
1
BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ:
BỆNH HỌC:
ĐÁI THÁO NHẠT

2
MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ:
Sau khi học xong chuyên đề “Bệnh học: Đái tháo nhạt”, người học
nắm được những kiến thức có liên quan đến bệnh này, như: Định nghĩa
về Đái tháo nhạt, Sinh lý bệnh, Bệnh nguyên đái tháo nhạt, Triệu chứng
lâm sàng, Dấu hiệu sinh học, và điều trị bệnh Đái tháo nhạt.

3
NỘI DUNG
I. ĐỊNH NGHĨA ĐÁI THÁO NHẠT
Đái tháo nhạt là tình trạng bệnh lý do mất khả năng tái hấp thu nước ở
ống thận, hậu quả của sự thiếu ADH tương đối hoặc tuyệt đối dẫn đến tiểu
nhiều, uống nhiều, nước tiểu có tỉ trọng thấp và uống nhiều, bệnh có thể xảy
ra do kém phóng thích ADH (Đái tháo nhạt trung ương hoặc thần kinh) hoặc
do thận đáp ứng kém với ADH (Đái tháo nhạt thận). Có khoảng 50% trường
hợp đái tháo nhạt không rõ nguyên nhân.
II. SINH LÝ BỆNH
ADH (antidiuretic hormon) được tiết ra từ vùng dưới đồi, từ đó đến nơi
chứa là thuỳ sau tuyến yên. ADH tác động lên sự điều hoà nước do điều chỉnh
sự tái hấp thu nước ở thận.
ADH ở người còn gọi là arginine-vasopressin (AVP) là một polypeptid
có 8 acid amin (octapeptide). Ở lợn arginine được thay bằng lysine (LVP).
Đáng chú ý ở trên người LVP còn có thể kích thích tiết ACTH.
Với độ thẩm thấu huyết tương 280mOsm/kg, ADH đo được trong máu
là < 2 pmol/l (= pg/ml), ADH sẽ tăng lên 10-12 pmol/l khi độ thẩm thấu của
máu đạt 310 mOsm/kg.
Thời gian nửa đời của ADH rất ngắn: 10-20 phút. ADH bị phân hủy
nhanh chóng do enzyme ở cơ quan đích chủ yếu ở thận (2/3), số còn lại được
phân hủy ở gan (1/3).
Độ thẩm thấu huyết tương = (natri máu + kali máu) x 2 + ure máu +
glucose máu.
Tất cả tính bằng đơn vị mM/l. Trị số bình thường: 290-300 mOsm/kg.

4
1. Tác dụng sinh lý
Tác dụng chủ yếu của ADH xảy ra ở thận, ADH làm tiết kiệm nước tự
do. Thận lọc 120ml nước/phút (hoặc 172 lít/24h). Hơn 85% nước được tái
hấp thu bắt buộc ở ống lượn gần cùng với Na+, như vậy còn 23,5 lít được tái
hấp thu do vai trò của ADH.
Thiếu ADH tuyệt đối chắc chắn sẽ gây mất nước cấp nếu không uống
đủ. Tuy nhiên thực tế cho thấy sự tiểu nhiều do thiếu ADH không vượt quá 8-
12 lít (1/2 của lượng 23,5 lít lệ thuộc ADH theo lý thuyết).
2. Cơ chế tác dụng
ADH tác dụng thông qua 2 loại thụ thể V1 và V2:
- Thụ thể V1 làm co cơ trơn mạch máu, kích thích sự tổng hợp
prostaglandine và phân hủy glycogèn ở gan. Tác động lên thụ thể này làm gia
tăng phân hủy phosphatidylinositol gây nên sự huy động calci.
- Thụ thể V2 chịu trách nhiệm của tác dụng vasopressin trên thận. ADH
làm tăng tính thấm nước của lớp thượng bì ống góp. Thiếu ADH sự tái hấp
thu nước bị giảm dẫn đến tiểu nhiều. Có ADH thì ngược lại, tính thấm của lớp
thượng bì tăng rõ, nước được tái hấp thu. Tác dụng này xảy ra do ADH gắn
với thụ thể V2.
Trên tim mạch ADH tác dụng lên thụ thể V1 trên các tiểu động mạch ở
ngoại biên làm tăng huyết áp. Tuy nhiên bản thân ADH lại làm chậm nhịp
tim, ức chế thần kinh giao cảm lại làm giảm bớt tác dụng tăng huyết áp. Dù
sao tác dụng làm tăng huyết áp có thể nổi bật khi thể tích máu giảm lúc đó
ADH huyết tương tăng rất cao.
Về vai trò tác dụng của thụ thể V1, V2 còn có nhiều ý kiến chưa thống
nhất. Riêng đối với thụ thể V2 mọi ý kiến đều đồng ý khi kích thích làm tăng
tái hấp thu nước.

5
Với các thụ thể V1 có ý kiến cho rằng V1 có tác dụng làm giảm đáp
ứng chống bài niệu của AVP trên thận.
3. Điều hòa sự tiết ADH
Áp lực thẩm thấu và thể tích huyết tương là 2 yếu tố quan trọng nhất.
- Các yếu tố kích thích sự tiết ADH:
+ Yếu tố thần kinh thực vật: xúc cảm, đau, vận động.
+ Các dược chất: acetylcholine, morphine, nicotine.
+ Sức nóng.
+ Các yếu tố thẩm thấu: Truyền dung dịch ưu trương, tăng áp lực thẩm
thấu huyết tương, giảm thể tích huyết tương.
- Các yếu tố ức chế sự tiết ADH:
+ Dược chất: Adrenaline, Alcool.
+ Lạnh.
+ Yếu tố thẩm thấu: Truyền dung dịch nhược trương, giảm áp lực thẩm
thấu huyết tương.
+ Tăng thể tích huyết tương.
III. BỆNH NGUYÊN ĐÁI THÁO NHẠT
1. Đái tháo nhạt trung ương (Đái tháo nhạt thần kinh)
Các thương tổn vùng dưới đồi tuyến yên gây suy tuyến yên có thể là
nguyên nhân gây đái tháo nhạt, các thương tổn vùng dưới đồi như u sọ hầu
(craniopharygiomas) hoặc các thương tổn khác của thần kinh trung ương do
thâm nhiễm, thường dễ dẫn đến đái tháo nhạt.
Đái tháo nhạt cũng có thể do chấn thương, hoặc do các phẫu thuật u
dưới đồi, u tuyến yên.
Đái tháo nhạt do gia đình, là một bệnh hiếm, do di truyền, xảy ra ở tuổi
nhỏ.

