấp dữ liệu trực tuyến cho 08 chỉ tiêu kinh tế - xã hội; tương tác, điều hành trực tuyến thông qua hệ thống mạng dữ liệu của Bộ Quốc phòng, mạng chuyên dùng, Internet với gần 30 điểm cầu tại các bộ, ngành, địa phương.
60 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư; Thông tư số 01/2019/TT-BNV ngày 24/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Thông tư số 02/2019/TT-BNV ngày 24/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Kế hoạch thực hiện Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 03/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Lưu trữ tài liệu điện tử của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2020 - 2025”.
61 Ví dụ: Thực hiện kết nối mạng các cơ sở cung ứng thuốc nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát thuốc đối với cơ quan quản lý, các cơ sở cung ứng thuốc và cơ sở y tế: Đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành phố đã triển khai phần mềm quản lý; trong đó có 56.817/61.000 cơ sở kết nối liên thông (nhà thuốc, quầy thuốc) đạt 93,1%; với nhà thuốc, có 21.000/21.000 nhà thuốc đã triển khai phần mềm, đạt 100%; với quầy thuốc, có 31.055/40.000 quầy thuốc đã triển khai phần mềm, đạt 77,6%. Xây dựng và triển khai quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử đến từng người dân, thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin cơ bản với dữ liệu quốc gia về dân cư: Đến nay, Bộ Y tế đã triển khai phần mềm hồ sơ sức khỏe tại 08 tỉnh: Bà Rịa - Vũng Tàu, Nghệ An, Phú Yên, Bình Dương, Nam Định, Thái Bình, Lâm Đồng, Phú Thọ.
187
thành phố trực thuộc Trung ương là 86,1%. Tuy nhiên, trong các năm 2018 và năm
2019 tỷ lệ này đạt 100%.
Biểu đồ 18: Tỷ lệ văn bản hành chính được trao đổi dưới dạng điện tử tại các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương qua các năm
- Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) cho người dân và doanh
nghiệp; triển khai các hệ thống một cửa điện tử:
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, số lượng DVCTT tăng đều qua các
năm. Cho tới quý II năm 2020, số DVCTT mức 3 cả nước là 38.833; DVCTT mức 4
cả nước là 17.959 dịch vụ. Từ năm 2015 đến tháng 3 năm 2020, trung bình số lượng
cơ quan, đơn vị xây dựng hoặc sử dụng phần mềm một cửa điện tử ở các bộ, ngành là
92 cơ quan đơn vị; trung bình trong 06 năm ở 63 tỉnh, thành phố là gần 5.800 cơ quan,
đơn vị. Tỷ lệ trung bình hồ sơ giải quyết qua hệ thống một cửa điện tử tại các tỉnh từ
năm 2015 đến tháng 3 năm 2020 là 84,44%. Trong khi đó, tỷ lệ trung bình từ 2015 đến
tháng 3 năm 2020 của các bộ là 35,85%, tuy nhiên, ở năm 2019, tỷ lệ này là 52,6%.
Bảng 3: So sánh số lượng DVCTT mức độ 3 và 4 năm 2019 và một số quý của
năm 2020
Quý
Tiêu chí
Mức độ
Năm 2019 Quý I/2020
II/2020
Số
lượng
Mức 3 cả nước
37.206
37.679
38.833
DVCTT
- Bộ, ngành
762
838
795
- Địa phương
36.444
36.841
38.038
188
Quý
Tiêu chí
Mức độ
Năm 2019 Quý I/2020
II/2020
Mức 4 cả nước
13.559
15.203
17.959
- Bộ, ngành
859
929
1325
- Địa phương
12.700
14.274
16.634
DVCTT mức 3, 4 cả nước
50.765
52.882
56.792
- Bộ, ngành
1.621
1.767
2.120
- Địa phương
49.144
51.115
54.672
Số
lượng
Mức 3 cả nước
4.862
8.980
10.813
DVCTT có
- Bộ, ngành
282
322
348
phát
sinh
- Địa phương
4.580
8.658
10.465
hồ sơ
Mức 4 cả nước
2.592
4.033
5.115
- Bộ, ngành
634
746
803
- Địa phương
1.958
3.287
4.312
DVCTT có phát sinh hồ sơ 3, 4
7.454
13.013
15.928
cả nước
- Bộ, ngành
916
1.068
1.151
- Địa phương
6.538
11.945
14.777
Bảng 4: Hiệu quả cung cấp DVCTT
Quý
Quý
Tiêu chí
DVCTT
Năm 2019
I/2020
II/2020
Tỷ lệ DVCTT
DVCTT mức 3 cả nước
29,64%
30,24%
31,63%
mức 3, 4
- Bộ, ngành
15,88%
17,36%
16,83%
189
Quý
Quý
Tiêu chí
DVCTT
Năm 2019
I/2020
II/2020
- Địa phương
30,08%
30,76%
32,22%
DVCTT mức 4 cả nước
10,76%
12,20%
14,63%
- Bộ, ngành
17,90%
19,25%
28,05%
- Địa phương
10,48%
11,92%
14,09%
DVCTT mức 3, 4 cả nước
40,40%
42,44%
46,26%
- Bộ, ngành
33,78%
36,61%
44,88%
- Địa phương
40,56%
42,68%
46,31%
Tỷ lệ DVCTT
DVCTT mức 3 cả nước
13,15%
23,83%
27,84%
có phát sinh hồ
- Bộ, ngành
37,05%
38,42%
43,77%
sơ
- Địa phương
12,57%
23,35%
27,51%
DVCTT mức 4 cả nước
19,10%
26,53%
29,42%
- Bộ, ngành
73,89%
80,03%
82,67%
- Địa phương
15,42%
23,40%
26,32%
DVCTT mức 3, 4 cả nước
14,63%
24,61%
28,34%
- Bộ, ngành
55,18%
60,44%
64,12%
- Địa phương
13,19%
23,38%
27,15%
Tỷ lệ hồ sơ
Cả nước
-
17,93%
19,30%
giải quyết trực
- Bộ, ngành
22,18%
24,05%
tuyến
- Địa phương
13,68%
14,56%
190
Biểu đồ 19: Tỷ lệ hồ sơ giải quyết qua hệ thống một cửa điện tử
c) Tình hình triển khai hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia
TCVN ISO 9001:2008 và TCVN ISO 9001: 2015 tại bộ, ngành
Ngày 05 tháng 3 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
19/2014/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc
gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống
hành chính nhà nước (sau đây gọi tắt là Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg). Một trong
những nội dung thay đổi chính của Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg là cơ quan, tổ
chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước tự công bố hệ thống quản lý chất lượng phù
hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001. Kết quả triển khai cho thấy, đã có 22/22 bộ,
ngành phê duyệt Kế hoạch triển khai và giao đơn vị chủ trì, giúp việc triển khai thực
hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg. Công tác kiểm tra với số lượng các bộ thực hiện
tăng lên hằng năm. Năm 2015 có 09 bộ thực hiện việc kiểm tra, năm 2019 con số này
là 18 bộ, ngành. Các Bộ: Công an, Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
công bố Mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 cho
các cơ quan, tổ chức theo hệ thống ngành dọc trực thuộc. Trong khi đó, Bộ Tài chính,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tiếp tục duy trì mô hình khung
theo TCVN ISO 9001:2008.
Tại địa phương: Đã có 63/63 địa phương phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện
Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg. Công tác kiểm tra, báo cáo việc thực hiện ISO cũng
được các địa phương triển khai thực hiện có kết quả. Năm 2015, có 31 địa phương;
191
năm 2016 có 40 địa phương; năm 2017 có 25 địa phương; năm 2018 có 37 địa phương
và năm 2019 có 59 địa phương đã thực hiện kiểm tra. Một số tỉnh, thành phố đã triển
khai tốt, duy trì đầy đủ hoạt động kiểm tra, hoạt động báo cáo trong các năm vừa qua
như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Định, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, Lạng Sơn, Lào
Cai, Phú Thọ, Tây Ninh, Thanh Hóa, Tiền Giang, Tuyên Quang, Yên Bái,...
2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Tình trạng cát cứ dữ liệu vẫn còn phổ biến ở các bộ, ngành, địa phương, một số cơ sở
dữ liệu quốc gia quan trọng, như dân cư, đất đai, tài chính,... còn chậm triển khai. Việc
xử lý, trao đổi, gửi nhận văn bản điện tử trong nội bộ và giữa các cơ quan nhà nước
còn chưa phát huy được hiệu quả; hệ thống quản lý văn bản và điều hành của một số
bộ, ngành, địa phương khác nhau. Mô hình, giải pháp triển khai chưa đồng bộ, mức độ
quan tâm chỉ đạo triển khai còn có khoảng cách nhất định giữa các bộ, ngành, các địa
phương.
- DVCTT được thiết kế riêng lẻ, rời rạc, chưa thân thiện, chưa lấy người dân, doanh
nghiệp làm trung tâm. Mặc dù số lượng DVCTT mức 3, mức 4 triển khai tại các bộ,
ngành, địa phương ngày càng tăng, tuy nhiên số lượng hồ sơ trực tuyến theo từng dịch
vụ rất thấp, thậm chí nhiều dịch vụ không phát sinh hồ sơ trực tuyến. Quy trình giải
quyết TTHC chưa bảo đảm tính khoa học, gây gánh nặng cho cán bộ, công chức.
- Tỷ lệ người dân sử dụng DVCTT còn hạn chế, hoạt động của các cơ quan nhà nước
vẫn chủ yếu dựa trên giấy tờ, DVCTT mức độ 4 cung cấp chưa nhiều, việc số hóa để
ra quyết định dựa trên dữ liệu còn rất hạn chế; an toàn, an ninh mạng chưa được quan
tâm đúng mức.
- Ngân sách đầu tư cho ƯDCNTT, xây dựng hệ thống thông tin gắn với cải cách hành
chính vẫn còn hạn chế, cơ chế đầu tư tài chính chậm sửa đổi nên chưa đáp ứng yêu cầu
hiện đại hóa nền hành chính, chưa đủ để tạo ra đòn bẩy nâng cao hiệu quả điều hành
của Chính phủ, cũng như tăng chất lượng dịch vụ công.
b) Nguyên nhân
192
- Một số thể chế quan trọng tạo hành lang pháp lý cho triển khai Chính phủ điện tử
chưa được ban hành, ví dụ như: Bảo vệ dữ liệu cá nhân; quy định về định danh, xác
thực điện tử,...
- Cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chưa được triển khai,
hoặc mức độ hoàn thành còn chậm; giải pháp thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu chậm
triển khai, chưa được các bộ, ngành chú trọng, quan tâm.
- Lãnh đạo một số cơ quan nhà nước chưa quan tâm, làm gương, chỉ đạo sát sao; nhiều
cán bộ, công chức chậm thay đổi lề lối làm việc để ƯDCNTT. Nguồn lực tài chính cho
triển khai Chính phủ điện tử còn hạn chế. Công tác truyền thông về phát triển Chính
phủ điện tử chưa được chú trọng.
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
I. NHỮNG KẾT QUẢ TÍCH CỰC ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
Quá trình thực hiện cải cách hành chính thời gian qua, gắn với triển khai thực hiện
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã đạt được những thành
tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của
đất nước ta. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 tăng 5,89%, đến năm 2015
tăng 6,68% và GDP năm 2019 đạt kết quả ấn tượng, với tốc độ tăng 7,02%. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài hàng năm đều tăng cả về số dự án và số vốn thực hiện: Năm 2019
số dự án tăng hơn 2.842 dự án và tăng gấp hơn 3,3 lần so với năm 2011, số vốn thực
hiện tăng hơn 9,3 tỷ đô la Mỹ, gấp hơn 1,8 lần so với năm 2011. Số lượng doanh
nghiệp thành lập mới năm 2019 tăng hơn 60.600 doanh nghiệp so với năm 2011 và
tăng hơn 1.216.500 nghìn tỷ so với năm 2011. Bên cạnh đó, một loạt chỉ số của Việt
Nam được các cơ quan, tổ chức quốc tế đánh giá có sự cải thiện cả về điểm số và vị trí
xếp hạng ở năm 2019 so với năm 2011. Về Chỉ số Chính phủ điện tử, năm 2020 Việt
Nam xếp ở vị trí thứ 86/193 quốc gia, tăng 2 bậc so với năm 2018 và đã duy trì tăng
hạng liên tục từ năm 2014 đến nay. Về chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu, năm 2019,
Việt Nam xếp vị trí 67/141 quốc gia và nền kinh tế, tăng 10 bậc so với năm 2018, mức
tăng cao nhất trên thế giới trong năm qua.
193
Những kết quả này cho thấy sự đóng góp quan trọng của cải cách hành chính. Khái
quát những mặt tích cực, nổi bật đã đạt được của cải cách hành chính trong giai đoạn
vừa qua như sau:
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng thường xuyên, liên tục, tạo sức lan tỏa, có tác
động mạnh mẽ, sâu rộng đến nhận thức và hành động của các cơ quan nhà nước nói
chung và cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ
cải cách hành chính.
2. Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ được thể hiện thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo, đôn đốc triển khai
công tác cải cách hành chính; việc tổ chức triển khai theo dõi, đánh giá, xếp loại công
tác cải cách hành chính, công bố kết quả Chỉ số cải cách hành chính; khảo sát, đo
lường, xác định Chỉ số hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan
hành chính nhà nước,... là những nét nổi bật trong chỉ đạo, điều hành cải cách hành
chính trong thực hiện Chương trình tổng thể.
3. Thể chế của nền hành chính, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
thể chế về mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân được hoàn thiện, củng cố và được
triển khai có hiệu quả trên thực tế. Thông qua đó, nền hành chính đã có chuyển biến
tích cực theo hướng nền hành chính dân chủ, phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, năng
động, trách nhiệm, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân, xã hội và sự
phát triển của đất nước.
4. Công tác cải cách TTHC, cắt giảm điều kiện kinh doanh, cải cách hoạt động kiểm
tra chuyên ngành; đẩy mạnh ứng dụng côn nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ
quan nhà nước, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử đã đạt được kết quả quan trọng,
có những chuyển biến mạnh mẽ, trở thành điểm sáng của nhiệm kỳ Chính phủ khóa
XIV, đặc biệt là trong những năm 2018, 2019 và năm 2020.
5. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước đã tiếp tục được triển khai thực hiện
với nhiều nhiệm vụ quan trọng, đạt được một số kết quả được ghi nhận. Bộ máy hành
chính từ trung ương đến địa phương đã được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn, cơ bản khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống chức năng, nhiệm vụ, phạm vi,
194
đối tượng quản lý. Phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương được tăng cường;
hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của hệ thống hành chính từng bước
được nâng cao.
6. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
nhiều đổi mới; đã từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cũng được đổi mới, phân công, phân cấp rõ ràng hơn; cải cách
tiền lương đã được quan tâm và đạt được những kết quả tích cực.
7. Cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, ĐVSNCL, tổ chức khoa học
và công nghệ công lập được đổi mới, giúp cho các cơ quan, đơn vị chủ động trong tổ
chức thực hiện nhiệm vụ, sử dụng ngân sách và đề ra các giải pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động. Các dịch vụ sự nghiệp công được đổi mới, cải cách, từng
bước nâng cao chất lượng, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, xã hội.
II. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN
1. Cải cách thể chế vẫn còn những bất cập, hạn chế. Tính ổn định và khả năng dự báo
trong một số lĩnh vực chưa cao; một số quy định chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi,
chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí còn có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn. Vẫn
còn VBQPPL có dấu hiệu trái luật. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết luật,
pháp lệnh chưa được khắc phục triệt để. Chất lượng báo cáo đánh giá tác động (nhất là
tác động giới) theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL còn hạn chế; chậm ban hành
văn bản hướng dẫn thi hành luật.
2. Cải cách TTHC vẫn chưa thực sự là động lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội. TTHC, điều kiện kinh doanh trên một số lĩnh vực vẫn còn chồng chéo, rườm rà,
phức tạp, mâu thuẫn nhưng chậm được đổi mới, cắt giảm hoặc chỉ cắt giảm TTHC ở
những lĩnh vực mà người dân, doanh nghiệp ít cần được giải quyết. Việc thực hiện
TTHC vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, chậm trễ, gây phiền hà; người thực
hiện phải đi lại nhiều lần, nhiều cơ quan; việc xã hội hóa dịch vụ hành chính công vẫn
còn chậm, thiếu tổng thể. Tính liên thông trong cải cách TTHC chưa cao. Chưa triển
195
khai đầy đủ, thống nhất việc đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về
chất lượng giải quyết TTHC.
3. Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc. Chức năng, nhiệm vụ
quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các
ngành và các cấp chưa thật rành mạch. Việc sắp xếp tổ chức chưa gắn kết với việc rà
soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ nên hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa
cao. Công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan, địa phương trong thực hiện chức năng
quản lý nhà nước còn hạn chế; phương thức hoạt động, cách thức giải quyết công việc
trong nội bộ cơ quan hành chính chưa có sự đổi mới.
4. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có nơi chưa đồng đều, thậm chí còn yếu; một
bộ phận cán bộ, công chức, viên chức khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức
và người dân chưa làm hết trách nhiệm, còn có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực. Việc
tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thời gian qua còn
hạn chế, nhất là cơ cấu chức danh ngạch, chức danh nghề nghiệp. Công tác đánh giá,
phân loại cán bộ, công chức, viên chức vẫn là khâu yếu. Công tác quản lý cán bộ ở
một số cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, chưa tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật,
còn có sai phạm.
5. Cải cách tài chính công còn nhiều hạn chế. Việc sử dụng ngân sách và vốn đầu tư
công còn lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả. Việc đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm; chất lượng, hiệu quả hoạt động
của các đơn vị sự nghiệp công lập trên một số lĩnh vực chưa cao.
6. Việc xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số còn chưa đồng
bộ giữa các bộ, ngành, địa phương. Việc hình thành các hệ thống dữ liệu dùng chung
chưa đầy đủ; việc kết nối, liên thông giữa các phần mềm quản lý chuyên ngành, dữ
liệu dùng chung của các cơ quan, đơn vị còn khó khăn, gây cản trở cho công tác quản
lý và giải quyết công việc cho người dân, tổ chức. Hiệu quả cung cấp dịch vụ công
mức độ 3, 4 cho người dân, tổ chức còn thấp.
196
III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG TRIỂN KHAI CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH
1. Cải cách hành chính tiếp tục phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của các
cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành của chính quyền và sự tham gia tuyên truyền, vận
động và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các
đoàn thể quần chúng. Cần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về mục tiêu, ý
nghĩa, tầm quan trọng của cải cách hành chính đối với công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước. Từ đó, coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính đối với
các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân để tạo ra sự đồng thuận chung trong toàn xã
hội về thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính; xác định những lợi ích thiết thực,
hiệu quả mà công cuộc cải cách hành chính đem lại cho người dân, tổ chức, doanh
nghiệp.
2. Phải xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, lâu dài gắn
với công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh.
Bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục, có đổi mới, sáng tạo, theo định hướng trong
triển khai cải cách hành chính của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và các địa
phương. Duy trì và tăng cường công tác chỉ đạo triển khai thực hiện cải cách hành
chính thống nhất, đồng bộ từ Chính phủ tới chính quyền địa phương các cấp. Thực
hiện cải cách hành chính phải đồng bộ với từng bước đổi mới hệ thống chính trị, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách kinh tế, cải cách lập pháp và cải cách tư
pháp.
3. Tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của người đứng đầu
cơ quan hành chính các cấp, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong từng cơ
quan, đơn vị, phải xác định mọi việc vì lợi ích thiết thực, đặt lợi ích của người dân lên
hàng đầu là điều kiện quan trọng đảm bảo sự thành công của cải cách hành chính.
Người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân
định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý
những phản ánh, kiến nghị của nhân dân.
197
4. Cần xác định rõ phạm vi, nội dung cải cách hành chính, phân biệt cải cách hành
chính với các cuộc cải cách đang diễn ra như cải cách, đổi mới kinh tế, cải cách tư
pháp,... Việc đặt cải cách thể chế trong thời gian vừa qua là tương đối rộng, vượt khỏi
phạm vi của cải cách hành chính, trong đó, các nội dung của cải cách thể chế gần như
là cải cách kinh tế, có liên quan đến Quốc hội và các cơ quan khác. Bên cạnh đó, cải
cách tài chính công cũng rộng, nhiều nội dung thuộc cải cách tài chính trong cải cách
kinh tế.
5. Xác định các mục tiêu cải cách hành chính mang tính định lượng với mức độ phù
hợp, thiết thực để bảo đảm tính khả thi. Tổ chức thực hiện chương trình cải cách hành
chính phải gắn với tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính của các bộ, ngành, địa
phương. Phân công rõ trách nhiệm và có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành,
địa phương trong tổ chức thực hiện chương trình cải cách hành chính.
6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển
khai thực hiện công tác cải cách hành chính. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng
những mô hình, sáng kiến trong cải cách hành chính. Chú trọng việc đánh giá, biểu
dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt và xử lý nghiêm các cá nhân, đơn
vị vi phạm.
7. Củng cố, kiện toàn và nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi
việc thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn
tới. Bên cạnh đó, cần thiết phải nâng cao năng lực của đội ngũ công chức làm công tác
cải cách hành chính; bố trí đủ nguồn lực tài chính cho cải cách hành chính.
IV. Ưu điểm và hạn chế
1.Ưu điểm
- Những chỉ đạo về tăng cường kỷ luật, kỷ cương xã hội trong việc chấp
hành các quyết định hành chính, về công khai hóa, minh bạch hóa các quy
định hành chính, ngày càng được tổ chức thực hiện nghiêm túc và quyết
198
liệt. Đó là bước chuyển quan trọng trong mối quan hệ Nhà nước với đời
sống xã hội dân sự. Nhờ đó, hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước được
nâng lên một bước rất quan trọng.
- Xây mới các trụ sở làm việc, các tòa Nhà trung tâm hành chính với trang
thiết bị hiện đại, đáp ứng việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông”, theo yêu cầu của quá trình hội nhập ở nhiều bộ, ngành và địa
phương, tiết kiệm chi phí cho nhân dân
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước tiếp
tục được đẩy mạnh, nhiều dịch vụ công trực tuyến được triển khai thực
hiện. Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được triển khai xây dựng làm cơ sở
cho việc triển khai chính phủ điện tử. bảo đảm quy trình giải quyết công
việc của cơ quan hành chính khoa học, công khai, minh bạch; các phương
thức họp trực tuyến, trao đổi qua môi trường điện tử góp phần nâng cao
chất lượng giải quyết công việc, tạo thuận lợi cho đội ngũ công chức trong
thực thi nhiệm vụ và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cấp
lãnh đạo, quản lý đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức và cơ
quan hành chính Nhà nước.
2. Hạn chế
- Hiện đại hóa hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, liên quan đến tất cả các
lĩnh vực của nền hành chính nên có tính liên ngành cao; vì vậy, công tác
chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương
gặp nhiều khó khăn.
- Một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác hiện
đại hóa hành chính nên chỉ đạo, điều hành chưa quyết liệt, chưa quan tâm
đến khâu lập kế hoạch cải cách hành chính, bố trí nguồn lực và đôn đốc,
199
kiểm tra thực hiện
- Việc bố trí kinh phí triển khai kế hoạch cải cách hành chính hàng năm đã
được quy định cụ thể, tuy nhiên trong thực tế triển khai còn lúng túng;
nhiều kế hoạch không bố trí đủ kinh phí nên khó bảo đảm tính khả thi.
- Đội ngũ công chức làm công tác cải cách hành chính tại các bộ, ngành,
địa phương còn thiếu về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, chưa chịu
khó học hỏi để tiếp thu sử dụng hệ thống công nghệ cao trong công tác.
- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa nền hành chính ở
một số bộ, tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, chưa đồng bộ, phụ thuộc
vào điều kiện của từng bộ, ngành, địa phương.
- Hiện đại hóa công sở còn mang nhiều sắc thái vật chất (áp dụng công
nghệ thông tin; quy hoạch và xây dựng công sở tập trung, tăng cường
phương tiện làm việc), nên dường như, công cuộc cải cách của chúng ta
không đặt đúng trọng tâm. Đơn cử như “Đề án Tin học hóa hành chính
Nhà nước 112”, Chính phủ đã đầu tư rất nhiều tiền của, nhưng kết quả vận
hành nền hành chính không mấy được cải thiện.
III.Phương hướng hiện đại hóa công sở trong giai đoạn tiếp theo
Để hiện đại hóa hành chính, phải quy định rõ hơn về nguyên tắc làm việc
và quan hệ phối hợp trong vận hành bộ máy hành chính Nhà nước từ Chính phủ,
các bộ đến UBND các cấp; về trách nhiệm của tập thể và cá nhân người đứng
đầu các cơ quan hành chính, về chế độ giải quyết công việc...; hình thành cơ sở
khoa học và thực tiễn cho việc đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hóa
công sở trong điều kiện mới; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức về trang
thiết bị làm việc, thiết kế mẫu các công sở hành chính; hệ thống quản lý chất
lượng (theo ISO 9001: 2000) trong hoạt động của các cơ quan hành chính; triển
khai áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính Nhà
200
nước, hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ và tin học hóa một số
thủ tục hành chính ở các địa phương nhằm đáp ứng hoạt động có hiệu quả cao
nhất.
Ứng dụng thông tin máy móc thiết bị hiện đại.
Hiện nay còn rất nhiều các thủ tục hành chính vẫn còn thực hiện một cách
thủ công gây tốn thời gian và nhân lực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin thay
thế cho các thủ tục hành chính thủ công là việc cần thiết trong quá trình hiện đại
hóa công sở.
- Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan Nhà nước cần nâng cao. Các hệ
thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia tạo nền tảng cho Chính
phủ điện tử cần được triển khai trên diện rộng. Phối hợp chặt chẽ với Sở
Thông tin và Truyền thông trong quá trình chuẩn bị xây dựng kế hoạch
hoặc dự án và tổ chức triển khai thực hiện để trao đổi những vấn để
chưa rõ, cần tư vấn nhằm chủ động, yên tâm trong quá trình triển khai kế
hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan, đơn vị
mình.
- Các cổng thông tin điện tử vừa cung cấp thông tin vừa có thể để người
dân có thể nộp hồ sơ xin cấp phép qua mạng, thường xuyên cập nhập
thông tin đầy đủ và chính xác. Việc đưa máy móc, thiết bị hiện đại vào
công sở là việc cần thiết.
- Đầu tư, xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh đảm bảo hoạt động
ổn định, thông suốt, an toàn, an ninh bảo mật. Trước mắt cần đảm bảo cho
hệ thống Cổng thông tin điện tử; Nâng cấp hệ thống thư điện tử của tỉnh;
Trang bị hệ thống đảm bảo an toàn thông tin cho trung tâm tích hợp.
- Cán bộ, công chức bên cạnh sử dụng thư điện tử, trao đổi văn bản điện tử
đồng thời hình thành văn hóa chia sẻ thông tin để có những cách thức xử
201
lý công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn. Nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn
chế độ về trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công
chức, viên chức hành chính Nhà nước.
- Cần có kinh phí đầu tư cho ứng dụng CNT để ứng dụng CNTT mang lại,
các cơ quan Nhà nước thu hút các nguồn nhân lực có chất lượng tốt làm
cán bộ chuyên trách về CNTT để hướng dân các cấp.
- Trên cơ sở lộ trình triển khai các ứng dụng, các ngành các cấp chủ động
xây dựng kế hoạch đảm bảo hạ tầng, các ứng dụng của mình và tổ chức
triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh;
- Sử dụng máy móc, thiết bị làm việc hiện đại để lưu trữ tài liệu, thực hiện
các công việc hành chính sẽ trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn. Tuy nhiên
để thực hiện việc này thì trước tiên phải làm là điều tra, nghiên cứu, xây
dựng tiêu chuẩn chế độ về trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ
quan và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước nhằm bảo
đảm sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước;
- Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng trang thiết bị, phương tiện làm việc
của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước;
Cải tiến chế độ họp, giảm bớt giấy tờ hành chính trong hoạt động của các
cơ quan hành chính Nhà nước
Đổi mới một cách căn bản chế độ họp và giấy tờ hành chính (không bao
gồm văn bản quy phạm pháp luật) trong hoạt động của các cơ quan hành chính
Nhà nước; giảm tối đa và loại bỏ những cuộc họp không cần thiết, xây dựng hệ
thống mẫu văn bản hành chính thống nhất trong cơ quan hành chính Nhà nước
các cấp.
- Khảo sát, đánh giá về thực trạng họp và giấy tờ hành chính của các cơ
quan hành chính Nhà nước;
- Xây dựng biểu mẫu, giấy tờ hành chính trong các cơ quan hành chính Nhà
202
nước.
Xây dựng môi trường làm việc hiện đại, thân thiện, gần gũi
Có kế hoạch và quy hoạch đầy đủ, đúng đắn hệ thống cơ sở hạ tầng đối
với các cơ quan hành chính, tiết kiệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân
thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ của mình.
Thay thế việc các phòng ban bị chia cắt quá riêng lẻ,tồn tại khoảng cách
giữa người lãnh đạo và công chức, viên chức. Khắc phục tình trạng này có thể
xây dựng phòng làm việc chia ô nhỏ có tấm ngăn trong suốt để đảm bảo hiệu
quả làm việc, người nào việc nấy, không túm năm tụm ba nói chuyện trong giờ
làm việc. Người lãnh đạo ở cùng phòng và theo dõi được tổng quan hoạt động
công sở.
Năng lực của công chức, viên chức cũng cần được trau dồi thường xuyên,
đặc biệt phải đảm bảo cập nhật và cho họ tiếp xúc với các phương tiện làm việc
hiện đại và biết sử dụng hệ thống công nghệ thông tin một cách hợp lý.
Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến
cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu quả, tăng tính dân chủ
và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính Phủ và của các cơ quan
hành chính Nhà nước.
Xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại hóa công sở
Tập trung xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn để ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật về phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ
thống hành chính Nhà nước, là một bộ phận hợp thành của Chương trình tổng
thể cải cách hành chính Nhà nước.Chính phủ, các bộ đã tập trung nhiều hơn vào
công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trước hết là thể chế kinh tế;
Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội của cả nước; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc
203
chấp hành và tổ chức thực hiện đối với toàn xã hội.
Tài liệu tham khảo:
- Nghị quyết 17-NQ/TW Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước
- Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày17 tháng 9 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính
Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010
- Quyết định số 169/2003/QĐ-TTg ngày 12/8/2003 Phê duyệt Đề án
Đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hóa công sở của hệ thống
hành chính Nhà nước giai đoạn I (2003- 2005)
- Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về Chương
trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020
- Quyết định số 225/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Kế
hoạch cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2016 – 2020
- Quyết định số 1819/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước giai
đoạn 2016 – 2020
- Kế hoạch của ban chỉ đọa cải cách hành chính của chính phủ số
26/BCĐCCHC ngày 19 tháng 10 năm 2001 về triển khai chương trình
tổng thể cái cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010
- Một số vấn đề về cải cách và hiện đại nền hành chính hiện nay ( TS. Lưu
Kiểm Thanh – Trưởng khoa Văn bản và Công nghệ hành chính – học viện
Hành chính)
- http://www.moc.gov.vn/vi/web/guest/trang-chi-tiet/-/tin-chi-tiet/Z2jG/86/
18407/van-de-hien-dai-hoa-cong-so.html
- http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/5020/0/4962/Mot_so_van_de_ve_
204
cai_cach_va_hien_dai_hoa_nen_hanh_chinh_hien_nay
- http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/5020/0/21383/Ket_qua_thuc_hien
_chuong_trinh_tong_the_cai_cach_hanh_chinh_nha_nuoc_giai_doan_201
1_2020_va_phuong
- https://luatduonggia.vn/phan-tich-cac-phuong-huong-hien-dai-hoa-cong-s
o-trong-giai-doan-hien-nay/
- http://www.actionaid.org/sites/files/actionaid/cai_cach_hanh_chinh_o_vie
IV. Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số
a) Mục tiêu
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng dụng các tiến bộ
khoa học, công nghệ thúc đẩy hoàn thành xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử,
Chính phủ số, góp phần đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước các cấp có đủ năng lực vận hành nền kinh
tế số, xã hội số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội
nhập quốc tế; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho người dân, tổ chức.
- Đến năm 2025:
+ 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử được hoàn
thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc.
+ 100% Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được
kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia.
+ 100% người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến được cấp định danh
và xác thực điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống tin của các cấp
chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
+ 80% các hệ thống thông tin của bộ, ngành, địa phương có liên quan đến người dân,
doanh nghiệp đã đưa vào vận hành, khai thác được kết nối, liên thông qua Trục liên
205
t_nam_-_hieu__nghi_noi__lam_2010.pdf
thông văn bản quốc gia và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; thông tin của người dân,
doanh nghiệp đã được số hóa và lưu trữ tại các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành, không phải cung cấp lại.
+ 100% hệ thống báo cáo của các bộ, ngành, địa phương được kết nối liên thông, chia
sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.
+ Triển khai nhân rộng Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính
phủ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện: 100% cấp tỉnh, 80% cấp huyện thực
hiện họp thông qua Hệ thống này đối với các cuộc họp của Ủy ban nhân dân.
+ 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, cấp tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60%
hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc
phạm vi bí mật nhà nước).
+ 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi
trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.
+ 100% bộ, ngành, địa phương hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành Phân hệ
theo dõi nhiệm vụ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, bảo đảm hiển
thị theo thời gian thực.
+ Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).
- Đến năm 2030:
+ 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, được cung cấp trên nhiều phương tiện truy
cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động.
+ 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, cấp tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và
70% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ
sơ xử lý công việc có nội dung mật).
206
+ 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi
trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.
+ Tối thiểu 80% người trưởng thành có tài khoản giao dịch tại ngân hàng.
+ Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).
b) Nhiệm vụ
- Hoàn thiện môi trường pháp lý:
+ Rà soát, cập nhật, sửa đổi, bổ sung, xây dựng khung pháp lý của bộ, ngành, địa
phương hỗ trợ xây dựng, phát triển Chính phủ số và Chính quyền số các cấp. Nghiên
cứu, xây dựng Luật Chính phủ số và các văn bản hướng dẫn thi hành để triển khai thực
hiện.
+ Ban hành quy định về định danh và xác thực điện tử, hoàn thiện hành lang pháp lý
để phổ cập danh tính số.
+ Xây dựng các chính sách, quy định pháp lý về thuế, phí nhằm khuyến khích người
dân, doanh nghiệp sử dụng, cung cấp các dịch vụ số.
- Phát triển hạ tầng số quốc gia:
+ Phát triển hạ tầng truyền dẫn đáp ứng nhu cầu triển khai Chính phủ điện tử hướng tới
Chính phủ số tại bộ, ngành, địa phương.
+ Phát triển hệ thống dữ liệu phục vụ triển khai Chính phủ điện tử hướng tới Chính
phủ số tại bộ, ngành, địa phương.
+ Tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin, chuyển đổi hạ tầng công nghệ thông tin
thành hạ tầng số ứng dụng công nghệ điện toán đám mây phục vụ kết nối, quản lý các
nguồn lực, dữ liệu của cơ quan nhà nước một cách an toàn, linh hoạt, ổn định và hiệu
quả.
207
+ Phát triển hạ tầng Internet vạn vật (IoT) phục vụ các ứng dụng nghiệp vụ, chuyên
ngành trong triển khai Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, gắn kết với phát
triển đô thị thông minh tại các bộ, ngành, địa phương.
- Phát triển nền tảng và hệ thống số quy mô quốc gia:
+ Phát triển Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/tỉnh (LGSP) kết nối các hệ thống
thông tin, cơ sở dữ liệu trong nội bộ của bộ, ngành, địa phương và kết nối với Nền tảng
tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NGSP) theo Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử
Việt Nam để trao đổi, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan bên ngoài. Bảo đảm an toàn, an
ninh mạng (SOC) cho các hệ thống thông tin của bộ, ngành, địa phương.
+ Phát triển các hệ thống đặc thù sử dụng trong phạm vi toàn ngành, địa phương để tiết
kiệm thời gian, chi phí triển khai, tạo điều kiện kết nối, chia sẻ dữ liệu...
+ Xây dựng, phát triển Nền tảng ứng dụng trên thiết bị di động hỗ trợ người dân,
doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ, tiện ích trong Chính phủ điện tử, Chính phủ số.
- Phát triển dữ liệu số quốc gia:
+ Phát triển các cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ ứng dụng, dịch vụ Chính phủ số
trong nội bộ của bộ, ngành, địa phương; thực hiện chia sẻ hiệu quả dữ liệu chuyên
ngành của các bộ, ngành với các địa phương; mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước
theo quy định của pháp luật.
+ Xây dựng kho dữ liệu để lưu trữ dữ liệu điện tử của các công dân khi thực hiện các
giao dịch trực tuyến với các cơ quan nhà nước trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ
thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh.
+ Xây dựng Hệ thống phân tích, xử lý dữ liệu tổng hợp cấp bộ, cấp tỉnh nhằm lưu trữ
tập trung, tổng hợp, phân tích, xử lý dữ liệu số từ các nguồn khác nhau, từ đó tạo ra
thông tin mới, dịch vụ dữ liệu mới phục vụ Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.
- Phát triển ứng dụng, dịch vụ nội bộ:
208
+ Phát triển hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ.
Tiếp tục phát triển, hoàn thiện Trục liên thông văn bản quốc gia thành nền tảng kết nối,
chia sẻ dữ liệu số, kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa
phương phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính
phủ, phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tiến tới triển
khai phục vụ chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp.
Phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, Trung tâm thông tin, chỉ
đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết nối, tích hợp theo thời gian
thực với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, cơ quan, địa phương tại các
cấp chính quyền.
Phát triển, hoàn thiện Hệ thống phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi về thực hiện
nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, kết nối, liên thông với các hệ
thống quản lý văn bản và điều hành của bộ, ngành, địa phương.
Chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường mạng, biểu
mẫu, chế độ báo cáo; tăng cường gửi, nhận văn bản, báo cáo điện tử tích hợp chữ ký số
giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các doanh nghiệp;
thực hiện số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc điện tử của các cơ quan nhà nước theo
quy định.
+ Phát triển các ứng dụng, dịch vụ nghiệp vụ, chuyên ngành phục vụ nội bộ và kết nối,
chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin trong và ngoài bộ, ngành, địa phương theo
nhu cầu.
+ Đẩy mạnh việc sử dụng chữ ký sổ, định danh số, chuyển đổi số và niêm phong điện
tử trong xử lý văn bản hành chính, cắt giảm giấy tờ, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ.
209
+ Phát triển các hệ thống làm việc tại nhà, từ xa của các cơ quan nhà nước.
+ Ứng dụng mạnh mẽ, hiệu quả các công nghệ số mới như điện toán đám mây (Cloud
Computing), dữ liệu lớn (Big Data), di động, internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo
(AI), chuỗi khối (Blockchain), mạng xã hội và các công nghệ số mới trong xây dựng,
triển khai các ứng dụng, dịch vụ Chính phủ điện tử tại bộ, ngành, địa phương.
- Phát triển ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp:
+ Phát triển, hoàn thiện Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ
tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh trên cơ sở hợp nhất Cổng Dịch vụ công và Hệ thống
thông tin một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương để cung cấp dịch vụ công trực
tuyến; hoàn thành việc tích hợp toàn bộ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 lên Cổng
Dịch vụ công quốc gia.
+ Hoàn thiện Cơ sở dữ liệu về các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh và
Cổng tham vấn điện tử theo Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên
quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.
+ Xây dựng các kênh tương tác trực tuyến để người dân tham gia, giám sát hoạt động
xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật, ra quyết định của cơ quan nhà nước.
+ Phát triển, tích hợp các ứng dụng thanh toán điện tử, đa dạng hóa các phương thức
thanh toán không dùng tiền mặt để phổ cập, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ thanh toán
điện tử một cách rộng rãi tới tất cả người dân.
- Xây dựng, phát triển đô thị thông minh:
+ Phát triển các dịch vụ đô thị thông minh phù hợp điều kiện, đặc thù, nhu cầu thực tế.
Ưu tiên phát triển trước các dịch vụ giải quyết các vấn đề bức thiết của xã hội tại các
đô thị như tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, phát triển du lịch, phát triển y tế,
phát triển giáo dục, quản lý trật tự xây dựng và phải bảo đảm hiệu quả, tránh hình thức,
lãng phí.
210
+ Lựa chọn đô thị điển hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để triển khai
thử nghiệm một số dịch vụ trên nền tảng đô thị thông minh; kịp thời sơ kết đánh giá và
nhân rộng các mô hình hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
211
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (15-18/12/1986) Ban Chấp
hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (24-27/6/1991) Ban chấp
hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam (Khóa VII) ngày 23/1/1995 (về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một
bước nền hành chính)
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (28/6-1/7/1996) Ban
chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
5. Chương trình tổng thể về cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020
212
6. Chương trình tổng thể về cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030
213

