CHƢƠNG 2: CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM
“Việt Nam - Điểm đến Thiên niên kỷ mới”
CHƢƠNG 2: CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM
1
2
•Phân loại được các thành tố của
3
4
Mục tiêu
Văn hóa Việt Nam
5
6
• Nhận định được mỗi thành tố
7
Mass Media
8
mang đặc điểm chung của văn hóa
9
10
nhưng lại có những đặc điểm riêng
11
12
13
• Đánh giá tầm quan trọng của việc
14
Ngôn ngữ
15
giá trị và gìn giữ các thành tố văn
hóa Việt Nam
Hướng dẫn học
Nội dung
Để học tốt chương này cần hiểu và nắm được các thành tố của Văn hóa Việt Nam
Trong quá trình học nên
có sự phân loại và so sánh
những đặc điểm riêng của
các thành tố, và có sự liên
hệ với thực tế ngày nay
Các thành tố của văn hóa Việt Nam
CHƢƠNG 2: CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM
2.1. Ngôn ngữ và tôn giáo
2.2. Tín ngưỡng và phong tục tập quán
2.3. Lễ hội và nghệ thuật truyền thống
Tiếng nói
2
Chữ viết, ngôn ngữ biểu cảm
Các đặc trƣng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam
3
4
-Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. -Ngôn ngữ là một thành tố văn hoá nhưng là một thành tố chi phối nhiều đến các thành tố văn hoá khác -Các thành tố khác cần đến ngôn ngữ để biểu đạt mình như: văn chương; sân khấu tuồng, chèo, kịch; thông tin, tín hiệu…
-Về nguồn gốc, tiếng Việt có một lịch sử phát triển rất lâu đời -Trong tiến trình phát triển, tiếng Việt có sự tiếp xúc lớn với các ngôn ngữ khác -Ngôn ngữ nói rất quan tâm đến ngôn từ -Trạng thái của con người ảnh hưởng đến cách nói
-Từ năm 111 trở đi, khi nước ta ở vào thời kỳ Bắc thuộc thì người Việt tiếp thu thêm tiếng của Hán tộc, điều này đã làm cho ngôn ngữ Việt và Mường dần dần tách rời ra Tiếng Việt có một lịch sử phát triển rất lâu đời và trải qua ba giai đoạn: - Tiền Việt - Mường - Việt - Mường chung -Tiếng Việt độc lập.
Tiếng Việt phát triển cùng với ngôn ngữ của các dân tộc ít người
Tiếp xúc giữa tiếng Việt – Tiếng Hán Tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Pháp
Tiếp xúc Tiếng Việt – Tiếng Hán -Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra mạnh trong thời kỳ Bắc thuộc -Người Việt đã vay mượn cách phát âm và sau này các nhà nghiên cứu gọi là cách phát âm Hán - Việt để đọc toàn bộ các chữ Hán; sử dụng và ý nghĩa các từ Hán ấy lại được Việt hoá
Tiếp xúc Tiếng Việt – Tiếng Pháp - Người Việt lại vay mượn những từ của sao Pháp, tiếng phỏng ngữ pháp của tiếng Pháp. - Tiếng Việt giai đoạn này vừa giữ bản sắc của mình vừa biến đổi nhanh chóng, chuẩn bị cho sự phát triển ở giai đoạn sau.
Từ năm 1945 đến nay - Tiếng Việt được sử dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội - Tiếng Việt có một thế xứng đáng vị được Đảng và Nhà nườc Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện cho phát triển cùng với ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Việt Nam.
+ Khách quan: không phụ thuộc vào ý của người nói, không phụ thuộc vào bản thân chủ thể của nó. + Chủ quan: phụ thuộc vào ý của người nói vì một ý nghĩa có nhiều từ để diễn đạt. Ví dụ: Mẹ - má - mế - u - bầm - mợ... Bố - thầy - ba - tía - cậu... Chúng ta phải chú ý đến âm điệu để diễn tả câu nói, phải biết nhấn giọng, ngắt câu, chú ý đến cường độ giọng nói... để người nghe hiểu được hết ý của câu nói, hiểu được thái độ của người nói Cách dùng từ trong giao tiếp, kết hợp với ngôn ngữ biểu cảm
Trạng thái của con ngƣời (ngôn ngữ biểu cảm) ảnh hƣởng đến cách nói
Buồn: giọng nói đi xuống, nhìn ngang. Tức giận: giọng nói gay gắt, có các cử chỉ kèm theo, nhìn thẳng. Vui: giọng nói đi lên, nhìn thẳng, chú ý đến câu chuyện
12
Trạng thái của con ngƣời ảnh hƣởng đến cách nói
1. H¹nh phóc
2. Bµng hoµng
3. ?
4. NgËp ngõng, kh«ng ch¾c ch¾n
13
2. Căng thẳng
1. Buồn
14
3. Chán ghét
4. Sao mà tôi ngốc thế
- Chữ viết là ngôn ngữ tồn tại dưới dạng viết, ghi nhận và biểu đạt những tín hiệu của ngôn ngữ. - Tiếng Việt đã trải qua một số hình thức chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ
- Chữ Hán là một loại chữ tượng hình, tượng ý. Có sáu cách tạo thành chữ Hán là: tượng hình, chỉ sự, chuyển chú, giả tá, hài thanh và hội ý. - Chữ Hán là loại hình khối chữ vuông, có bảy nét cơ bản: nét chấm, nét ngang, nét sổ, nét phẩy, nét mác, nét hất và nét móc. - Người Việt đọc chữ Hán theo âm Trường An đời nhà Đường (thế kỷlX)
CHỮ NÔM
- Chữ Nôm được viết bằng cách vay mượn một từ Hán hoặc phối hợp hai, ba từ Hán với nhau. - Chữ Nôm có nhiều từ mang tính đồng âm dị nghĩa. Ví dụ: từ “ngài” vừa có nghĩa là con tằm, vừa được dùng để chỉ những người có chức phận. - Chữ Nôm có nhiều cách viết khác nhau
+ Chữ Nôm ra đời được quần chúng nhân dân ủng hộ và sử dụng rộng rãi. +Chữ Nôm được dùng để ghi tên người, tên làng, tên đất nước và các văn tự khế ước... + Chữ Nôm có nhiều đóng góp vào ngôn ngữ nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung. Nhiều nghệ sĩ lớn, nhà văn hoá lớn của dân tộc dân tộc đã dùng chữ Nôm để sáng tác những tác phẩm văn chương bất hủ.
- Vào thế kỷ thứ XVI, các giáo sỹ phương Tây vào Việt Nam truyền đạo, để đạt được kết quả trong việc truyền và giảng đạo, họ đã học tiếng Việt và dùng chữ La Tinh để phiên âm tiếng Việt, từ đó chữ quốc ngữ xuất hiện. - Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là kết quả nỗ lực chung của nhiều giáo sỹ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Pháp, Hà Lan.. nhưng người có công đầu tiên là giáo sỹ A- lếch - xăng - đrốt.
Chữ Quốc ngữ là một trong những sản phẩm của sự tiếp xúc giữa văn hoá Tây Âu và văn hoá Việt Nam, lịch sử phát triển của chữ quốc ngữ gắn liền với việc truyền đạo Cơ Đốc vào Việt Nam
tháng Tám -Cách Mạng thành công, chữ Quốc ngữ đã có địa vị chính thức trong mọi mặt đời sống của đất nước -Các nhà nho yêu nước trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục đã nhận ra ưu thế của chữ Quốc ngữ nên đã cổ vũ cho việc dùng chữ Quốc ngữ
Chữ Quốc ngữ còn một số hạn chế như: cùng một vần nhưng nhiều khi được viết bằng nhiều con chữ khác nhau, dùng nhiều dấu phụ nên chữ viết rườm rà…
2.1.1.3. Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam
Đặc trƣng
Tính biểu trƣng cao
Giàu chất biểu cảm
Tínhđộng, linh hoạt
Tính biểu trưng biểu hiện ở xu hướng khái quát hoá, ước lệ hoá với những cấu trúc cân đối, hài hoà. - Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng: ba mặt một lời, mười tám đời vua Hùng, trăm khôn ngàn khéo... - Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ưa ổn định và có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hoà trong ngôn từ. - Truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca, văn xuôi truyền thống cũng là văn xuôi thơ, thế mạnh do đó tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu.
- Về mặt từ ngữ, chất biểu cảm thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hoà thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm: bên cạnh màu đỏ trung tính có đỏ lục, đỏ lòm, đỏ hoe... - Về ngữ pháp, tiếng Việt dùng nhiều hư từ biểu cảm: à, ừ, nhỉ, hả, sao..
TÔN - Tính động, linh hoạt trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp, được tổ chức chủ yếu GIÁO theo lối dùng các hư từ. - Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ: trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ. Như vậy: trong giao tiếp, người Việt có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lý, tình cảm), bằng hình thức động (cấu trúc động từ, ngữ pháp linh hoạt).
TÔN GIÁO
*Trong mỗi tôn giáo bao giờ cũng có hai yếu tố: cái trần tục và cái thiêng liêng. Yếu tố trần tục luôn luôn tồn tại. Yếu tố thiêng liêng qua các thời kỳ thay đổi do có các quan niệm khác nhau và yếu tố này giảm dần. * Con người tạo ra tôn giáo vì luôn mong muốn những điều tốt đẹp. Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hoá. * Một số tôn giáo phổ biến ở Việt Nam : Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo
NHO GIÁO
PHẬT GIÁO ĐẠO GIÁO
2
KITÔ GIÁO
3
ĐẠO HỒI
4
NHO GIÁO
儒教
*Sự hình thành của Nho giáo *Nội dung cơ bản của Nho giáo *Thực chất của việc vận dụng Nho giáo *Quá trình thâm nhập, phát triển và những đặc điểm của Nho giáo ở Việt Nam
儒教
NHO GIÁO Sự hình thành của Nho giáo
- Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả - Nho giáo do Khổng Tử sáng lập, kết thúc của Nho giáo nguyên thuỷ là Mạnh Tử - Nho giáo là một hệ tư tưởng, một trào lưu tư tưởng - Sách kinh điển của Nho giáo gồm hai bộ: Tứ thư và Ngũ Kinh
BỘ NGŨ KINH
- Kinh thi - Kinh thư - Kinh lễ - Kinh dịch - Kinh Xuân Thu ( Ngoài ra còn có Kinh Nhạc)
BỘ TỨ THƯ
• Sách Luận ngữ (Lỗ Luận) • Sách Đại học • Sách Trung dung • Sách Mạnh Tử
Tu thân
Đạt đạo
Đạt đức
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
Các tiêu chuẩn chính Các nhân tố tác động tới dƣ luận
Đạt đạo
Đạt đức
• Đạo là con đường, là những
mối quan hệ mà con người cần
phải biết cách ứng xử trong
. Nhân: tình người . Lễ: phải biết cách ứng xử với nhau
cuộc sống.
• Ngũ luân: vua - tôi, cha - con,
vợ - chồng, anh em, bạn bè.
• Trong xã hội, cách cư xử hợp lý
hơn cả là trung dung (dung
hoà).
-Tam cương: ba mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, chồng- vợ - Ngũ thường: cho phù hợp . Nghĩa: phải có trước, có sau . Trí: rất quan trọng, nó giúp con người làm được những việc mà mình định làm . Tín: là uy tín, sự tin cậy của mọi người. Uy tín thực ra là thành ý “là cái cơ bản nhất để tạo ra chữ tín”.
- Phương châm thứ hai là chính danh Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình. Chính danh trong cai trị là phải làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”. Nếu danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận tất việc chẳng thành.
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
Tu thân
Cai trị
Tề gia
Trị quốc
Bình thiên hạ
Nho giáo theo quan điểm Khổng - Mạnh không còn mà thay vào đó là một thứ Nho giáo khác
Việc trọng tình người
Tạo ra một xã hội ổn định
Giai đoạn Bắc thuộc
Triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo
Tư tưởng trung quân
Xu hướng trọng văn
Thái độ với nghề buôn
1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu
Nho giáo được khẳng định ở Thời Nhà Nguyễn
PHẬT GIÁO
PHẬT GIÁO
Nguồn gốc của Phật giáo
Nội dung cơ bản của Phật giáo
Quá trình thâm nhập và phát triển của
Phật giáo ở Việt Nam
Những đặc điểm của Phật giáo ở
Lựa chọn phƣơng án tối ƣu Việt Nam
38
NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO
-Ra đời vào thế kỷ thứ VI - V TCN ở Ấn Độ -Tất Đạt Đa là con của vua Tịnh Phan và công chúa Maza, là một xứ ở phía Bắc Ấn Độ bây giờ - Khi sinh ra Ngài có nhiều tướng lạ và được thể hiện ở các bức tượng của chùa: trên đầu có một cái bướu, giữa trán có một chấm đỏ, tay có một chữ vạn -Ngài phải đi tu để thành Phật, muốn tìm cách gì đó để giải thoát cho người nghèo - Sau 6 năm đi tu theo lối khổ hạnh, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề 49 ngày suy nghĩ về cái khổ của chúng sinh - Đêm ngày 8/ 12, Ngài thành chính quả - Sau đó, Ngài chiêu tập các đệ tử để truyền bá Đạo Phật
39
NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO Ở ViỆT NAM
-Phật giáo được đưa vào đầu tiên ở Bắc Ninh vì trước đây là đất Giao Chỉ, phương Bắc đặt nền đô hộ và truyền bá Đạo giáo ở đó -Ở Việt Nam là Phật bà và rất đẹp vì người Việt Nam thường hướng về mẹ nhiều hơn, trong suy nghĩ mẹ bao giờ cũng là trên hết. là ngày 8/4 -Ngày giỗ Phật nhưng ở Việt Nam chuyển thành ngày 15/4, đó cũng là nét riêng của người Việt
40
THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ
8 cái khổ: Sinh khổ, Bệnh khổ, Lão khổ, Tử khổ Thụ biệt ly khổ, Oán tắng hội khổ, Ngũ thụ uẩn khổ,
Khổ đế
Sở cầu bất đắc khổ
- Tham: tham lam, không tự bằng lòng với những gì mình có nên là nguyên nhân của mối quan hệ: “sở cầu bất đắc khổ”. - Sân: giận dữ, một phần tính khí của con người là xuất phát từ chữ sân, là nguyên nhân của mối quan hệ “oán tắng hội khổ” - Si: si mê, đam mê, mê lú, là nguyên nhân của mối quan hệ “thụ biệt ly khổ”
Đạo Phật khẳng định là phải diệt cái khổ.
Tập đế (Nguyên nhân của nỗi khổ)
Diệt đế
Đạo đế (Con đường để thoát khổ)
- Chính ngữ: nói năng đúng, người tu hành không nói nhiều, mà luôn có sự cân nhắc, suy nghĩ trước khi nói. - Chính nghiệp: hành động đúng. - Chính mệnh: sống đúng với mình, không ăn cắp, lừa đảo vì giàu, nghèo đều do trời định. - Chính tư duy: tư duy đúng, nhưng cái này thường khó làm. - Chính tin tấn: dùng niềm tin để tiến lên, là lỗ lực đúng. - Chính kiến: thấy rõ, biết rõ chân lý. - Chính niệm: tụng niệm đúng, điều này hơi mâu thuẫn vì đi lễ chùa lấy cái tâm là chính và Phật là “từ bi hỷ xả”. - Chính định: tĩnh tại, có sự tập trung tư tưởng đúng.
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo có hai tông phái chính là tông phái Đại thừa và tông phái Tiểu thừa. - Tông phái Đại thừa: tượng trưng cho cỗ xe lớn, người tu hành không chỉ tự cứu mình mà còn cứu vớt chúng sinh. - Tông phái Tiểu thừa: là cỗ xe nhỏ, người tu hành chỉ tự cứu vớt lấy mình.
42
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
1
Du nhập vào Việt Nam khoảng những năm đầu thế kỷ
2
Đến thời Lý (thế kỷ XI), Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh
3
Thế kỷ XIV trở đi, Phật giáo phần nào bị hạn chế
4
Dưới triều Nguyễn, Phật giáo được hưng khởi
5
Hiện nay, Phật giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng những năm đầu thế kỷ. - Tông phái Đại thừa được truyền qua Trung Quốc rồi vào Việt Nam. Các tỉnh phía Bắc của Việt Nam phần lớn ảnh hưởng của phái Đại thừa, ngoài thờ Thích Ca Mầu Ni còn thờ các vị Phật, Thánh khác. - Tông phái Tiểu thừa được truyền qua: Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia vào Việt Nam. Các tỉnh miền Trung và miền Nam chịu ảnh hưởng của phái Tiểu thừa, chỉ thờ Thích Ca Mầu Ni, giảng đạo của Đại thừa.
44
THỜI LÝ
kính
- Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh, được coi là hệ tư tưởng chính thống, có nhiều chùa, tháp được xây dựng - Năm 1031, triều Lý cho xây dựng 950 ngôi chùa, năm 1129 khánh thành 84.000 bảo tháp. - Bốn công trình nghệ thuật lớn mà được gọi là “An Nam tứ đại khí”,
Pho tượng Di lặc bằng đồng cao 6 trượng( ≈ 24 m), đặt trong một toà Phật điện cao 7 trượng 45
Gồm 12 tầng, cao 20 trượng do vua Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1057 trên khuôn viên chùa Sùng Khánh, được xây bằng đá và gạch riêng tầng thứ 12 được đúc bằng đồng
1,5 đường trượng (≈ 6 m ), cao 3 trượng (≈ 12 m), nặng tới vài vạn cân
vạc sâu 4 thước (≈ 1,6 m), rộng 10 thước (≈ 4 m), nặng trên 7 tấn, đặt tại sân chùa Phổ Minh
Quá trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
* Thế kỷ XIV trở đi, vai trò ảnh hưởng của Phật giáo phần nào bị hạn chế. Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, các nhà sư không tham gia triều chính, thay vào đó là các nhà Nho. - -Tuy vậy, chùa vẫn được phát triển mạnh, ở Kinh Đô Huế nhiều chùa tháp được tu sửa tráng lệ. * Dưới triều Nguyễn, thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), vua Thiệu Trị (1841-1847), Phật giáo được hưng khởi
46
Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
- Phật giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất so với các tôn giáo khác - số lượng tín đồ theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của Đạo Phật khoảng 70% số dân trong cả nước.
47
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Tính tổng hợp
Khuynh hƣớng thiên về nữ giới
Tính linh hoạt
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo ở Việt Nam mang tính tổng hợp - Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc, hoà nhập ngay với tín ngưỡng bản địa. Sự kết hợp tín ngưỡng thể hiện: trong chùa không chỉ thờ Phật mà còn thờ các thần thiên nhiên như: Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm, Thần Chớp hay trong chùa có cả bàn thờ Mẫu: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn. - Phật giáo Việt Nam có sự tổng hợp các tông phái với nhau -Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Phật giáo với Nho giáo, Đạo giáo. - Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời: các nhà sư tham gia chính sự và có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo ở Việt Nam có khuynh hướng thiên về nữ giới - Ở Việt Nam là Phật bà (Phật Bà Quan Âm) vì lĩnh vực sản xuất chính của Việt Nam là nông nghiệp mà lực lượng lao động chính là phụ nữ. Ví dụ: ở Việt Nam có nhiều chùa chiền mang tên các bà như: chùa bà Dâu, chùa bà Đậu, chùa bà Dàn, chùa bà Tướng, chùa bà Đá, chùa bà Đanh…
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo ở Việt Nam có tính linh hoạt - Ở Việt Nam, muốn trở thành phật tử thì không phải chỉ là đi tu mà có thể tu tại tâm: Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa - Ở Việt Nam có sự kết hợp thờ Phật với thờ cúng ông bà, tổ tiên: Thờ Phật để mang lại những điều lành, thờ cúng tổ tiên trước hết là để ghi ơn nghĩa của người xưa, sau là giáo dục truyền thống gia đình, dòng họ, làng xã cho các thế hệ kế tiếp - Đức Phật đồng nghĩa với ông thần của tín ngưỡng: Phật có khả năng cứu giúp tất cả mọi người không chỉ có Phật tử.
ĐẠO GIÁO
ĐẠO GIÁO
Sự hình thành và phát triển của Đạo giáo
Đạo giáo
Sự thâm nhập và phát triển của Đạo giáo Việt Nam
Đặc điểm của Đạo giáo ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của Đạo giáo
LÃO TỬ - Lão Tử là người nước Sở, tên là Nhĩ, tự là Đam nên còn gọi là Lão Đam. - Ông đã học thuyết hoá những tư tưởng triết lý của truyền thống văn hoá nông nghiệp phương Nam: Đạo là một khái niệm chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên, nó là nguồn gốc của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật. - Lão Tử suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì phải đi từ điểm đối kép, phải vô vi (không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì mà là hoà nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá). -Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn trước hết phải lấy tâm, đức làm gốc
TRANG TỬ - Tên thật là Trang Chu (369 - 286 TCN), người nước Tống. - Trong lĩnh vực nhận thức, Trang Tử xoá nhoà mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa tồn tại và hư vô. - Trong lĩnh vực xã hội, Trang Tử căm ghét sự thống trị đến cực độ, ông không chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biến họ như bọn đại đạo. - Trang Tử đã dùng phép vô vi với chủ trương sống hoà mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan.
Sự hình thành và phát triển của Đạo giáo
Mục đích của việc tu theo Đạo Phật là thoát khổ thì mục đích của việc tu hành theo Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo có 2 phái: - Đạo giáo phù thuỷ: dùng pháp thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp cho người dân thường mạnh khoẻ. - Đạo giáo thần tiên: dạy tu luyện, luyện đan, giành cho quý tộc, cầu trường sinh bất tử.
Sự thâm nhập và phát triển của Đạo giáo Việt Nam
Thời Đinh - Tiền Lê
Các Thiền sƣ không chỉ giỏi Phật giáo mà còn hiểu và sử dụng Đạo giáo vào việc triều chính
Thời Lý - Trần
Thời kỳ “Tam giáo đồng nguyên” - Phật giáo - Nho giáo - Đạo giáo
Thời Lê
Nho giáo chiếm vị trí độc tôn nhƣng Đạo giáo vẫn tồn tại
Thời Mạc
Nho giáo khủng hoảng, Đạo giáo và tín ngƣỡng dân gian phát triển
Tín ngƣỡng dân gian mang màu sắc Đạo giáo phát triển
Thời Nguyễn
Đặc điểm của Đạo giáo ở Việt Nam
- Ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng đã có sẵn từ lâu - Đạo giáo phù thuỷ đã thâm nhập nhanh chóng và hoà quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới Người Việt Nam từ miền núi đến miền xuôi đã rất sùng bái ma thuật, phù thuỷ, họ tin rằng các lá bùa, những câu thần chú… có thể chữa bệnh, trị tà ma… - Đạo giáo (phù thuỷ) đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻ thống trị
Đặc điểm của Đạo giáo ở Việt Nam
- Bên cạnh việc thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, thần Trần Vũ, Quan Thánh Đế, thần điện của Đạo giáo phù thuỷ Việt Nam còn thờ nhiều vị thần thánh khác do Việt Nam xây dựng. Trần Hƣng Đạo được coi là có tài trừ tà ma cứu nạn cho dân nên được tôn là Đức Thánh Trần; Liễu Hạnh được coi là nàng tiên có nhiều phép thần thông luôn phù hộ cho dân nên được tôn là Bà Chúa Liễu. - Ngoài ra, các pháp sư còn hay thờ các thần: Tam Bành, Độc Cước, Huyền Đàn, ông Năm Đinh, Quan Lớn Tuần Tranh.
Đặc điểm của Đạo giáo ở Việt Nam
- Tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam là phái nội tu. Người Việt thờ Chử Đồng Tử làm ông tổ của Đạo giáo Việt Nam gọi là Chử Đạo Tổ. - Giới sỹ phu Việt Nam xưa thường cùng nhau tổ chức đàn phụ tiên (hay cầu tiên, cầu cơ) để cầu hỏi cơ trời, hỏi chuyện thời thế, đại sự… Nhiều đàn phụ tiên nổi danh một thời như đền Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đào Xá (Hưng Yên)… -Gần với Đạo giáo thần tiên là khuynh hướng ưa nhàn lạc -Hầu hết các nhà Nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất thường trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ thường lui về ở ẩn dật, tìm thú vui nơi thiên nhiên. Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ… đều là những ví dụ điển hình.
Ở Việt Nam, Đạo giáo như một thứ tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Đến nay những hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền nhưng chúng chỉ còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi.
* Tín ngƣỡng và tôn giáo
- Chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ mới có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. - Chưa có hệ thống thần điện, còn mang tính chất đa thần. - Còn hoà nhập giữa thế giới thần linh và con người, chưa mang tính cứu thế. - Gắn với cá nhân và cộng đồng làng xã, chưa thành giáo hội - Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và chưa thành quy ước chặt chẽ. - Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của dân gian, gắn với đời sống nông dân.
- Hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện quan niệm vũ trụ và nhân sinh, truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đường. - Thần điện đã thành hệ thống dưới dạng đa thần hay nhất thần giáo. -Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức “cứu thế”. -Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức. - Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường). - Không mang tính dân gian, có chăng chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian hoá như Phật giáo dân gian…
Tôn giáo Tín ngƣỡng
2.2.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng thờ thần
Tín ngưỡng
Tín ngưỡng cá nhân
Tín ngưỡng nghề nghiệp
-Quan niệm về con nguời và thế giới: Với niềm tin: chết là về với tổ tiên, tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu, đó là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi là đạo ông bà), ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà - - Kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp và mô hình gia đình nhỏ tạo cho con người có sự gắn kết với nhau. - Tác động của Nho giáo: tư tưởng tề gia, chữ hiếu được đề cao và nâng lên thành Đạo hiếu.
Biểu hiện thờ cúng Tổ tiên
Thờ cúng tổ tiên dòng họ
Thờ cúng tổ nƣớc
Thờ cúng ngƣời thân trong gia đình
thờ
làng
Thờ cúng tổ tiên dòng họ thường được thực hiện ở nhà thờ họ (từ đường) hoặc nhà chi trưởng, trưởng họ
Đối tượng được thờ cúng là cha mẹ, ông bà, cụ kỵ và có thể đời cao hơn (cao, tằng, tổ, khảo). Bên cạnh đó là những người thân khác chết trẻ hoặc chết vào giờ thiêng (bà cô, ông mãnh)…
Trong nhà thờ gia tiên, thành trong hoàng, trong nước người Việt Nam thờ vua Tổ - vua Hùng.. Ngày giỗ 10 - 3
Cúng bà mụ
• Bà mụ bảo trợ đứa trẻ trong những tháng, những năm nào đó. Có 13 bà mụ (1 bà cai quản - trong một năm có một bà mụ cai quản; 12 bà còn lại mỗi bà mụ coi đứa trẻ một tháng).
• Khi cúng các bà mụ phải cúng cái gì cũng 13. Khi đẻ ra cúng, đầy tháng cúng, kiêng cữ nam 7, nữ 9 ngày.
Cúng ông Tơ bà Nguyệt
• Để tiến tới hôn nhân phải qua nhiều nghi lễ: lễ giạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. • Ông Tơ bà Nguyệt giúp cho đôi trai gái thành vợ thành chồng nên việc cúng họ là để tỏ lòng biết ơn
Tín ngưỡng nghề nghiệp
Tín ngưỡng thờ cá ông
Tín ngưỡng nông nghiệp
Tín ngưỡng thờ thánh sư
Tín ngưỡng thờ thần tài
Tín ngƣỡng nông nghiệp
-Trong tín ngưỡng nông nghiệp thì tín ngưỡng phồn thực rất quan trọng. -Trước năm 1945, tín ngưỡng phồn thực rất phát triển. -Từ năm 1945 - 1980, tín ngưỡng phồn thực bị coi là tục tĩu nên bỏ. -Ngày nay, tín ngưỡng phồn thực được khôi phục lại. -Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối.
67
Tín ngƣỡng phồn thực
Thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ)
- Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến ở các nền văn hoá nông nghiệp. - Tượng đá, hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có từ hàng ngàn năm trước công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội), ở thung lũng Sapa (Lào Cai)… Ở hội Đồng Kỵ (Bắc Ninh)… có tục rước sinh thực khí (bằng gỗ), tan hội chúng được đem đốt và tro chia cho mọi người đem rắc ra ngoài ruộng. - Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột đá: ở Chùa Dạm (Bắc Ninh) có một cột hình sinh thực khí nam có chân nổi hình rồng thời Lý.
68
Tín ngƣỡng phồn thực
Thờ hành vi giao phôi
- Trên nắp trống đồng tìm thấy ở làng Đào Thịnh (Yên Bái) khoảng 500 năm TCN, xung quanh hình mặt trời có 4 đôi nam nữ đang giao phối -Hình chim, thú, cóc giao phối tìm thấy ở khắp nơi. Vào dịp hội Đền Hùng, ở miền đất Tổ lưu truyền điệu múa “Tùng dí”, thanh niên nam nữ múa từng đôi, tay cầm những vật biểu trưng cho sinh thực khí của nam và nữ
- Thời xa xưa, chày và cối - bộ công cụ thân thiết của người nông nghiệp Đông Nam á đã là những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ, còn việc giã gạo là việc tượng trưng cho việc giao phối -Làng quê xa, rất phố biến tục nam nữ vừa giã cối, vừa hát giao duyên thể hiện mong ước trai gái sẽ thành đôi lứa và sinh con đẻ cái -
69
Vai trò tín ngƣỡng phồn thực trong đời sống
Thể hiện rõ nét nhất ở chiếc trống đồng
70
Tín ngƣỡng nông nghiệp
Tín ngưỡng thờ Thánh sư (tổ nghề)
- Lang Liêu: bánh trưng, bánh dầy
Mỗi nghề truyền thống có một ông tổ riêng như: ông tổ nghề rèn, ông tổ nghề dệt, ông tổ nghề thêu…. Có nhiều loại ông tổ nghề: •Ông tổ nghề là những con người thực •Ông tổ nghề là những vị được tôn vinh theo cảm quan huyền thoại - Một số vị là thần linh: Thần Nông, Thần Sông, Thần Biển (Nam Hải Đại Vương)… - Một số vị được thần thánh hoá hoặc Phật hoá: Ông Hồng (lửa), bà chúa Chuốt (nặn) của nghề gốm… •Ông tổ nghề là những vị hiện diện trong truyền thuyết - Cụ Sần: nghề mộc… Các tổ nghề được giỗ vào ngày kỵ nhật của họ.
71
Tín ngƣỡng nông nghiệp
Tín ngưỡng thờ Thánh sư (tổ nghề)
Lê Công Hành: nghề thêu
Nguyễn Công Truyền: nghề gò đồng
Thiều Hoa Công Chúa : nghề dệt vải
Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác: nghề y
72
Thờ nhiên thần
Thờ nhân thần
Thờ dâm thần
Thờ vật thần
TÍN NGƢỠNG THỜ THẦN
Tín ngƣỡng thờ thần
Thờ nhân thần
Thờ nhiên thần -Là những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên thân thiết nhất của nghề trồng lúa nước. -Các bà Mây - Mưa - Sấm - Chớp cai quản những hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. -Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian Nhân thần gồm: - Chính thần: những người có công với nước như Hai Bà Trưng, Trần Quốc Tuấn, Trần Hưng Đạo… - Tà thần: thần ác, sợ nên thờ - Tạp thần: không gây hại, hoạt động thường xuyên như: thần ăn mày, thần ăn trộm…
* Tín ngƣỡng thờ thần
Là thờ những vật thể tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở…
- Chim, rắn, cá sấu là những loại được sùng bái hàng đầu. Người Việt có câu: “nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng”. - Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, khắp nơi dù là người Việt hay các vùng dân tộc đều có tín ngưỡng thờ Thần lúa, Hồn lúa, Mẹ lúa. Tiếp đến là những loại cây xuất hiện sớm như: cây cau, cây đa, cây dâu, cây bầu…
Thờ dâm thần Thờ vật thần: thờ động vật và thực vật
2.3. LỄ HỘI VÀ NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG
NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG
LỄ HỘI
LỄ HỘI
PHẦN LỄ
LỄ HỘI
PHẦN HỘI
PHẦN LỄ
- Phần Lễ là phần chính, diễn ra ngắn nhưng không thể thiếu được, mang ý nghĩa tạ ơn và xin thần linh bảo trợ - Lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trị văn học truyền thống, giá trị thẩm mỹ, triết học sâu sắc của cộng đồng
Nghi thức trong phần Lễ
Dâng rƣợu
Dâng trà
Dâng hoa quả
Dâng thức ăn mặn
PHẦN LỄ
Phần Lễ là phần hạt nhân của lễ hội có hai loại thức cúng: - Một là loại thức cúng phổ biến như oản, hương, hoa, quả… - Hai là thức cúng mang tính nghi lễ, chỉ có ở một lễ hội riêng biệt như món bánh trôi ở hội đền Hát Môn, món chè củ mài ở lẽ hội vùng Phong Châu (Phú Thọ).
PHẦN HỘI
- Là phần tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn… -Trò diễn là hoạt động mang tính nghi lễ, diễn lại toàn bộ hay một phần hoạt động của cuộc đời nhân vật phụng thờ - Trình tự của một trò diễn bao giờ cũng đi từ nơi thờ vọng đến nơi gắn bó tới một sự kiện nào đó trong cuộc đời vị Thánh. Lễ hội thờ Thành hoàng làng thì trò diễn bao giờ cũng theo trình tự, điểm bắt đầu của đám rước lúc đi là đình làng, điểm kết thúc của đám rước là nghè (miếu) và ngược lại
PHẦN HỘI
- Các trò diễn trong lễ hội là các lớp văn hoá tín ngưỡng của các thời kì lịch sử khác nhau lắng đọng lại, phản ánh những sinh hoạt của cư dân nông nghiệp với nghề trồng lúa nước, gắn với nhân vật được phụng thờ. - Cùng với các trò diễn là trò chơi
PHẦN HỘI
các trò chơi đều xuất phát từ ước vọng của con người: - Xuất phát từ ước vọng cầu mưa có các trò chơi: đốt pháo, ném pháo, đánh pháo đất... - Xuất phát từ ước vọng cầu an có trò chơi: thả diều - Xuất phát từ ước vọng phồn thực có trò chơi: đánh đáo, bắt trạch trong chum, ném còn, đánh phết, cướp dâu... - Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo có các trò chơi: thi thổi cơm, vừa gánh nước vừa thổi cơm, thi luộc gà, thi dọn cỗ, thi bắt lợn, thi dệt vải... - Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sức khoẻ và khả năng chiến đấu, có các trò chơi: đấu vật, kéo co, chọi gà, chọi trâu, chọi dế...
PHẦN HỘI Tiến trình của lễ hội
- Lễ rước nước: tất cả những người tham gia vào lễ hội phải chay tịnh một tuần, do thanh niên (chưa vợ, chưa chồng) làm, được ông già bà cả chỉ đạo - Lễ mộc dục (tắm tượng): do người già có chức sắc, con cái đuề huề, gia đình hạnh phúc làm. - Lễ tế gia văn - Lễ rước kiệu - Đại tế - Lễ túc trực.
Tiến trình của lễ hội
PHẦN HỘI Giá trị của lễ hội
- Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh - Lễ hội góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống đạo đức, lối sống, thẩm mỹ và duy trì thuần phong mỹ tục -Lễ hội còn là một bảo tàng văn hoá, một thứ bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị văn hoá, các sinh hoạt văn hoá - Lễ hội có cả các yếu tố phi văn hoá, phản văn hoá được lưu giữ. Đó là những yếu tố mê tín dị đoan
PHẦN HỘI Giá trị của lễ hội
Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh + Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng + Những quy cách và những nghi thức của lễ hội mà mọi người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộng đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó thấy mình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn
CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA LỄ HỘI
Lễ hội có chức năng xã hội rất to lớn
Lễ hội còn thực hiện chức năng giải thoát tâm - sinh lý và tình cảm (Lễ hội tạo cho con người một khung cảnh mới của cuộc sống, khác nhiều so với cuộc sống thường nhật của họ)
PHẦN HỘI Tính cá thể, tính cộng đồng, sức sáng tạo
- Phải tôn trọng tính đặc thù của làng, làm cho lễ hội làng trở lên độc đáo, cần đề cập tính sáng tạo trong lễ hội truyền thống của từng làng. - Sự sáng tạo trong lễ hội truyền thống có lẽ nằm ở việc nâng cấp các hoạt động vui chơi giải trí thành các hoạt động nghệ thuật và trò chơi với một số yếu tố hiện đại trên cơ sở khẳng định mô hình văn hoá cổ truyền trong lễ hội truyền thống. - Cải biến, nâng cấp lễ hội thành một sinh hoạt văn hoá cộng đồng hiện đại nhằm một mặt thoả mãn các nhu cầu mới, đồng định hướng được thị hiếu và thẩm mỹ mới về văn hoá, bồi đắp tâm hồn con người mới Việt Nam
PHẦN HỘI Tính cá thể, tính cộng đồng, sức sáng tạo
Lễ hội mang tính truyền thống và tính đổi mới. Đổi mới lễ hội là để tạo ra lễ hội truyền thống với sắc diện mới và sức hấp dẫn mới, tức cũng là làm giàu đời sống tâm linh của con người - một truyền thống lâu đời của cư dân người Việt.
PHẦN HỘI Số lượng lễ hội và thời gian diễn ra lễ hội
Khoảng 6000 lễ hội với quy mô khác nhau “Từ điển lễ hội” nước ta có 402 hội Lễ hội ở Việt Nam thường được tổ chức vào các tháng của mùa xuân: tháng giêng (43%), tháng hai (11%), tháng ba (28%).
- Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá lâu đời không thể thiếu được trong đời sống tinh thần (tình cảm, tâm linh) của con người. - Việt Nam có ưu thế là có một truyền thống lâu đời về hội lễ mà kết quả lưu lại là: có một nhân dân say mê hội lễ, thích thú du lịch, vốn có một hệ thống hội rất phong phú, đa dạng, sáng tạo, có tính toàn dân và đã từ lâu trở thành phong tục, nếp sống ăn sâu trong đời sống của nhân dân
Lễ hội liên quan đến việc tƣởng niệm công lao các vị danh nhân văn hoá, anh hùng lịch sử, các vị thành hoàng và chƣ vị Thánh, chƣ vị Phật. Ví dụ: Hội Gióng, Hội Đền Hùng, lễ hội Hai Bà
Lễ hội liên quan đến tín ngƣỡng cầu mùa: cuộc liên sống nông nghiệp quan tới môi trường tự nhiên có hội Cốm, hội đua thuyền, hội cầu mưa, mô phỏng tiếng động tiếng sấm qua việc đốt pháo, ném pháo đất… liên quan đến đất đai và tưởng tượng tiếng sấm của pháo đồng thời nói lên sự khéo léo của con người.
MỘT SỐ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
- Hội chùa Keo - Hội Đống Đa - Hội bắt chạch trong chum - Lễ hội Tầm Vu - Hội đền Hoá Dạ Trạch - Lễ hội Đền Hòn Chén - Hội đua voi Tây Nguyên - Hội đua Ghe Ngo - ……

