intTypePromotion=1

Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở

Chia sẻ: Nguyễn Hoàng Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:43

0
13
lượt xem
1
download

Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 7: Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở" giúp sinh viên hiểu được vai trò của thương mại quốc tế; cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái; hiểu được cơ chế tác động của chính sách vĩ mô dưới các hệ thống tỷ giá hối đoái khác nhau và dòng vốn lưu động hoàn hảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở

  1. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở Bài 7 KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ MỞ Nội dung Mục tiêu Trong bài này, người học sẽ được tiếp cận  Trình bày được vai trò của thương mại quốc tế. các nội dung:  Phân tích được cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái.  Giúp sinh viên hiểu được vai trò của thương mại quốc tế.  Phân tích được cơ chế tác động của chính sách vĩ mô dưới các hệ thống tỷ giá hối đoái  Phân tích được về cán cân thanh toán khác nhau vốn lưu động hoàn hảo. quốc tế, tỷ giá hối đoái.  Phân tích và hiểu được cơ chế tác Hướng dẫn học động của chính sách vĩ mô dưới các hệ thống tỷ giá hối đoái khác nhau và Để học tốt bài này sinh viên cần: dòng vốn lưu động hoàn hảo.  Đọc kỹ nguồn tài liệu tham khảo để chọn ra những tài liệu tham khảo hữu ích nhất và cần xem các nguồn tài liệu và thứ tự tài liệu được cung cấp cho bài này để học tập tốt hơn.  Phải hiểu được kiến thức nền tảng đã được học ở các bài trước thì mới có thể hiểu sâu được bài 7 này. Bài 7 nghiên cứu về các chính sách kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở, do đó, sinh viên phải biết được nền kinh tế mở có những đặc trưng gì. Sinh viên cần phải đọc và hiểu được các khái niệm liên quan trong việc phân tích nền kinh tế mở. 242 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  2. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở ạn không phải rời khỏi đất nước Việt Nam, nhưng bạn đang tham gia tích cực vào nền B kinh tế toàn cầu. Khi bạn đi đến các cửa hàng, siêu thị, bạn có thể chọn mua những quả nho được sản xuất ra ở Mỹ hoặc ở Australia. Khi bạn gửi tiền vào ngân hàng ở địa phương bạn đang sinh sống, ngân hàng có thể cho các doanh nghiệp ở tận châu Âu vay mượn khoản tiền đó để sản xuất kinh doanh. Trong bài trước, chúng ta đã đơn giản hóa bằng việc giả định phân tích trong nền kinh tế đóng. Tuy nhiên, trong thực tế, hầu hết các nền kinh tế là nền kinh tế mở: họ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài, họ nhập khẩu khẩu hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài về, và họ vay mượn các nguồn vốn từ các thị trường tài chính quốc tế. Tại sao sự di chuyển hàng hóa và dịch vụ lại dễ dàng như vậy? Các nước thu được lợi gì và chịu những thiệt hại gì khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu? Đồng “đô la mạnh” có nghĩa là gì? Tại sao nhiều người Việt Nam lại ưu thích tích trữ đồng USD, còn nhà sản xuất thì có những cảm giác hỗn hợp? Liệu chúng ta có nên lo lắng khi có sự thâm hụt trong cán cân thương mại của quốc gia không? Đối với hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi và hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, hệ thống tỷ giá nào tối ưu hơn? Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong nền kinh tế mở và trong nền kinh tế đóng có gì khác nhau? Tất cả câu hỏi và những vấn đề đặt ra này sẽ được trả lời trong nội dung bài học số 7 sau đây. 7.1. Lý thuyết về lợi thế so sánh và xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế 7.1.1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh a. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối Adam Smith (1723 – 1790), nhà triết học người Xcốt– len, là người đầu tiên khám phá ra khoa học kinh tế học hiện đại. A.Smith (1776) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của thương mại quốc tế. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa. Trong điều kiện đó A.Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách phát triển sản xuất công nghiệp và sử dụng sản phẩm của ngành này xuất khẩu để nhập lương thực từ nước ngoài về. Như vậy, thông qua việc mua bán trao đổi sản phẩm đã giải Adam Smith (1723  1790) quyết được mặt hạn chế của tăng trưởng. Do đó, lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, và khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn. Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước. Ngày nay, đối với các nước đang phát triển việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là tư liệu sản xuất có chi phí có thể chấp nhận được. Ví dụ, việc không đủ khả năng sản xuất ra 243 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  3. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở máy móc thiết bị là khó khăn lớn đối với các nước đang phát triển, đã là nguyên nhân dẫn đến đầu tư thấp. Như chúng ta đã biết, các khoản tiết kiệm chưa thể trở thành vốn đầu tư chừng nào tư liệu sản xuất các doanh nghiệp cần đến chưa có. Bởi vì, đó là tư liệu sản xuất chưa sản xuất được ở trong nước mà phải nhập từ nước ngoài. Khi tiến hành nhập những tư liệu sản xuất này công nhân trong nước bắt đầu học cách sử dụng các máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng. Về mặt này vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển thông qua việc bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối. Như vậy, một nước có lợi thế tuyệt đối nếu nước đó có chi phí sản xuất thấp hơn so với nước khác (sự khác biệt về công nghệ giữa các nước). Những nguyên nhân làm cho một nước có lợi thế tuyệt đối là do điều kiện tự nhiên thuận lợi, điều kiện về vốn, về trang thiết bị kỹ thuật và do trình độ quản lý,... Ví dụ về lợi thế tuyệt đối: Mỹ và Nhật Bản sản xuất thức ăn và ôtô theo các giả định: Sản xuất hai loại hàng hóa thức ăn và hóa chất, đầu vào sử dụng là lao động, có sự khác biệt về công nghệ, sản xuất cố định theo quy mô, không có chi phí vận tải trong trao đổi. Bảng số liệu dưới mô tả các tiêu chí đã nêu ra: Lao động được yêu cầu để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm. Bảng 7.1. Hao phí sức lao động của Mỹ và Nhật Bản để sản xuất thức ăn và ôtô Hao phí sức lao động (đơn vị lao động) Sản phẩm Mỹ Nhật X (Thức ăn) 3 4 Y (Ôtô) 9 6 Mỹ trở nên hiệu quả hơn trong sản xuất thức ăn (đòi hỏi 3 < 4 lao động), Nhật Bản có hiệu quả hơn trong sản xuất ôtô (đòi hỏi 6 < 9 lao động). Trong nền kinh tế khép kín, cả 2 nước sẽ sản xuất cả 2 loại hàng hóa, nếu người tiêu dùng mong muốn có cả 2. Theo Adam Smith, cả 2 nước có thể đạt được từ thương mại quốc tế thông qua chuyên môn hóa (Mỹ sẽ sản xuất nhiều thức ăn, còn Nhật Bản sản xuất nhiều ôtô hơn). Bảng 7.2. Lợi ích đạt được từ thương mại quốc tế qua lợi thế tuyệt đối Kết luận Mỹ Nhật Thay đổi của thế giới Qô tô -1 +1 0 Qthức ăn +3 -1,5 1,5 Bây giờ, giả sử Mỹ giảm sản xuất một đơn vị ôtô, do đó dư thừa 9 lao động. 9 lao động này có thể sản xuất 9 : 3 = 3 đơn vị thức ăn. Để giữ mức sản xuất ôtô cố định, Nhật Bản nên sản xuất thêm 1 ôtô, điều này đòi hỏi 6 lao động. 6 lao động này có thể đã sản xuất được 6 : 4 = 1,5 đơn vị thức ăn. Sản lượng tăng thêm là 1,5 đơn vị thức ăn thể hiện sự đạt được từ thương mại. b. Lợi thế tương đối (Lợi thế so sánh) Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học, phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); 244 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  4. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác). Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa. Nguyên tắc này do David Ricardo (1772  1823) đưa ra. Theo Ricardo, các sự khác biệt đều mang tính tương đối, không phải tuyệt đối. Nếu EU và Việt Nam sản xuất hai loại hàng hóa thức ăn và hóa chất, đầu vào sử dụng là lao động, có sự khác biệt về công nghệ, sản xuất cố định theo quy mô, lao động được lưu động giữa các nhân tố không phải giữa các quốc gia, không có chi phí vận tải. Bảng số liệu dưới chỉ ra số lượng lao động để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm: Bảng 7.3. Hao phí sức lao động sản xuất thức ăn và hóa chất của EU và Việt Nam Quốc gia/Hàng hóa Thức ăn Hóa chất EU 4 8 Việt Nam 6 30 EU có hiệu quả cao trong sản xuất cả hai hàng hóa, được sử dụng 4 < 6 lao động cho thức ăn và 8 < 30 lao động cho hóa chất. Tại sao EU vẫn buôn bán với Việt Nam? EU có hiệu quả gấp gần 30/8 lần Việt Nam trong sản xuất hóa chất, trong khi hiệu quả gấp 1,5 lần trong sản xuất thức ăn. Theo Ricardo, cả hai nước có thể đạt được thương mại quốc tế thông qua chuyên môn hóa (EU sẽ sản xuất nhiều hóa chất, còn Việt Nam sẽ sản xuất nhiều thức ăn). Giả sử Việt Nam sản xuất ít đi 1 hóa chất, khi đó họ sẽ có 30 lao động tự do. Ba mươi lao động này sẽ sản xuất 30 : 6 = 5 đơn vị thức ăn. Để giữ cho mức sản xuất cố định, EU nên sản xuất thêm 1 đơn vị hóa chất, điều này đòi hỏi cần 8 lao động. Tám lao động này có thể sẽ sản xuất được 8 : 4 = 2 đơn vị thức ăn. Chúng ta có bảng số liệu tổng hợp thương mại như sau: Bảng 7.4. Lợi ích đạt được từ lợi thế so sánh đối với hóa chất và thức ăn qua Kết luận EU Việt Nam Thay đổi của thế giới Hóa chất +1 -1 0 Thức ăn -2 +5 +3 Sự tăng lên của sản xuất ở trên đại diện đạt được của thương mại quốc tế. Như vậy, nhờ thương mại quốc tế mà cả hai nước đều cùng có lợi. Thương mại quốc tế dựa trên lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ góp phần thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và quá trình hợp tác cả hai bên cùng có lợi trên phạm vi quốc tế, đồng thời làm tăng khả năng sản xuất và tăng khả năng tiêu dùng của mọi quốc gia. 7.1.2. Xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của Nhà nước hay Chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài. Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát 245 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  5. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở triển của các hoạt động thương mại quốc tế cả về bề rộng và bề sâu. Để bảo hộ nền thương mại trong nước hoặc thực hiện các mục tiêu xác định trong chính sách thương mại quốc tế của mình, Chính phủ các nước đã áp dụng những biện pháp nhất định (như đã nêu ở trên). Khi đó các hoạt động thương mại không còn thuần túy được điều tiết bởi quan hệ cung cầu trên thị trường quốc tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các chính sách của các chính phủ. Như vậy tự do hóa thương mại chính là loại bỏ các biện pháp hạn chế hay bảo hộ thương mại của các chính phủ. David Ricardo (1772 1823) Để phát huy lợi thế so sánh khi thực hiện tự do hóa thương mại, cần phải đảm bảo các điều kiện tối thiểu sau:  Đảm bảo sự ổn định vĩ mô, nhất là ổn định chính trị, kinh tế, tạo không khí hợp tác hoà bình hữu nghị và thuận lợi chocác hoạt động hợp tác kinh doanh.  Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp một cách đồng bộ nhất quán, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động kinh tế đối ngoại.  Cải cách và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính của các cơ quan chính phủ, nhất là các cơ quan có liên quan đến hoạt động ngoại thương (điều kiện này hết sức quan trọng đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như: Trung Quốc và Việt Nam).  Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội trước hết là những trung tâm giao lưu kinh tế và cửa ngõ thông thương với thị trường thế giới như hệ thống đường giao thông, thông tin liên lạc, điện nước, và các dịch vụ thiết yếu... đạt trình độ quốc tế, tạo môi trường kinh doanh năng động và hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tư quốc tế.  Đào tạo và xây dựng một nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển, nhất là giới kinh doanh, doanh nghiệp trên lĩnh vực thương mại quốc tế, có đủ chuyên môn và bản lĩnh để làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài (vấn đề này là hết sức cấp thiết đối với Việt Nam). Theo định nghĩa của tự do hóa thương mại thì việc điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế theo xu hướng tự do hóa thương mại tức là điều chỉnh sao theo hướng loại bỏ những hạn chế hay bảo hộ thương mại của các chính phủ. Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, vấn đề quan trọng ở đây là việc loại bỏ phải được thực hiện theo lộ trình bởi ngay một lúc nếu chính phủ loại bỏ những rào cản thương mại quốc tế thì có thể gây ra thiệt thòi rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước, các ngành kinh tế trong nước và lớn hơn là nền kinh tế của cả quốc gia. Thật vậy, đối với những doanh nghiệp hay những ngành kinh tế có năng lực cạnh tranh yếu thì việc phải đối phó bất ngờ với việc dỡ bỏ những rào cản thương mại của Chính phủ là điều khó có thể làm được và việc phải đối đầu với nguy cơ phá sản hay sụp đổ là điều tất nhiên. Điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khác về xã hội như tình trạng thất nghiệp tăng cao, một số tệ nạn xã hội gia tăng. Tự do hóa thương mại là việc cần phải làm đối với tất cả các nước trong điều kiện hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cần phải được thực hiện theo những bước 246 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  6. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở đi phù hợp, nhất là đối với các nước đang phát triển. Nếu không chú trọng đến trình tự tự do hóa, các nước này có thể phải gánh chịu những bài học đắt giá. Việc xác định lộ trình tự do hóa thương mại cần dựa vào đặc điểm, điều kiện, và nội lực của mỗi nước. 7.2. Xu hướng hạn chế thương mại quốc tế 7.2.1. Những quan điểm hạn chế thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hóa". Bên cạnh những ưu điểm, thương mại quốc tế còn tồn tại một số hạn chế sau:  Khi tiến hành hoạt động thương mại quốc tế sẽ hạn chế khuyến khích được sản xuất trong nước phát triển, vì mức độ cạnh tranh sẽ ngày càng cao, chế độ bảo hộ trong nước sẽ bị hạn chế.  Khi có thương mại quốc tế sẽ không đảm bảo được quốc phòng và an ninh.  Có thể tạo điều kiện gây nên độc quyền trong nước, do sự hỗ trợ của chính phủ hoặc sự cấu kết giữa các tập đoàn lớn.  Có thể làm mai một mất nền văn hóa bản sắc dân tộc. Với những hạn chế đó, đã xuất hiện quan điểm bảo hộ mậu dịch,... Mỗi quốc gia cần áp dụng các chính sách cần thiết để điều chỉnh dòng vận động hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài nhằm bảo vệ hàng hóa nội địa trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của hàng hóa nước ngoài. Cần phải bảo hộ sản xuất trong nước, bảo hộ nền công nghiệp non trẻ của nước nhà và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. 7.2.2. Những công cụ để hạn chế thương mại quốc tế a. Thuế quan Khái niệm thuế quan Thuế quan là một thứ thuế đánh vào hàng hóa xuất - nhập khẩu. Thuế quan có nhiều loại, có loại thuế quan mang tính chất cấm đoán và thuế quan không có tính chất cấm đoán. Thuế quan có tính chất cấm đoán thường có mức thuế quan cao đến mức làm nản lòng việc nhập khẩu, đóng cửa, cấm đoán việc buôn bán mặt hàng đó. Mức thuế quan không có tính chất cấm đoán là mức thuế quan vừa phải, có xu hướng làm giảm sút nhập khẩu nhưng không xóa bỏ thương mại. Tác dụng của thuế quan Thuế quan làm tăng giá cả hàng hóa, giảm khối lượng tiêu thụ hàng hóa, giảm khối lượng hàng nhập khẩu và tăng khả năng sản xuất trong nước, tăng thu nhập cho Chính 247 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  7. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở phủ. Giả sử một nước nhỏ cần nhập khẩu quần áo đề phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Nếu không có thương mại quốc tế, giá bán sản phẩm trong nước là 8 USD và các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ cung cấp một lượng sản phẩm là 200. Khi có thương mại quốc tế, nếu không có thuế quan, với mức của thế giới theo giá cả 4 USD, nhu cầu tiêu thụ quần áo là 300. Sản xuất trong nước là 100 đơn vị sản phẩm và phải nhập khẩu một lượng là EF = 300 – 100 = 200. Để khuyến khích sản xuất trong nước, Chính phủ áp đặt một mức thuế quan là 2 USD trên một đơn vị quần áo nhập khẩu, sẽ làm giá tăng lên tới 6 USD một đơn vị quần áo. Lượng hàng trong nước sản xuất thêm là 50 đơn vị, mức nhập khẩu giảm xuống còn 100 ( HI ), tiêu dùng trong nước giảm đi LF  50 đơn vị. Thuế thu về cho Chính phủ trong trường hợp này là 200 USD. Từ đó, thuế quan sẽ làm tăng chi phí sản xuất trong nước thiệt hại trong việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và làm tăng thu nhập chính phủ. Vì vậy, cần phải tính toán giữa cái lợi qua thuế quan mang lại cho Chính phủ, các doanh nghiệp và các thiệt hại cho người tiêu dùng. Hình 7.1. Ví dụ về tác động của thuế quan đối với nước nhỏ Thuế quan có thể làm thay đổi điều kiện thương mại theo hướng có lợi cho một nước lớn và làm thiệt hại bạn hàng của nước đó. Điều kiện thương mại là tỷ lệ giữa giá tối ưu làm cho giá cả hàng hóa tăng lên so với giá cả hàng hóa đó ở nước ngoài nên mức cầu trong nước về hàng hóa đó giảm xuống. Nếu mức cầu trong nước là một bộ phận đáng kể của mức cầu thế giới thì giá cả hàng hóa đó ở thế giới cũng bị giảm xuống. Do vậy, phần thuế quan sẽ rơi vào người nước ngoài. Điều này thực hiện được với một nước có sức mạnh độc quyền trên thế giới. Với một mức thuế quan làm giảm mức cầu nhập khẩu, nâng mức cung trong nước có thể góp phần làm giảm thất nghiệp, làm tăng GNP trong nước. Thuế quan là biện pháp tạm thời để bảo vệ sản xuất của ngành công nghiệp non trẻ. Với các tác dụng theo nhiều chiều như vậy, việc áp dụng nguyên tắc thuế quan bảo hộ phải được cân nhắc cẩn thận trong điều kiện cụ thể của từng nước, từng thời kỳ, từng loại hàng hóa. 248 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  8. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở b. Hạn ngạch Khái niệm hạn ngạch Hạn ngạch là mức giới hạn mà Chính phủ quy định đối với khối lượng hàng hóa xuất - nhập khẩu. Nếu với hình thức thuế quan, lượng hàng nhập khẩu phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung cầu trên thị trường thì bảo hộ bằng hạn ngạch là hình thức Nhà nước xác định trước khối lượng hàng nhập khẩu và cấp giấy phép cho một số tổ chức có đủ tiêu chuẩn được nhập khẩu khối lượng này. Tác động của hạn ngạch cũng gần giống như thuế quan. Tác động của hạn ngạch Giả sử trên hình 7.2 mô tả thị trường một loại hàng hóa sản xuất trong nước. Giả sử Chính phủ quyết định lượng quần áo nhập khẩu trong năm là Q2. Nếu các tổ chức nhập khẩu bán với giá mua hàng trên thị trường quốc tế là P2, khi đó Q2 phản ánh khả năng sản xuất trong nước và Q2’ phản ánh nhu cầu quần áo trong nước. Giá trị Q2 = Q2’ – Q2 phản ánh lượng quần áo cần nhập. Hình 7.2. Tác động của hạn ngạch đối với nước nhỏ Với mức giá P2 thì lượng cần phải nhập là đoạn AB . Chính phủ chỉ cho phép nhập khẩu một lượng là đoạn HK=ΔQ1 cho nên lượng sản xuất trong nước tăng lên từ Q2 đến Q1. Để giải quyết lượng quần áo thiếu hụt Chính phủ chủ trương tăng sản xuất trong nước bằng cách nâng giá bán đến mức P1 (P1 = P2 + chênh lệch giá). Với mức giá P1 sẽ có: Q1 là sản lượng sản xuất trong nước, Q1’ nhu cầu quần áo trong nước, Q1 = Q1’ – Q1 là lượng quần áo nhập khẩu. Như vậy, với mức giá P1 nhu cầu nhập khẩu quần áo vừa bằng với lượng quần áo Nhà nước quyết định nhập. Hiệu quả của bảo hộ hạn ngạch gần giống như hiệu quả bằng thuế quan: Sản xuất trong nước tăng (từ Q2  Q1), lượng hàng hóa nhập khẩu giảm (từ Q2 đến Q1). Lợi ích người tiêu dùng bị giảm (diện tích P1KBP2) do nhu cầu tiêu dùng giảm từ Q2’ đến Q1’. 249 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  9. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở c. Một số công cụ phi thuế quan khác Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế do Chính phủ một số quốc gia đặt ra để bảo vệ hàng hóa nhập khẩu/xuất khẩu không vượt quá số lượng đã ấn định, giới hạn hàng nhập khẩu để bảo vệ doanh nghiệp trong nước. Các biện pháp bao gồm:  Thứ nhất, cấm nhập khẩu. Các nước trên thế giới chỉ được sử dụng biện pháp này vì mục tiêu bảo vệ đạo đức công cộng, sức khoẻ con người, tài nguyên thiên nhiên, an ninh quốc phòng... Vì thế, những hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu của các quốc gia thường là vũ khí, đạn dược.  Thứ hai, sử dụng giấy phép. Theo chế độ này, hàng hóa muốn thâm nhập vào lãnh thổ của một nước phải xin giấy phép nhập khẩu của cơ quan chức năng. Ví dụ: Đến năm 2017, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan và Trung Quốc cũng gặp không ít khó khăn do biện pháp này gây ra. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật là một trong những hàng rào kỹ thuật thường được các nước áp dụng. Một mặt các tiêu chuẩn này tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế bằng cách giúp người mua nước ngoài đánh giá được quy cách, chất lượng của sản phẩm nhưng mặt khác chúng cũng có thể trở thành rào cản thương mại nếu quá khác biệt giữa các nước. Một trong những rào cản lớn khác với hàng hóa và doanh nghiệp là biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (bao gồm biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, trợ cấp và đối kháng). Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến biện pháp chống bán phá giá. Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn mức giá của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu. Các nước được phép đánh thuế chống bán phá giá với các sản phẩm bán phá giá khi điều tra được hàng nhập khẩu đã được bán phá giá vào thị trường nước mình đồng thời chứng minh được việc bán phá giá này gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước. Có thể nói, không một nước nào trên thế giới lại từ bỏ việc áp dụng các biện pháp phi thuế - một công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước hay để đạt được một số mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Theo quy định của WTO, các nước sẽ phải dần dần xóa bỏ một số hàng rào phi thuế, đặc biệt là các biện pháp hạn chế định lượng. Tuy nhiên, cùng với tiến trình đó, việc tạo ra và sử dụng các công cụ phi thuế mới, tinh vi hơn là điều không thể tránh khỏi. Trong quá trình mở cửa, hội nhập Việt Nam càng cần phải hiểu rõ các hàng rào phi thuế quan để vừa đẩy mạnh được xuất khẩu, vừa bảo hộ hiệu quả các ngành sản xuất non trẻ trong nước. 7.3. Cán cân thanh toán quốc tế Do việc xúc tiến những quan hệ với các nước về các lĩnh vực từ thương mại, dịch vụ, đầu tư, tín dụng... cho đến ngoại giao, xã hội, văn hóa, khoa học công nghệ... cho nên nảy sinh ra quan hệ thu chi tiền tệ đối ngoại của mỗi nước, việc nảy sinh này được phản ánh tập trung trong cán cân thanh toán quốc tế của nước đó. Cán cân thanh toán quốc tế là một bản đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ nước ngoài với các khoản tiền trả cho nước ngoài của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Thực chất, cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tích những quan hệ kinh tế tài chính của một nước với nước ngoài trong một thời gian xác định. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, 250 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  10. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Cán cân thanh toán = Cán cân vãng lai + Cán cân vốn + Sai số thống kê Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh kết quả của hoạt động trao đổi đối ngoại của nước đó với các nước khác. Cho biết một cách trực quan tình trạng công nợ của một quốc gia tại một thời điểm nhất định. Cán cân bội thu hay bội chi cho biết nước đó là chủ nợ hay đang mắc nợ nước ngoài. Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh địa vị kinh tế của một quốc gia trên trường quốc tế. Địa vị này là kết quả tổng hợp của các hoạt động thương mại, dịch vụ và các chính sách rút vốn ra khỏi nước khác. Như vậy cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô. Một hệ thống số liệu tốt hay xấu trên cán cân có thể ảnh hưởng đến tỷ giá từ đó sẽ tạo ra những biến động trong phát triển kinh tế  xã hội. Thực trạng của cán cân làm cho nhà hoạch định chính sách thay đổi nội dung chính sách kinh tế. Chẳng hạn, thâm hụt cán cân thanh toán có thể làm Chính phủ nâng lãi suất lên hoặc giảm bớt chi tiêu công cộng để giảm chi về nhập khẩu. Do đó, Chính phủ dựa vào cán cân để thiết kế chiến lược phát triển kinh tế  xã hội và có những đối sách thích hợp cho từng thời kỳ. Ví dụ: Bảng 7.5. Xác định cán cân thanh toán của nền kinh tế Mỹ năm 1999. Bảng 7.5. Cán cân thanh toán của Mỹ, 1999 (tỷ USD) TÀI KHOẢN VÃNG LAI Giá trị (1) Xuất khẩu ròng về hàng hóa –347,2 (2) Xuất khẩu ròng dịch vụ 79,6 (3) Thu nhập đầu tư ròng –24,7 (4) Thanh toán chuyển nhượng ròng –46,6 (5) Cán cân tài khoản vãng lai (1+2+3+4) –338,9 TÀI KHOẢN VỐN (6) Thay đổi về tài sản của cư dân Mỹ ở nước ngoài –381,0 (7) Thay đổi về tài sản cư dân nước ngoài ở Mỹ 706,2 (8) Thay đổi về tài sản của Chính phủ Mỹ ở nước ngoài 8,3 (9) Thay đổi về tài sản của Chính phủ nước ngoài ở Mỹ 44,5 (10) Cán cân tài khoản vốn (6+7+8+9) 378,0 (11) SAI SỐ THỐNG KÊ –39,1 CÁN CÂN THANH TOÁN (5+10+11) 0 Lỗi và sai số thống kê: Khoản mục này nếu có là do sự sai lệch về thống kê do nhầm lẫn, bỏ sót hoặc không thu thập được số liệu. Nguyên nhân là những ghi chép của những khoản thanh toán hoặc hóa đơn quốc tế được thực hiện vào những thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau và có thể bằng những phương pháp khác nhau. Do vậy, những ghi chép này là cơ sở để xây dựng những thống kê của cán cân thanh toán quốc tế chắc chắn không hoàn hảo. Từ đó, dẫn đến những sai số thống kê. 251 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  11. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở 7.3.1. Tài khoản vãng lai a. Khái niệm tài khoản vãng lai Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ. Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5%, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh. b. Các khoản mục cán cân vãng lai Khoản mục cán cân vãng lai được chia thành 4 nhóm nhỏ: Thương mại hàng hóa, dịch vụ, yếu tố thu nhập, chuyển tiền thuần.  Cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa o Cán cân này phản ánh những khoản thu chi về xuất nhập khẩu hàng hóa trong một thời kỳ nhất định. Khi cán cân thương mại thặng dư điều này có nghĩa là nước đó đã thu được từ xuất khẩu nhiều hơn phải trả cho nhập khẩu. Ngược lại, cán cân bội chi phản ánh nước đó nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Khi xuất khẩu, trị giá hàng xuất khẩu được phản ánh vào bên Có. Khi nhập khẩu, trị giá hàng nhập khẩu được phản ánh vào bên Nợ. Vì xuất khẩu làm phát sinh cung ngoại tệ và cầu nội tệ trên thị trường ngoại hối. Nhập khẩu làm phát sinh cầu ngoại tệ. Cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ (Cán cân thương mại vô hình). o Cán cân này phản ánh các khoản thu chi từ các hoạt động dịch vụ về vận tải (cước phí vận chuyển thuê tàu, bến bãi,...) du lịch, bưu chính, cố vấn pháp luật, dịch vụ kỹ thuật, bản quyền, bằng phát minh,... Thực chất của cán cân dịch vụ là cán cân thương mại nhưng gắn với việc xuất nhập khẩu dịch vụ. Khi ghi chép sổ sách: Xuất khẩu dịch vụ phản ánh bên Có; Nhập khẩu dịch vụ phản ánh bên Nợ.  Cán cân thu nhập (Yếu tố thu nhập) Phản ánh các dòng tiền về thu nhập chuyển vào và chuyển ra. Bao gồm: o Thu nhập của người lao động (tiền lương, tiền thưởng, thu nhập khác...) do người không cư trú trả cho người cư trú và ngược lại. o Thu nhập từ hoạt động đầu tư như: FDI, ODA,... Các khoản thanh toán và được thanh toán từ tiền lãi, cổ tức đến những khoản thu nhập từ đầu tư ở nước ngoài từ trước. o Thu nhập chảy vào phản ánh bên Có (làm tăng cung ngoại tệ). Khi chuyển thu nhập ra được phản ánh bên Nợ (làm giảm cung ngoại tệ). 252 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  12. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở  Chuyển tiền đơn phương Bao gồm các khoản chuyển giao một chiều không được hoàn lại như: Viện trợ không hoàn lại; khoản bồi thường, quà tặng, quà biếu; trợ cấp tư nhân, trợ cấp chính phủ. Các khoản thu đơn phương được xem như tăng thu nhập nội địa do thu được từ nước ngoài, làm tăng cung ngoại tệ (phản ánh vào bên có). Các khoản phải trả đơn phương do phải thanh toán cho người nước ngoài phát sinh cầu ngoại tệ (phản ánh vào bên Nợ). 7.3.2. Tài khoản vốn Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia đó có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai. Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính. Tài khoản vốn phản ánh sự chuyển dịch tư bản của một nước với các nước khác (luồng vốn được đầu tư vào hay đầu tư ra của một quốc gia). Các luồng vốn gồm hai loại: Luồng vốn ngắn hạn và luồng vốn dài hạn.  Cán cân vốn ngắn hạn: Bao gồm các khoản vốn ngắn hạn chảy vào (Có) và chảy ra (Nợ). Nó bao gồm: Tín dụng thương mại, tín dụng ngắn hạn ngân hàng và các khoản tiền gửi ngắn hạn.  Cán cân vốn dài hạn: Phản ánh các khoản vốn dài hạn bao gồm: FDI (Khi FDI chảy vào phản ánh Có, khi FDI chảy ra phản ánh Nợ); các khoản tín dụng quốc tế dài hạn: Tín dụng thương mại dài hạn (khoản vay hoặc cho vay của các tổ chức tín dụng nước ngoài theo điều kiện thực tế: Khi đi vay phản ánh bên Có, khi cho vay hoặc trả nợ thì phản ánh bên Nợ); tín dụng ưu đãi dài hạn (Các khoản vay ODA: Khi đi vay phản ánh bên Có, khi cho vay phản ánh bên Nợ); các khoản đầu tư gián tiếp khác bao gồm các khoản mua, bán cổ phiếu, trái phiếu quốc tế nhưng chưa đạt đến số lượng kiểm soát công ty (Nếu bán cổ phiếu, trái phiếu tức là vốn vào thì phản ánh bên Có. Còn nếu mua thì vốn ra tức là phản ánh bên Nợ); các khoản vốn chuyển giao không hoàn lại (khoản viện trợ không hoàn lại cho mục đích đầu tư, các khoản nợ được xóa. Tài sản của người di cư: Vào ghi bên Có, ra ghi bên Nợ). Mối quan hệ giữa tài khoản vốn và lãi suất: Cân đối tài khoản vốn có quan hệ mật thiết với lãi suất. Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế dòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản vốn, nhờ đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi. Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và, khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện. Mối quan hệ giữa tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái: Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm đi, dòng vốn vào sẽ giảm trong khi dòng vốn ra tăng lên. Hậu quả là tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá (tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện. 253 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  13. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở 7.3.3. Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế a. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán quốc tế có thể rơi vào tình trạng bội thu hoặc bội chi. Tình trạng này không cố định theo thời gian mà luôn luôn thay đổi vị trí. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế đó là: cán cân thương mại, lạm phát, thu nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái, sự ổn định chính trị của đất nước, khả năng quản lý kinh tế của Chính phủ.  Cán cân thương mại Là yếu tố quan trọng quyết định đến vị trí của cán cân thanh toán mà cán cân thương mại lại phụ thuộc yếu tố tác động trực tiếp đến nó. Ví dụ như: Thương mại hữu hình là một trong những hạng mục thường xuyên của cán cân thanh toán. Tùy theo trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, độ phong phú của tài nguyên thiên nhiên mà có một số quốc gia khác lại ở vào vị trí nhập siêu. Thương mại vô hình là dịch vụ và du lịch. Có một số quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về vị trí địa lý, cảnh quan và khí hậu đã trở thành nơi thu hút khách du lịch của thế giới.  Lạm phát Với điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu tỷ lệ lạm phát của một quốc gia cao hơn so với các nước khác có quan hệ mậu dịch, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa của nước này trên thị trường quốc tế do đó làm cho khối lượng xuất khẩu giảm.  Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân Nếu mức thu nhập của một quốc gia tăng theo một tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng của quốc gia khác, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau. Do mức thu nhập thực tế (đã điều chỉnh do lạm phát) tăng, mức tiêu thụ hàng hóa cũng tăng.  Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái Nếu tiền của một nước bắt đầu tăng giá so với tiền của quốc gia khác, tài khoản vãng lai của nước đó sẽ giảm, nếu các yếu tố khác bằng nhau. Khi đó, hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên đắt hơn đối với các nước nhập khẩu nếu đồng tiền của họ mạnh. Kết quả là nhu cầu hàng hóa đó giảm.  Sự ổn định chính trị của một đất nước, chính sách đối ngoại của quốc gia Sự ổn định chính trị của một đất nước là cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế, và là điều kiện tiên quyết để các quốc gia khác tăng cường quan hệ kinh tế. Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại trở thành điều kiện đủ cho mọi quan hệ kinh tế trực tiếp. Trong điều kiện mở cửa kinh tế và hội nhập, chính sách đối ngoại phù hợp sẽ là yếu tố mở đường cho mọi yếu tố khác phát triển.  Khả năng và trình độ quản lý kinh tế của Chính phủ Đây là yếu tố tạo sự phát triển bền vững và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Yếu tố này vừa mang tính thử nghiệm vừa đánh giá sự năng động trong điều hành nền kinh tế của Chính phủ trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại cũng sẽ đạt được. Do đó, cán cân thanh toán quốc tế sẽ được cải thiện theo chiều thuận. 254 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  14. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở b. Một số giải pháp duy trì cân bằng cán cân thanh toán Mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế của mỗi quốc gia là đảm bảo cho cán cân thanh toán được cân bằng. Khi cán cân thanh toán bội thu hay bội chi thì các nước thường sử dụng các biện pháp để điều chỉnh. Khi cán cân bội thu, các nước thường sử dụng số bội thu đó để tăng cường đầu tư ra nước ngoài và bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Bội chi cán cân sẽ có tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế của các quốc gia, quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế  xã hội khác. Chúng ta có thể xem xét một số biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán khi bội chi như sau:  Giảm chi tiêu ngân sách nhà nước sẽ tác động đến tổng cầu do đó góp phần cải thiện cán cân thanh toán ngắn hạn. Giảm chi tiêu ngân sách nhà nước thường đi đôi với chính sách thắt chặt tiền tệ, thuế khóa như: Tăng lãi suất cho vay để giảm đầu tư, dùng công cụ thuế để hạn chế tiêu dùng nhất là hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng.  Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể áp dụng các biện pháp sau: Nâng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút ngoại tệ từ nước ngoài vào; vay của nước ngoài và tìm kiếm nguồn viện trợ nhà nước; tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thủ tục dễ dàng, ưu đãi về thuế, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.  Điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm khuyến khích xuất khẩu tăng thu ngoại tệ đồng thời hạn chế nhập khẩu tiết kiệm ngoại tệ. NHTƯ dùng cách thay đổi lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng để điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế. Nếu lãi suất tái chiết khấu tăng trong khi lãi suất của các nước trong khu vực vẫn giữ nguyên thì sẽ thu hút được lượng ngoại tệ lớn ở trong nước và ngoài nước vào ngân hàng, như vậy cung cầu ngoại tệ sẽ được cải thiện. Khi cần thiết NHTƯ hạ lãi suất tái chiết khấu sẽ mở rộng quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài tăng thu ngoại tệ. Chính sách hối đoái là biện pháp tác động trực tiếp vào tỷ giá hối đoái nghĩa là NHTƯ hay cơ quan ngoại hối của nhà nước dùng các nghiệp vụ trực tiếp mua, bán ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá phù hợp với điều kiện của mình trong từng giai đoạn, phù hợp mục tiêu chính sách kinh tế đối ngoại.  Áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch nhằm kích thích xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, tăng thu ngoại tệ bù đắp sự thiếu hụt, sử dụng hàng rào thuế quan hạn chế nhập khẩu.  Sử dụng quyền rút vốn đặc biệt SDR tại IMF. Khi một quốc gia là thành viên chính thức tại IMF thì quốc gia đó có thể sử dụng quyền rút vốn đặc biệt hoặc thực hiện xuất vàng để trang trải các khoản nợ nước ngoài. Một số giải pháp mang tính chiến lược:  Tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tùy thuộc vào điều kiện tài nguyên, trình độ phát triển khoa học công nghệ của quốc gia trong đó trình độ khoa học công nghệ giữ vị trí quyết định.  Có chính sách hợp lý và năng động để thu hút khách du lịch, kiều hối, xuất khẩu lao động, xuất khẩu công nghệ nhằm tăng thu ngoại tệ.  Quản lý thu chi ngoại tệ theo nguyên tắc tăng thu giảm chi ngoại tệ.  Đổi mới chính sách quản lý kinh tế đối ngoại để thu hút vốn đầu tư.  Nâng cao trình độ quản lý và điều hành kinh tế của Chính phủ và các cấp chính quyền. 255 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  15. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở 7.4. Tỷ giá hối đoái 7.4.1. Tỷ giá hối đoái và các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Nói cách khác là tỷ giá mua bán (trao đổi) giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng quan trọng phục vụ cho chính sách thương mại của mỗi quốc gia sao cho có lợi nhất trong điều kiện thương mại quốc tế. Tỷ giá hối đoái là một vấn đề kinh tế, từ thế kỷ XV – XVII đã được các nhà tư tưởng trọng thương chủ nghĩa quan tâm bàn đến. Tuy nhiên, nó được nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ và chi tiết trong các học thuyết hiện đại. Thông thường có 2 xu hướng thay đổi tỷ giá hối đoái:  Một là, xu hướng phá giá đồng nội tệ (nghĩa là làm giảm giá đồng tiền bản tệ). Xu hướng này thường được áp dụng để khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh và khuyến khích xuất khẩu. Thực hiện được hướng này, thì các nước phải nắm rõ tình hình diễn biến thương mại quốc tế,...  Hai là, xu hướng tăng giá đồng nội tệ. Xu hướng này thường được áp dụng để khuyến khích nhập khẩu và tăng điều kiện cạnh tranh trong nước, hạn chế việc đầu tư sản xuất kinh doanh. Thông thường kèm theo chính sách này là chính sách thay đổi lãi suất theo hướng tăng lãi suất. Cách xác định tỷ giá hối đoái Để tránh nhầm lẫn khi phân tích, chúng ta thường quy ước sử dụng ký hiệu sau:  Ký hiệu e là tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nước ngoài. (Hay tỷ giá hối đoái của đồng tiền ở thị trường ngoại hối của đồng tiền đó).  Ký hiệu E là tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ. (Hay tỷ giá hối đoái của đồng tiền có liên quan trong thị trường ngoại hối đang xem xét). Ví dụ: Ở Việt Nam nếu ta coi đồng nội tệ là VND, đồng ngoại tệ thường sử dụng là USD thì tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ đầu năm 2018 là: USD 1 e  VND 22.500 Và tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ đầu năm 2018 là: VND 22.500 E   22.500 USD 1 Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái  Cán cân thương mại: Trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập khẩu của một nước tăng thì đường cung về tiền của nước đó sẽ dịch chuyển sang phía phải, và ngược lại nếu xuất khẩu của một nước tăng thì đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang phía phải (e tăng).  Tỷ lệ lạm phát tương đối: Nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ lệ lạm phát của một nước khác thì nước đó sẽ cần nhiều tiền hơn để mua một lượng tiền nhất định của nước kia. Điều này làm cho đường cung tiền dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống. 256 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  16. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở  Sự vận động của tư bản: Khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi suất có ảnh hưởng mạnh. Khi lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn mua các tài sản đó. Điều này làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó. Đây là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất tới tỷ giá hối đoái ở các nước phát triển cao.  Dự trữ và đầu cơ ngoại tệ: Tất cả đều có thể làm dịch chuyển các đường cung và cầu tiền tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao đổi hàng tỷ đô la giá trị tiền tệ mỗi ngày. Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây nên sự dịch chuyển các đường cung cầu trên thị trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây ra những dao động của tỷ giá hối đoái. Như một phản ứng dây chuyền, những biến động của tỷ giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế trong nước. 7.4.2. Thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là nơi đồng tiền của quốc gia này được trao đổi với đồng tiền của quốc gia khác. Những chủ thể kinh tế tham gia thị trường này thường là các thể chế tài chính, các ngân hàng trung ương và các chính phủ, những công ty, những nhà đầu cơ tiền tệ,... Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối: là khối lượng tiền mà người nước ngoài muốn mua và có khả năng mua (chuyển đổi) đồng tiền trong nước ở các mức giá khác nhau trên thị trường ngoại hối. Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các nước khác mua hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tại nước A. Các hãng sản xuất và những người làm công sản xuất ra hàng hóa phải chi trả bằng tiền mặt của nước A, điều này đòi hỏi những người mua là người nước ngoài phải mua tiền trong thị trường ngoại hối. Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoại hối. Đường cầu về một loại tiền là một hàm số của tỷ giá hối đoái, đường này dốc xuống về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hóa của nước đó càng trở nên đắt hơn đối với những người nước ngoài và càng ít hàng hóa được xuất khẩu hơn. Cung về tiền trên thị trường ngoại hối: là khối lượng tiền mà người dân trong nước muốn và có khả năng chuyển đổi đồng tiền nước ngoài ở các mức giá khác nhau trên thị trường ngoại hối. Đường cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, đường này dốc lên trên về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hóa nước ngoài càng rẻ và hàng hóa ngoại được nhập khẩu vào thị trường quốc tế càng nhiều. Hình 7.3 mô tả, khi cung tiền bằng cầu tiền trên thị trường ngoại hối (đường cung tiền cắt đường cầu tiền) ta xác định được trạng thái cân bằng trên thị trường ngoại hối. Tại trạng thái cân bằng E, chúng ta xác định được tỷ giá hối đoái là e0. Nếu xuất khẩu tăng lên, cầu tiền trên thị trường ngoại hối tăng lên, đường cầu tiền dịch chuyển sang phải, tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên. Nếu nhập khẩu tăng lên, cung tiền trên thị trường ngoại hối tăng, đường cung tiền dịch chuyển sang phải, tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống. 257 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  17. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở Hình 7.3. Cân bằng cung tiền và cầu tiền trên thị trường ngoại hối 7.4.3. Các hệ thống tỷ giá hối đoái Có nhiều kiểu hệ thống đã được thiết lập các tỷ giá hối đoái như: Các hệ thống tỷ giá cố định, các hệ thống tỷ giá thả nổi (các tỷ giá thị trường linh hoạt) và các tỷ giá thả nổi có quản lý. a. Hệ thống tỷ giá cố định: Bretton Woods (1944 – 1971) Tỷ giá hối đoái cố định, còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi. Gần cuối thế chiến thứ II một hội nghị đa quốc gia đã được tổ chức ở Bretton Woods New Hampshise (Mỹ) để hoạch định “một hệ thống các tỷ giá hối đoái có trật tự thuận lợi cho luồng thương mại tự do”. Hệ thống này có các yếu tố sau:  Giá của vàng được cố định là 35 đô la Mỹ một Ounce. Nghĩa là giá trị của đồng đô la Mỹ được cố định theo vàng.  Tiền của các nước tham gia hệ thống được cố định theo đồng đô la Mỹ, các NHTƯ của những nước này có trách nhiệm duy trì các tỷ giá hối đoái của họ bằng việc mua và bán đô la trên thị trường ngoại tệ.  Quỹ tiền tệ (IMF) đã được tạo ra để quản lý hệ thống này và làm một số chức năng của NHTƯ quốc tế. Các chức năng của quỹ tiền tệ thế giới IMF trong hệ thống này là: Đảm bảo rằng các nước duy trì các tỷ giá hối đoái như đã thoả thuận cho các NHTƯ tham gia quỹ này vay tiền, khi dự trữ của họ không còn đủ để mua hoặc bán đủ lượng tiền đô la để hỗ trợ các tỷ giá hối đoái của họ nữa; bàn bạc với các nước tham gia về những thay đổi trong các tỷ giá hối đoái của họ. Hệ thống này đã gặp một số khó khăn: 258 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  18. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở  Dự trữ không tương xứng: Quy mô thương mại quốc tế tăng nhanh chóng trong những năm 1950  1960 gây nên những vận động tiền tệ lớn. Điều này đòi hỏi các NHTƯ phải mua và bán đô la nhiều lên nhằm duy trì các tỷ giá hối đoái đã thoả thuận. Một số ngân hàng nhận thấy rằng dự trữ về đô la và vàng hiện tại là không tương xứng để duy trì tỷ giá cố định.  Các điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo xu hướng lâu dài: Các tỷ lệ tăng trưởng về xuất khẩu và nhập khẩu cũng như tỷ lệ lạm phát rất khác nhau giữa các nước gây nên những thay đổi dài hạn về giá trị tương đối của tiền tệ. Nhiều nước đã đề nghị IMF thay đổi các tỷ giá hối đoái của họ.  Các cuộc khủng hoảng mang tính đầu cơ: Khi đã rõ ràng rằng một đồng tiền được đánh giá quá cao hoặc quá thấp so với tỷ giá hiện tại của nó thì các nhà đầu cơ sẽ mua hoặc bán những lượng tiền lớn theo dự đoán của họ về sự thay đổi tỷ giá hối đoái. NHTƯ sẽ phải chi tiêu những lượng tiền ngoại tệ lớn nhằm cố gắng duy trì tỷ giá cố định cho tới khi nó được thay đổi. Vào năm 1971 các nước không còn khả năng đảm bảo rằng những đồng đô la Mỹ có thể được chuyển đổi thành vàng và tháng 8 năm 1971, Chính phủ Mỹ đã buộc phải xóa bỏ chế độ bản vị vàng của đồng USD. Trong xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế, việc theo đuổi chế độ tỷ giá cố định có thể dẫn đến một số vấn đề sau:  Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn thế giới, nước đó sẽ mất dần khả năng cạnh tranh trên các thị trường quốc tế, gây tổn thất cho cán cân thanh toán quốc tế và ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước.  Để đảm bảo tỷ giá hối đoái cố định, Chính phủ thường phải sử dụng các công cụ hạn chế nhập khẩu như thuế quan, hạn ngạch,... và hạn chế luồng vốn luân chuyển quốc tế nhằm kiềm chế thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này mâu thuẫn với yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.  Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không cho phép sử dụng chính sách tiền tệ vào các mục tiêu như ổn định giá cả hoặc tạo thêm công ăn việc làm, mà chỉ sử dụng vào một mục tiêu duy nhất là duy trì giá cả cố định ở mức đã công bố. b. Các hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi (linh hoạt) Tỷ giá hối đoái thả nổi được xác định hoàn toàn bởi các lực lượng cung và cầu của thị trường, không có sự can thiệp nào của Chính phủ. Về mặt lý thuyết, các tỷ giá cần điều chỉnh một cách tự động theo những thay đổi trong lạm phát, trong cán cân thương mại và các luồng vốn và duy trì “sự ngang bằng của sức mua” sao cho có thể mua được một lượng hàng nhất định từ cùng một lượng tiền của một trong hai nước. Từ 1971, Mỹ và một số nước khác đã cho phép tiền của họ thả nổi hoàn toàn hoặc phần lớn. Mặc dù vậy hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi vẫn gặp phải những khó khăn: Trước năm 1971 nhiều nhà kinh tế đã ủng hộ việc để các tỷ giá hối đoái thả nổi tự do và dự tính rằng các tỷ giá sẽ tương đối ổn định vì đầu cơ sẽ giữ chúng sát với sự ngang bằng của sức mua. Trong thực tế các tỷ giá đã chao đảo mạnh và đã tách rời khỏi sự ngang bằng của sức mua trong những thời kỳ dài. Lý do là: 259 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  19. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở  Có những sự vận động về vốn do những khác biệt về lãi suất trong các nước gây ra. Các mục tiêu của chính sách trong nước đã làm cho các nước theo đuổi những chính sách tiền tệ khác nhau, chúng làm lãi suất thực tế khác nhau và làm cho những luồng vốn lớn chảy vào các nước có lãi suất cao, đẩy tỷ giá hối đoái của nước này lên bất kể các điều kiện thương mại.  Đầu cơ tiền tệ quốc tế cũng dẫn tới việc tăng và giảm khá lớn các tỷ giá hối đoái và những thay đổi này không liên quan tới các điều kiện thương mại.  Sự thay đổi về cơ cấu trong và giữa các nền kinh tế. Các giá trị tương đối của nhiều hàng hóa đã thay đổi cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp mới và sự suy giảm của những ngành cũ làm cho giá trị trao đổi thực tế thay đổi so với các giá trị dự kiến thông qua sự ngang bằng sức mua. c. Các hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý Một hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (hay không thuần nhất) là một hệ thống trong đó tỷ giá hối đoái được phép thay đổi phù hợp với điều kiện thị trường, nhưng đôi khi Chính phủ can thiệp vào để ngăn ngừa không cho nó vận động ra ngoài các giới hạn nhất định. Không để cho tỷ giá hoàn toàn thả nổi theo các lực lượng cung và cầu như trong hệ thống tỷ giá thả nổi, các ngân hàng trung ương đều có những can thiệp nhất định vào thị trường ngoại hối. Khác với hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, mục đích của sự can thiệp của ngân hàng trung ương trong hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý là hạn chế hoặc thu hẹp biên độ giao động của tỷ giá hối đoái. Như vậy, hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý là sự kết hợp hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi với sự can thiệp của ngân hàng trung ương. Sử dụng hệ thống này có thể phát huy được những điểm mạnh và hạn chế được những yếu điểm của hai hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định. d. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và Tỷ giá hối đoái thực tế Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá hối đoái mà không xét đến tương quan giá cả hay tương quan lạm phát giữa hai nước. Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước. Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau: Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa × Giá nước ngoài/Giá nội địa = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa × Tỷ lệ lạm phát nước ngoài/Tỷ lệ lạm phát trong nước. 7.4.4. Một số giải pháp ổn định tỷ giá hối đoái Có nhiều giải pháp để ổn định tỷ giá, sau đây là 10 giải phải chủ yếu:  Giải pháp thứ nhất là tăng cường sự phối hợp chặt chẽ trong việc kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm trên thị trường ngoại tệ tự do để ngăn chặn đầu cơ.  Giải pháp thứ hai là giảm chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới vốn đã kéo dài và hiện còn ở mức quá cao để ngăn chặn các nhà đầu cơ mua USD nhập khẩu vàng để hưởng chênh lệch giá. Điều này không chỉ là các nhà đầu cơ trên thị trường tự do, mà dư luận còn nghi ngờ cả với các tổ chức tín dụng. 260 ECO102_Bai7_v2.0018102208
  20. Bài 7: Kinh tế vi mô trong nền kinh tế mở  Giải pháp thứ ba là thu hút mạnh hơn lượng ngoại tệ từ các nguồn, nhất là FDI, ODA, kiều hối, khách quốc tế đến Việt Nam... Đây là biện pháp không chỉ là thu hút nguồn lực mà còn góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá... Kiểm soát nhập khẩu những mặt hàng cần hạn chế, cần kiểm soát, nhất là những hàng hiệu.  Giải pháp thứ tư là giữ chênh lệch giữa lãi suất huy động giữa VND và USD đủ lớn để tăng sức hấp dẫn đối với VND, để tăng việc chuyển đổi từ USD sang VND, tăng thu hút ngoại tệ từ kiều hối, du lịch...  Giải pháp thứ năm là các ngân hàng thương mại tiếp tục chuyển nhanh quan hệ tín dụng (gửi và cho vay bằng ngoại tệ) sang quan hệ mua bán đứt đoạn về ngoại tệ. Giải pháp này còn góp phần hạn chế tình trạng đô la hóa.  Giải pháp thứ sáu là thực hiện chặt chẽ hơn trong việc cung ứng ngoại tệ cho các đối tượng, kể cả nghiên cứu thẩm định kỹ hơn việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài đầu tư của các doanh nghiệp, trong điều kiện Việt Nam cần thu hút ngoại tệ. Hạn chế chi ngoại tệ từ nguồn ngân sách cho việc đi công tác nước ngoài của công chức nhà nước.  Giải pháp thứ bảy là ngân hàng nhà nước bơm thanh khoản USD cho thị trường liên ngân hàng can thiệp khi cần thiết.  Giải pháp thứ tám là yêu cầu các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp xuất khẩu tăng cung USD ra thị trường.  Giải pháp thứ chín là thực hiện phương thức “trườn bò” thay cho phương thức “giật cục” - tức là thông qua việc điều chỉnh tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, mà không điều chỉnh định kỳ một lần với tốc độ lớn, để hạn chế đầu cơ đón đầu tạo sóng.  Giải pháp thứ mười là ổn định tâm lý, lòng tin vào đồng tiền quốc gia. Tâm lý, lòng tin vào đồng tiền quốc gia không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị; thường phải mất nhiều thời gian mới củng cố, cải thiện được. 7.5. Tổng cầu trong nền kinh tế mở 7.5.1. Cầu về xuất, nhập khẩu Trong mô hình này chúng ta mở rộng đến khu vực ngoại thương, tức là khu vực xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Xuất khẩu là những hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước để bán ra nước ngoài. Ngược lại, nhập khẩu là nhập những hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra nước ngoài, được nhân dân trong nước mua. Nếu đem giá trị hàng hóa xuất khẩu trừ đi giá trị hàng hóa nhập khẩu ta có khái niệm xuất khẩu ròng hay cán cân thương mại. Cán cân thương mại là giá trị xuất khẩu ròng. Khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu nền kinh tế có thặng dư cán cân thương mại. Khi nhập khẩu vượt xuất khẩu, nền kinh tế bị thâm hụt cán cân thương mại. Xuất khẩu ròng làm tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm quốc dân. Nhu cầu về xuất khẩu ròng cũng làm tăng tổng nhu cầu của nền kinh tế. Mô hình tổng chi tiêu của nền kinh tế lúc này bằng: AE = C + I + G + NX Trong đó: NX = X - IM là xuất khẩu ròng, X là cầu về hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, IM là cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu. 261 ECO102_Bai7_v2.0018102208
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2