BÀI GIẢNG
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
(Tài liệu tham khảo dành cho hệ Đại học và
Jan, 2011
ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Cao học ngành Quản lý đất đai) TS. Nguyễn Hữu Ngữ
ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÀI GIẢNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
(Tài liệu tham khảo dành cho hệ Cao học ngành Quản lý đất đai) Biên soạn: TS. Nguyễn Hữu Ngữ
Huế, 1/2011 (LƢU HÀNH NỘI BỘ)
1
MỤC LỤC
Chƣơng I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 1.1. Tình hình đất nƣớc ...................................................................................................... 6 1.2. Bối cảnh quốc tế ......................................................................................................... 6 2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 2011 – 2020 .............................................................................................................. 8 3. MỤC TIÊU CHIẾN LƢỢC VÀ KHÂU ĐỘT PHÁ ................................................... 9 3.1. Mục tiêu tổng quát ...................................................................................................... 9 3.2. Mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trƣờng ...................... 10 4. ÐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN, ÐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƢỞNG, CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ....................................................................................................... 11 5. VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ................................................................................................................ 14 5.1. Tình hình chung ........................................................................................................ 14 5.2. Về kế hoạch hóa ....................................................................................................... 15 5.3. Về nội dung và phƣơng pháp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam ...................................................................................................................... 17 6. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC ...... 19 6.1. Đối tƣợng nghiên cứu của môn học........................................................................... 19 6.2. Nội dung nghiên cứu................................................................................................. 19 6.3. Phƣơng pháp nghiên cứu môn học ............................................................................ 20
Chƣơng II CƠ SỞ LÝ LUẬN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ...................................................................................................... 21 1.1. Hệ thống kế hoạch hóa phát triển ............................................................................. 21 1.1.1. Quy trình kế hoạch hóa nền kinh tế ........................................................................ 21 1.1.2. Chức năng, nguyên tắc của kế hoạch hóa phát triển............................................... 29 1.2. Vị trí, vai trò của quy hoạch TTPTKT-XH trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc ...... 34 1.2.1. Nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa .......................................................... 34 1.2.2. Các nhân tố của quy hoạch tổng thể ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế - xã hội ........ 36 1.2.3. Quan hệ của quy hoạch tổng thể trong sự nghiệp CNH – HĐH .............................. 42 1.3. Mối quan hệ giữa quy hoạch TTPTKTXH với các loại hình quy hoạch khác ............ 42 1.3.1. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH với quy hoạch sử dụng đất .......................... 43 1.3.2. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH và quy hoạch phát triển các ngành
2
(nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) ................................................................................ 43 1.3.3. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH với quy hoạch đô thị và xây dựng ............... 44 1.3.4. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKTXH với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ..... 44 2. BẢN CHẤT CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ...................................................................................................... 44 2.1. Khái luận về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ...................................... 44 2.2. Bản chất của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ..................................... 50 2.2.1. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực .................................................................... 50 2.2.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ .......................................... 51 3. PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ............................................................................. 54 3.1. Phƣơng pháp tiếp cận quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng .............................................................................................. 54 3.2. Phƣơng pháp tiếp cận quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ................. 54 3.2.1. Vùng lãnh thổ - phương pháp tiếp cận ................................................................... 54 3.2.2. Quan niệm về quản lý vùng ở Việt Nam .................................................................. 57 3.2.3. Định hướng phát triển các vùng ............................................................................. 60 4. ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ........................................................ 64 4.1. Đặc điểm chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ......................... 64 4.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là văn bản pháp lý ................................... 64 4.1.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một công cụ hữu hiệu của công tác quản lý nhà nước ............................................................................................... 66 4.1.3. Quy hoạch tổng thể có tính phản ánh và tính chỉ đạo hành động ............................ 67 4.2. Yêu cầu chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ........................... 68 4.3. Nguyên tắc cơ bản của quy hoạch tổng thể phát triển kinh - tế xã hội ....................... 71
Chƣơng III
NỘI DUNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ......................................... 74 1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng ......................................... 74 1.2. Đặc điểm dân số, dân cƣ, nguồn nhân lực ................................................................ 79 1.3. Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội. ......................................................................... 82 1.3.1. Phân tích, đánh giá tăng trưởng kinh tế ................................................................. 82 1.3.2. Phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ....................................... 83 1.3.3. Nội dung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực............................................................................................................. 84 1.3.4. Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng ......................................................... 86 1.3.5. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển ................................................................... 86 1.3.6. Hiện trạng phát triển lãnh thổ ................................................................................ 87
3
1.3.7. Phân tích đánh giá tác động của các cơ chế, chính sách đang thực hiện phát triển kinh tế - xã hội ................................................................................. 87 1.3.8. Phân tích, đánh giá tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội .................................................................................................................. 87 1.4. Phân tích đánh giá các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển (bối cảnh kinh tế quốc tế, mối quan hệ kinh tế- xã hội trong nƣớc và liên vùng) .............................. 87 1.4.1. Phân tích sự báo tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế .................................................................................................. 87 1.4.2. Phân tích tác động của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp vĩ mô đến phát triển kinh tế - xã hội địa phương ........................................................ 88 1.5. Phân tích lợi thế, hạn chế và thách thức .................................................................... 88 2. LUẬN CHỨNG QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN ........ 88 2.1. Luận chứng các quan điểm phát triển và mục tiêu tổng quát ...................................... 88 2.1.1. Xác định quan điểm phát triển .............................................................................. 89 2.1.2. Xác định mục tiêu phát triển ................................................................................. 89 2.2. Luận chứng các mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạn quy hoạch .................. 90 2.2.1. Đối với cách tiếp cận theo mục tiêu ....................................................................... 90 2.2.2. Đối với cách tiếp cận từ tiềm năng phát triển ......................................................... 91 2.2.3. Lựa chọn các phương án phát triển ........................................................................ 92 2.3. Luận chứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các phƣơng án tăng trƣởng kinh tế và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ ................................................................................................ 92 3. LUẬN CHỨNG PHƢƠNG HƢỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ CÁC LĨNH VỰC ............................................................................ 93 3.1. Phƣơng hƣớng phát triển các ngành kinh tế chủ yếu.................................................. 93 3.1.1. Đối với ngành công nghiệp .................................................................................... 93 3.1.2. Đối với nông, lâm, ngư nghiệp ............................................................................... 93 3.1.3. Dịch vụ - thương mại ............................................................................................ 94 3.2. Phƣơng hƣớng phát triển các lĩnh vực xã hội và môi trƣờng ...................................... 94 3.2.1. Phát triển nguồn lực .............................................................................................. 94 3.2.2. Phát triển giáo dục – đào tạo ................................................................................. 99 3.2.3. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ...................................................................... 99 3.2.4. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao ....................................................................... 99 3.2.5. Mức sống dân cư, xoá đói giảm nghèo ................................................................... 99 3.2.6. Bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên .................................. 99 4. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN (QUY HOẠCH VÙNG LÃNH THỔ) .................................................................................................... 100 4.1. Quy hoạch phát triển không gian chung (phân bố lãnh thổ) ..................................... 100 4.2. Quy hoạch phát triển sản xuất ................................................................................. 100 4.2.1. Sản xuất trong phát triển kinh tế xã hội ................................................................ 100 4.2.2. Các mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu sản xuất ........................................... 101 4.2.3. Các mối quan hệ sản xuất không gian .................................................................. 102 4.2.4. Quy hoạch cơ cấu và phân bố sản xuất trong vùng .............................................. 103
4
4.3. Quy hoạch phát triển mạng lƣới đô thị và hệ thống điểm dân cƣ nông thôn ............. 105 4.3.1. Cư dân trong phát triển kinh tế xã hội .................................................................. 105 4.3.2. Mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu cư dân .................................................... 106 4.3.3. Phân loại điểm dân cư ......................................................................................... 109 4.3.4. Hệ thống điểm dân cư và chiến lược phát triển đô thị ở Việt Nam ................... 111 4.3.5. Quy hoạch cơ cấu cư dân ..................................................................................... 114 4.4. Luận chứng phƣơng hƣớng phát triển kinh tế - xã hội ............................................. 118 4.4.1. Hạ tầng cơ sở trong phát triển kinh tế - xã hội ..................................................... 118 4.4.2. Mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu hạ tầng ................................................... 119 4.4.3. Cơ cấu và mối quan hệ của hạ tầng cơ sở xã hội .............................................. 120 4.4.4. Quy hoạch cơ cấu hạ tầng cơ sở .......................................................................... 126 4.5. Quy hoạch bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên và cảnh quan.......................................... 131 4.5.1. Sự thống nhất của quy hoạch môi trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ............................................................................................................... 131 4.5.2. Môi trường thiên nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội ....................................... 132 4.5.3. Các mục tiêu và xu hướng khai thác sử dụng môi trường thiên nhiên ................... 133 4.5.4. Quy hoạch môi trường thiên nhiên và cảnh quan ................................................. 134 4.5.5. Bảo vệ môi trường ............................................................................................... 136 4.5.6. Quy hoạch cảnh quan .......................................................................................... 139 4.6. Quy hoạch sử dụng đất ........................................................................................... 142 4.6.1. Quy hoạch đất xây dựng ...................................................................................... 143 4.6.2. Quy hoạch đất không xây dựng ............................................................................ 144 5. LUẬN CHỨNG CÁC CHƢƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN, CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ BƢỚC ĐI TỪNG GIAI ĐOẠN 5 NĂM ............................................... 148 5.1. Xác định bƣớc đi theo giai đoạn 5 năm phát triển kinh tế - xã hội ................................... 148 5.2. Xác định chƣơng trình và dự án đầu tƣ triển khai xây dựng theo từng giai đoạn ...... 149 6. NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU QUY HOẠCH ......................................................................................... 149 6.1. Đề xuất các giải pháp về vốn .................................................................................. 149 6.2. Đề xuất các giải pháp về đảm bảo nguồn nhân lực .................................................. 150 6.3. Đề xuất các giải pháp về chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ mới ............. 151 6.4. Đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách điều hành vĩ mô .................................. 151 6.5. Đề xuất các giải pháp về điều hành và thực hiện quy hoạch .................................... 151
Chƣơng IV GIỚI THIỆU QUY TRÌNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÃ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
1. GIỚI THIỆU QUY TRÌNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM ...................................................................... 152 1.1. Quy trình quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn ............... 152 1.2. Quy trình quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ... 153
5
2. Văn bản hƣớng dẫn lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Bộ Kế hoạch và đầu tƣ ........................................................................................... 156 PHỤ LỤC ................................................................................................................... 158
6
Chƣơng I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 1.1. Tình hình đất nƣớc
Trong 10 năm thực hiện Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vƣợt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt đƣợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nƣớc đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bƣớc vào nhóm nƣớc đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lƣợc 2001 - 2010 đã đƣợc thực hiện, đạt bƣớc phát triển mới cả về lực lƣợng sản xuất, quan hệ sản xuất:
- Kinh tế tăng trƣởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,2%/năm. - Năm 2010, tổng sản phẩm trong nƣớc bình quân đầu ngƣời đạt 1.200 USD. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tích cực. - Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa tiếp tục đƣợc hoàn thiện. - Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Ðời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục đƣợc mở rộng.
- Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh đƣợc giữ vững. - Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đƣợc triển khai sâu rộng và hiệu quả góp phần tạo môi trƣờng hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nƣớc. Diện mạo của đất nƣớc có nhiều thay đổi. Thế và lực của nƣớc ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trƣờng quốc tế đƣợc nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân.
Ðạt đƣợc những thành tựu nêu trên là nhờ phát huy đƣợc sức mạnh toàn dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vƣợt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị dƣới sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng với tiềm năng. Cụ thể: - Kinh tế phát triển chƣa bền vững, chất lƣợng tăng trƣởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chƣa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế.
- Tăng trƣởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm
chuyển sang phát triển theo chiều sâu.
- Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. - Môi trƣờng ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng. - Thể chế kinh tế thị trƣờng, chất lƣợng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nƣớc
7
công nghiệp theo hƣớng hiện đại chƣa đƣợc hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhƣng
nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Cụ thể:
- Tƣ duy phát triển kinh tế - xã hội và phƣơng thức lãnh đạo của Ðảng chậm đổi
mới, chƣa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển đất nƣớc.
- Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nƣớc trên một số lĩnh vực còn bất cập. - Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế. - Tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém, chƣa tạo đƣợc chuyển biến mạnh trong việc giải quyết có hiệu quả những khâu đột phá, then chốt và những vấn đề xã hội bức xúc.
- Quyền làm chủ của nhân dân chƣa đƣợc phát huy đầy đủ. Kỷ luật, kỷ cƣơng chƣa
nghiêm.
- Tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, chƣa đƣợc đẩy lùi. Từ thực tiễn phát triển đất nƣớc và kết quả thực hiện Chiến lƣợc 10 năm qua có thể
rút ra các bài học chủ yếu:
Một là, phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nƣớc.
Hai là, đặc biệt coi trọng chất lƣợng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lƣợng tăng trƣởng.
Ba là, bảo đảm độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trƣờng thuận lợi cho phát triển đất nƣớc. Bốn là, bảo đảm gắn kết chặt chẽ, hiệu quả giữa tăng cƣờng sự lãnh đạo của Ðảng,
nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
1.2. Bối cảnh quốc tế
Nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ chiến lƣợc mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lƣờng. Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhƣng xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, nạn khủng bố có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác nhƣ đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên... buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nƣớc ASEAN bƣớc vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chƣơng ASEAN và xây dựng cộng đồng dựa trên ba trụ cột chính là chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội. Hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. Mặt khác, ASEAN cũng đang phải đối phó với những thách thức. Khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hƣởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên...
8
Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nƣớc càng trở thành phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh và do đó, con ngƣời và tri thức trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bƣớc vào một giai đoạn phát triển mới. Tƣơng quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới. Vị thế của châu Á, nhất là Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bƣớc tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lƣợng, tài nguyên. Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thƣơng mại quốc tế. Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhƣng đà tăng trƣởng trong những năm đầu còn yếu, độ rủi ro và tính bất định còn rất lớn.
Tình hình đất nƣớc và bối cảnh quốc tế nêu trên tạo cho nƣớc ta vị thế mới với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lƣợc tới.
2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 2011 - 2020 2.1. Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lƣợc
Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế. Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng, coi chất lƣợng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ƣu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng trƣởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lƣợng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trƣờng. Nƣớc ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cƣờng quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nƣớc phát triển nhanh và bền vững.
2.2. Ðổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nƣớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
9
Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Ðổi mới trong lĩnh vực chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Ðảng, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Ðảng và trong xã hội gắn với tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng để thúc đẩy đổi mới toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nƣớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Coi việc thực hiện mục tiêu này là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.
2.3. Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con ngƣời, coi con ngƣời là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển
Phải bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân và các điều kiện để mọi ngƣời đƣợc phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nƣớc. Phát huy lợi thế dân số và con ngƣời Việt Nam, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi ngƣời dân, thực hiện công bằng xã hội.
2.4. Phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa
Phải tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Phải tăng cƣờng tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nƣớc. Kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, là lực lƣợng vật chất quan trọng để Nhà nƣớc định hƣớng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trƣờng và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu. Tạo thuận lợi cho kinh tế tƣ nhân phát triển mạnh, trở thành một động lực của nền kinh tế. Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phát triển theo quy hoạch. Tạo môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trƣờng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
2.5. Phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng
10
nền kinh tế độc lập tự chủ. Phải không ngừng tăng cƣờng tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nƣớc để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả. Phát triển lực lƣợng doanh nghiệp trong nƣớc với nhiều thƣơng hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trƣờng trong nƣớc, mở rộng thị trƣờng ngoài nƣớc, góp phần bảo đảm độc lập tự chủ của nền kinh tế. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia.
3. MỤC TIÊU CHIẾN LƢỢC VÀ KHÂU ĐỘT PHÁ
3.1. Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cƣơng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đƣợc nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đƣợc giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trƣờng quốc tế tiếp tục đƣợc nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
3.2. Mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trƣờng
a) Về kinh tế
Phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trƣờng, phát triển kinh tế xanh. Chuyển đổi mô hình tăng trƣởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lƣợng, hiệu quả. Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lƣợc thị trƣờng; tăng nhanh hàm lƣợng nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) bình quân 7 - 8%/năm. GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010. GDP bình quân đầu ngƣời theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 - 3.200 USD.
Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bƣớc phát triển theo hƣớng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30% lao động xã hội.
Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trƣởng đạt ít nhất 35%; giảm tiêu hao năng lƣợng tính trên GDP 2,5 - 3%/năm. Thực hành tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực.
Kết cấu hạ tầng tƣơng đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại. Tỷ lệ đô thị hóa
đạt trên 45%. Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%. b) Về văn hóa, xã hội
11
Xây dựng xã hội đồng thuận, dân chủ, kỷ cƣơng, công bằng, văn minh. Ðến năm 2020, chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức 1,1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ và 26 giƣờng bệnh trên một vạn dân(1), thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2 - 3%/năm; phúc lợi, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng đƣợc bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cƣ gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cƣ. Xóa nhà ở đơn sơ, tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng/ngƣời.
Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Ðến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình tiến bộ, hạnh phúc; con ngƣời phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật. c) Về môi trường
Cải thiện chất lƣợng môi trƣờng. Ðến năm 2020, đƣa tỷ lệ che phủ rừng lên 45%. Hầu hết dân cƣ thành thị và nông thôn đƣợc sử dụng nƣớc sạch và hợp vệ sinh. 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trƣờng. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thƣờng, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế đƣợc xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trƣờng các khu vực bị ô nhiễm nặng. Hạn chế tác hại của thiên tai. Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nƣớc biển dâng.
3.3. Các đột phá chiến lƣợc
(1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là
tạo lập môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính.
(2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tập trung
vào việc đổi mới toàn diện nền giáo dục quốc dân.
(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập
trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.
4. ÐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN, ÐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƢỞNG, CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ
4.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng, ổn định kinh tế vĩ mô.
12
Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Ðổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế theo cơ chế thị trƣờng, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội. Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp, đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính, tiền tệ nhằm nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế.
Chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; phân phối các lợi ích ngày càng công bằng. Tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ ngƣời tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lƣơng, tiền công. Thực hiện cân đối ngân sách tích cực, bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tƣ phát triển; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nƣớc. Quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nƣớc ngoài; giữ mức nợ Chính phủ và nợ quốc gia trong giới hạn an toàn. Tăng cƣờng vai trò giám sát ngân sách của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
Chính sách tiền tệ phải chủ động và linh hoạt thúc đẩy tăng trƣởng bền vững, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng. Mở rộng các hình thức thanh toán qua ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt. Ðiều hành chính sách lãi suất, tỷ giá linh hoạt theo nguyên tắc thị trƣờng. Ðổi mới chính sách quản lý ngoại hối, từng bƣớc mở rộng phạm vi các giao dịch vốn, tiến tới xóa bỏ tình trạng sử dụng ngoại tệ làm phƣơng tiện thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam. Tăng cƣờng vai trò của Ngân hàng Nhà nƣớc trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa. Kiện toàn công tác thanh tra, giám sát hoạt động tài chính, tiền tệ.
Tôn trọng quyền tự do kinh doanh và bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nƣớc, nhất là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nƣớc giữ vai trò chi phối; phân định rõ quyền sở hữu của Nhà nƣớc và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nƣớc trong các doanh nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tập thể phát triển đa dạng, mở rộng quy mô; có cơ chế, chính sách hợp lý trợ giúp các tổ chức kinh tế hợp tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, mở rộng thị trƣờng, ứng dụng công nghệ mới, tiếp cận vốn. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần. Phát triển mạnh kinh tế tƣ nhân. Thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trƣờng và tăng cƣờng sự liên kết với các doanh nghiệp trong nƣớc.
Thực hiện Chƣơng trình quốc gia về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp. Hỗ trợ phát triển mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trƣờng. Phát triển doanh nhân về số lƣợng và năng lực quản lý, có đạo đức và trách nhiệm xã hội. Tăng cƣờng sự gắn bó mật thiết giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động.
13
Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trƣờng. Phát triển thị trƣờng hàng hóa, dịch vụ theo hƣớng tự do hóa thƣơng mại và đầu tƣ. Phát triển thị trƣờng tài chính với cơ cấu hoàn chỉnh, quy mô tăng nhanh, phạm vi hoạt động mở rộng, vận hành an toàn, đƣợc quản lý và giám sát hiệu quả. Phát triển và kiểm soát có hiệu quả thị trƣờng chứng khoán. Phát triển lành mạnh thị trƣờng bất động sản, bổ sung hoàn chỉnh luật pháp, chính sách về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển hóa đất đai thành nguồn lực quan trọng và có hiệu quả cho sự phát triển, bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nƣớc, của ngƣời giao lại quyền sử dụng đất và của nhà đầu tƣ. Khắc phục tình trạng sử dụng lãng phí và tham nhũng đất công. Phát triển thị trƣờng lao động, khuyến khích các hình thức giao dịch việc làm. Phát triển nhanh thị trƣờng khoa học, công nghệ; khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trƣờng.
4.2. Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hƣớng hiện đại, nâng cao chất lƣợng, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nƣớc công nghiệp
Cơ cấu lại sản xuất công nghiệp cả về ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới. Tăng hàm lƣợng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm. Phát triển có chọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lƣợng, khai khoáng, luyện kim, hóa chất, công nghiệp quốc phòng. Ƣu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp dƣợc... Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ. Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lƣợng sạch và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lƣợng, nguyên liệu. Từng bƣớc phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trƣờng. Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao; hoàn thành việc xây dựng các khu công nghệ cao và triển khai xây dựng một số khu nghiên cứu cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ. Thực hiện phân bố công nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ để bảo đảm phát triển cân đối, hiệu quả giữa các vùng.
Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Nhanh chóng tiếp cận và làm chủ các công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp đáp ứng yêu cầu xây dựng trong nƣớc và đấu thầu quốc tế. Phát triển mạnh công nghiệp vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu chất lƣợng cao.
4.3. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hƣớng hiện đại, hiệu quả, bền vững
Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lƣợng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao. Tăng nhanh sản lƣợng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập, đời sống nông dân, bảo đảm vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia. Xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với từng loại cây, con. Khuyến khích tập trung ruộng đất; phát triển gia trại, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng. Gắn kết chặt chẽ, hài
14
hòa lợi ích giữa ngƣời sản xuất, ngƣời chế biến và ngƣời tiêu thụ, giữa việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới. Ðổi mới cơ bản phƣơng thức tổ chức kinh doanh nông sản, trƣớc hết là kinh doanh lúa gạo; bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý trong từng công đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng. Phát triển hệ thống kho chứa nông sản, góp phần điều tiết cung cầu. Tiếp tục đổi mới, xây dựng mô hình tổ chức để phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với cơ chế thị trƣờng. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác đi đôi với việc bảo đảm lợi ích của ngƣời trồng lúa và địa phƣơng trồng lúa. Bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ và giống phù hợp với nhu cầu thị trƣờng và giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Ðẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ƣu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lƣợng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn vị đất canh tác. Hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao. Ðẩy mạnh chăn nuôi theo phƣơng thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm chất lƣợng và an toàn dịch bệnh.
Phát triển lâm nghiệp bền vững. Quy hoạch rõ ràng và có chính sách phát triển phù hợp các loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng với chất lƣợng rừng đƣợc nâng cao. Nhà nƣớc đầu tƣ và có chính sách đồng bộ để quản lý và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đồng thời bảo đảm cho ngƣời nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng có cuộc sống ổn định. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tƣ trồng rừng sản xuất; gắn trồng rừng nguyên liệu với công nghiệp chế biến ngay từ trong quy hoạch và dự án đầu tƣ; lấy nguồn thu từ rừng để phát triển rừng và làm giàu từ rừng.
Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi hải sản, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trƣờng biển. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, có giá trị cao; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và chế biến, nâng cao năng suất, chất lƣợng, sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng ngành thủy sản Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
5. VẤN ĐỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
5.1. Tình hình chung
Ngay từ những năm 1970, Nhà nƣớc ta đã chú trọng và quan tâm đầu tƣ cho các hoạt động nghiên cứu, điều tra đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng đất theo các vùng kinh tế - sinh thái.
Từ cuối những năm 80 đến nay, Nhà nƣớc đã tiến hành xây dựng các quy hoạch tổng phát triển kinh tế - xã hội cho 8 vùng kinh tế - sinh thái lớn trên địa bàn cả nƣớc và quy hoạch phát triển kinh tế cho 3 vùng trọng điểm phát triển kinh tế là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dƣơng - Bà Rịa - Vũng Tàu.
15
Tiếp theo đó, các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của 61 tỉnh thành phố trên địa bàn cả nƣớc đã và đang đƣợc xây dựng. Một số huyện cũng đã đƣợc tiến hành xây dựng các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện.
Ngoài ra, nhiều ngành kinh tế cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành
(công, nông, lâm, ngƣ nghiệp, thủy lợi, bƣu chính viễn thông, giao thông vận tải ...).
Trong những năm vừa qua, căn cứ vào chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, các ngành, các tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch các địa phƣơng. Đến nay, đã xây dựng đƣợc 34 dự án quy hoạch ngành, 56 dự án quy hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và 12 dự án quy hoạch vùng kinh tế lớn, vùng kinh tế trọng điểm và kinh tế biển. Các dự án quy hoạch đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển trên phạm vi cả nƣớc. Song, các dự án quy hoạch còn bộc lộ nhiều thiếu sót, đặc biệt là việc xử lý liên ngành, liên vùng và luận chứng các phƣơng án, các điều kiện thực hiện quy hoạch chƣa đƣợc chỉ rõ. Quy hoạch về tổ chức lãnh thổ ở nhiều nơi còn xảy ra tình trạng chồng chéo, không ăn khớp, thậm chí có trƣờng hợp gây lãng phí lớn cho nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao chất lƣợng công tác quy hoạch.
Thực hiện quy trình công tác kế hoạch hóa bắt đầu từ chiến lƣợc đến quy hoạch, rồi cụ thể hóa bằng các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Quy hoạch phát triển phải căn cứ vào chiến lƣợc, cụ thể hóa chiến lƣợc, còn kế hoạch phải căn cứ vào quy hoạch và cụ thể hóa nội dung cũng nhƣ bƣớc đi của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Quy hoạch ngành và quy hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng phải căn cứ vào chiến lƣợc và định hƣớng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội phải đƣợc làm trƣớc, tất cả các quy hoạch chi tiết nhƣ quy hoạch xây dựng hay quy hoạch mặt bằng, quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi, quy hoạch khu công nghiệp ... phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội.
Những vấn đề lý luận về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam đã có bƣớc phát triển, nhƣng còn nhiều vấn đề chƣa rõ. Các cơ quan chuyên trách đang gặp nhiều vƣớng mắt, lúng túng trƣớc thực tế đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội dài hạn.
5.2. Về kế hoạch hóa
Chỉ thị 32/1998/CT-TTg ngày 23 tháng 9 năm 1998 của Thủ tƣớng Chính phủ đã xác định, kế hoạch hóa ứng dụng ở Việt Nam hiện nay gồm các khâu: Chiến lƣợc - Quy hoạch - Kế hoạch. Tức là bắt đầu từ khâu chiến lƣợc đến khâu quy hoạch rồi cuối cùng là khâu kế hoạch. Đây là quy trình kế hoạch hóa mà lâu nay các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách vẫn thƣờng nói và viết trong các văn bản có tính chất pháp quy của nƣớc ta. Thông thƣờng, chiến lƣợc phát triển quốc gia đƣợc nghiên cứu định hƣớng cho 10 năm và nó thƣờng đƣợc tiến hành xây dựng vào những năm đầu thập niên mà chiến lƣợc bao quát (Ví dụ: chiến lƣợc 1991- 2000 đƣợc xây dựng vào năm 1990, chiến lƣợc 2001 - 2010 đƣợc xây dựng vào năm 2000). Chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc đƣợc thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc. Thực tế cho thấy, quá trình các cơ quan Trung ƣơng tiến hành nghiên cứu xây dựng chiến lƣợc quốc gia thì các ngành và các tỉnh
16
thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi là các tỉnh) cũng xây dựng quy hoạch để có luận cứ xây dựng các văn kiện này, định hƣớng phát triển cho 5 năm phù hợp với nhiệm kỳ Đại hội. Về lý luận, chúng ta vẫn hiểu là từ chiến lƣợc rồi mới tiến hành quy hoạch. Trong thực tiễn, đối với các tỉnh thì việc xây dựng quy hoạch tỉnh đƣợc tiến hành song song với việc xây dựng chiến lƣợc quốc gia.
Chiến lƣợc - Quy hoạch - Kế hoạch đƣợc các ngành và các tỉnh thực hiện ra sao? Thực tế cho thấy trên bình diện vĩ mô cả nƣớc, các Bộ ngành tiến hành xây dựng quy hoạch ngành trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Đối với các tỉnh, thành phố, trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc và quy hoạch của các ngành tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ hành chính của mình.
Thực tế, khi tổ chức thực hiện các khâu chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch cũng gặp nhiều lúng túng. Việc xây dựng, thẩm định và thực hiện các chƣơng trình đầu tƣ trong các kế hoạch 5 năm cũng nhƣ kế hoạch hàng năm chƣa có đƣợc sự ăn khớp theo yêu cầu của cả chiến lƣợc và quy hoạch. Thực tiễn chỉ rõ rằng, các quy hoạch, kế hoạch 5 năm cần đƣợc cụ thể hóa bằng các chƣơng trình đầu tƣ và cần đƣợc thể chế hóa bằng các chính sách mới dẫn tới thành công.
Trƣớc tình hình nhƣ vậy, phải chăng đã đến lúc những ngƣời làm công tác kế hoạch hóa cần suy nghĩ tới một vấn đề là làm sao để kế hoạch hóa chiến lƣợc - quy hoạch - kế hoạch có đƣợc ý nghĩa thiết thực. Phải có cách tiếp cận vừa tuần tự theo quy định, nhƣng cũng phải có sự linh hoạt, nhạy bén phù hợp với đòi hỏi của mỗi thời kỳ phát triển. Trƣớc tiên, cần khẳng định là phải có chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc. Trên cơ sở chiến lƣợc này, các ngành lập quy hoạch của ngành mình ở cấp quốc gia và cụ thể hóa các nội dung quy hoạch ngành trên các vùng lãnh thổ. Các tỉnh căn cứ chiến lƣợc cả nƣớc, quy hoạch phát triển ngành mà tỉnh xây dựng các phƣơng án kiến thiết lãnh thổ của tỉnh. Việc tổ chức tốt công tác quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích xã hội. Để đảm bảo kế hoạch hóa đem lại hiệu quả, phải kiên quyết và nhanh chóng thực hiện phƣơng châm là trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc đã đƣợc Đại hội Đảng thông qua, các Bộ ngành cần tiến hành quy hoạch hoặc rà soát lại quy hoạch của ngành mình cho phù hợp với chiến lƣợc rồi thông báo cho các tỉnh. Các tỉnh, thành phố tiến hành quy hoạch hoặc rà soát quy hoạch cho phù hợp với chiến lƣợc cả nƣớc và quy hoạch ngành đã đƣợc điều chỉnh.
Quan niệm về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng cần phải làm rõ thêm trong tình hình mới và vấn đề này cũng đang có nhiều ý kiến. Nhiều học giả cho rằng, thực chất quan niệm “quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội” rất tƣơng đồng với quan niệm “kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn”. Nhóm học giả này cho rằng, xét theo góc độ hành vi công tác kế hoạch hóa, có kế hoạch hóa theo ngành và kế hoạch hóa theo lãnh thổ. Thực hiện kế hoạch hóa tức là làm cho các ngành và các lãnh thổ phát triển có kế hoạch. Ở Việt Nam, trong những năm qua chúng ta sử dụng rất thịnh hành khái niệm “quy hoạch” và công tác quy hoạch đã đƣợc triển khai rất mạnh trên phạm vi cả nƣớc. Các Bộ và cơ quan ngang Bộ triển khai quy hoạch ngành. Các tỉnh, thành phố trực
17
thuộc Trung ƣơng triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cho lãnh thổ hành chính của mình.
Xem xét thực tế thấy rằng, nội hàm của khái niệm “quy hoạch” chứa đựng cả nội dung dự báo phát triển (dự báo các phƣơng án phát triển ngành) và tổ chức lãnh thổ (dự báo các phƣơng án kiến thiết lãnh thổ) cho thời gian dài hạn. Tuy trong các văn bản (xét trên các văn kiện hoặc trên các tƣ liệu có liên quan), chúng ta chƣa sử dụng thuật ngữ kế hoạch dài hạn cũng nhƣ chƣa triển khai là kế hoạch dài hạn nhƣng xem ra những dự án quy hoạch đáp ứng cả yêu cầu kế hoạch phát triển ngành và phát triển lãnh thổ dài hạn. Ủng hộ quan điểm này, cho thấy cần nhấn mạnh một điểm rằng quy hoạch đòi hỏi nhiều hơn về mặt bố trí lãnh thổ hay tổ chức lãnh thổ. Các nhà quy hoạch thống nhất rằng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chính là lựa chọn phƣơng án hợp lý phát triển và tổ chức không gian các đối tƣợng, các hoạt động kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định. Nói đến quy hoạch ngành hay quy hoạch lãnh thổ là nói đến việc tìm phƣơng án phát triển cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên nguyên tắc kết hợp chặt chẽ phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ, giải quyết tốt mối quan hệ liên ngành và mối quan hệ liên vùng cho mỗi vùng lãnh thổ.
5.3. Về nội dung và phƣơng pháp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đã có đóng góp đáng kể vào sự phát triển và tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam. Trên phạm vi cả nƣớc, nhờ công tác quy hoạch đã hình thành hàng chục vùng trồng cây chuyên môn hóa, hàng chục khu công nghiệp tập trung, hàng chục điểm đô thị mới, rất nhiều cảng biển, tuyến đƣờng có tốc độ cao, nhiều công trình thủy điện… Tuy nhiên, trƣớc đòi hỏi của cuộc sống đầy sinh động và biến đổi không ngừng, công tác quy hoạch phát triển tỏ ra còn nhiều hạn chế. Thực tế cho thấy, nội dung và phƣơng pháp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội theo những tài liệu hƣớng dẫn đã công bố của các ngành chức năng đã bộc lộ một số điểm không thật thích hợp và bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế. Dƣới đây, xin nêu lên một số điểm nhƣ sau:
- Các chỉ tiêu hiện vật trong các trong các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội còn hơi nhiều và quá cụ thể, cứng nhắc. Trong thực tế và bối cảnh của kinh tế thị trƣờng, việc lựa chọn sự phát triển về quy mô, chất lƣợng, mẫu mã của ngành sản phẩm do thị trƣờng và các doanh nghiệp quyết định. Nếu trong các dự án quy hoạch phát triển, các nhà quy hoạch “chốt cứng” những thứ mà đáng ra thị trƣờng và doanh nghiệp phải làm sẽ dẫn tới tình trạng là xơ cứng toàn bộ các hoạt động của hệ thống kinh tế. Phải chăng, hệ thống chỉ tiêu trong các dự án quy hoạch TTKTXH chỉ có tính chất định hƣớng. Vậy chúng là những chỉ tiêu gì? Một điều chắc chắn rằng các chỉ tiêu phải phản ánh thỏa mãn mục đích của dự án quy hoạch. Chúng là các chỉ tiêu giá trị mang tính tổng hợp những chỉ tiêu hiện vật mang tính định hƣớng cho các doanh nghiệp.
- Vấn đề lƣợng hóa trong xử lý tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chƣa rõ và chƣa làm đƣợc bao nhiêu. Nổi bật là việc xử lý tổng hợp về cơ cấu kinh
18
tế mới dừng lại ở xử lý quan hệ tỷ lệ về mặt lƣợng giữa 3 khu vực kinh tế công nghiệp – xây dựng, nông lâm ngƣ nghiệp và dịch vụ chứ chƣa xem xét đƣợc quan hệ giữa các bộ phận cấu thành ngay trong mỗi khu vực để có đƣợc sự phát triển hài hòa và bền vững. Nói về xử lý liên ngành, liên vùng thì dễ đồng tình, nhƣng xử lý thế nào và bằng hệ thống chi tiêu nào thì chƣa rõ. Liệu có nên xử lý theo các cặp hay nhóm ngành? Để khẳng định cơ cấu kinh tế đƣợc lựa chọn cho tƣơng lai ƣu điểm hơn các cấu hình kinh tế hay hiện tại nên sử dụng những chỉ tiêu gì? Trong quá trình xử lý tổng hợp các tài nguyên có ý nghĩa liên ngành, sức chứa của lãnh thổ cũng nhƣ vấn đề môi trƣờng cần đƣợc quan tâm đặc biệt. Chúng phải đƣợc xem xét trên nguyên tắc hiệu quả cho toàn bộ hệ thống chứ không chỉ cho một hay vài phân hệ.
- Khi nghiên cứu về cơ cấu kinh tế, chƣa đề cập việc nghiên cứu các sản phẩm chủ lực (chúng là những thành phần cơ bản đóng góp vào tăng trƣởng và phát triển kinh tế). Do đó, trong các luận chứng phát triển chƣa lƣợng hóa, chƣa tính toán, chƣa thể hiện đƣợc các khả năng cạnh tranh và hiệu quả của cơ cấu kinh tế, chƣa thể hiện đƣợc “sức sống” của nền kinh tế. Cái đƣợc và cái giá phải trả cho cơ cấu kinh tế lựa chọn cũng chƣa đƣợc tính toán cụ thể.
- Việc xác định hƣớng phát triển các ngành, lĩnh vực còn tƣơng đối tách rời nhau và chƣa thật ăn nhập với cơ cấu kinh tế dự kiến. Việc làm nhƣ thế nào để chúng liên kết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, không cản trở nhau còn chƣa rõ.
- Trong các giải pháp để thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, có hai giải pháp quan trọng là huy động vốn và phát triển nguồn nhân lực. Tuy đã đƣợc chú ý thể hiện trong các dự án quy hoạch, nhƣng còn khiếm khuyết:
+ Đối với giải pháp huy động vốn đầu tƣ: một khi tính toán đƣợc đúng nhu cầu đầu tƣ cho cái gì thì việc huy động vốn mới thực thi tốt đƣợc. Trƣớc đây, khi tính toán nhu cầu đầu tƣ chƣa xem xét một cách đầy đủ các yếu tố quyết định đối với phần GDP tăng thêm trong thời kỳ quy hoạch. Chúng ta biết rằng, phần GDP tăng thêm trong thời kỳ quy hoạch do ba nhân tố chủ yếu quyết định:
Một là, do dầu tƣ từ trƣớc, những cơ sở đƣợc đầu tƣ xây dựng chƣa phát huy hết công suất mà trong thời kỳ quy hoạch nó không cần đầu tƣ hoặc cần rất ít đầu tƣ, nếu có điều kiện nó sẽ tạo ra thêm GDP.
Hai là, do cơ chế chính sách đã ban hành trƣớc thời kỳ quy hoạch sẽ tiếp tục tác động phát huy tạo GDP trong thời kỳ quy hoạch, cũng nhƣ các cơ chế chính sách sẽ ban hành mới trong thời kỳ quy hoạch sẽ có tác dụng tái tạo thêm GDP.
Ba là, phần GDP do đầu tƣ mới tạo ra. Những vấn đề này từ trƣớc đến nay trong
các quy hoạch chƣa đƣợc tính toán kỹ.
+ Đối với giải pháp nguồn nhân lực: trong các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cũng đã chú ý đến vấn đề này và tính đƣợc nhu cầu đào tạo cho các loại trình độ từ công nhân kỹ thuật đến đại học và trên đại học. Đây mới chỉ là một mặt của giải pháp. Mặt khác, việc làm rõ cơ cấu nguồn nhân lực theo các loại nhân lực nhƣ những ngƣời thực hiện quyết định (chủ yếu là đội ngũ các giám đốc, công nhân kỹ thuật, lãnh đạo và chủ nhiệm của các đơn vị kinh tế hợp tác…) thì việc đề cập đến các giải pháp còn chƣa tính toán kỹ, chƣa thấy đƣợc lĩnh vực, địa bàn nào thiếu những loại lao động nào để
19
có giải pháp bổ sung; lĩnh vực, địa bàn nào cần có giải pháp đào tạo lại. Giải pháp về cơ chế, chính sách vẫn còn chung chung. Đây là giải pháp “vàng” nhƣng các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chƣa làm đƣợc nhiều.
Từ tất cả các vấn đề nêu trên, đặt ra yêu cầu cần phải cải tiến công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ (vùng, tỉnh, thành phố) cả về lý luận lẫn nội dung, phƣơng pháp quy hoạch trong tình hình mới.
Hiện nay, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội ở nƣớc ta, đang tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:
- Cơ sở khoa học của việc phân vùng là xác định hợp lý các vùng và tiểu vùng,
không lệ thuộc vào địa giới hành chính.
- Phối hợp giữa các vùng, giải quyết mối quan hệ liên vùng và các yếu tố đối với
sự phát triển các vùng.
- Luận chứng sâu sắc hơn các phƣơng án phát triển của các vùng, tiểu vùng và
khu vực quan trọng.
- Luận chứng và tìm các giải pháp tạo nhanh các cực tuyến hành lang phát triển
nhằm tăng cƣờng các mối liên hệ vùng và quốc tế.
- Bố trí đúng các trọng điểm đầu tƣ, chú trọng sự phân bố và bƣớc đi trong việc
xây dựng các khu công nghiệp, các công trình hạ tầng quan trọng.
- Luận chứng và các giải pháp để từng bƣớc giải quyết vấn đề chênh lệch vùng,
xử lý mối quan hệ giữa các vùng chậm phát triển có nhiều khó khăn.
- Nghiên cứu và thể chế hóa công tác quản lý phát triển vùng cùng các biện
pháp khác để tăng cƣờng tính thực thi của các quy hoạch, đƣa quy hoạch vào cuộc sống.
6. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
6.1. Đối tƣợng nghiên cứu của môn học
Trải qua thực tiễn quá trình phát triển và đổi mới, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của quy hoạch phát triển trong kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, hƣớng tới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Đây là một yêu cầu cần phải đƣợc nghiên cứu sâu về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Đối tƣợng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là các ngành, lĩnh vực (bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, thƣơng mại, du lịch, mạng lƣới giao thông, mạng lƣới thông tin liên lạc, thủy lợi, mạng lƣới cung cấp điện, mạng lƣới cung cấp nƣớc…), lãnh thổ (bao gồm vùng lớn, lãnh thổ đặc biệt, vùng và thành phố trực thuộc Trung ƣơng…) và toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia.
Môn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một môn học lý luận quản lý ứng dụng. Nó nghiên cứu các vấn đề lý luận, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp cụ thể về xây dựng, điều hành, quản lý hệ thống quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng. Đối tƣợng nghiên cứu của môn học tập trung vào:
- Phân tích các yếu tố nguồn lực, ảnh hƣởng của nó đến sự phát triển nền kinh tế
quốc dân, trên cơ sở đó dự báo tiềm năng phát triển.
20
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nằm trong hệ thống kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô, tập trung giải quyết các chiến lƣợc phát triển. Tạo lập những công cụ định hƣớng chính sách, thể chế có tác dụng khuyến khích thúc đẩy phát triển nền kinh tế theo đúng hƣớng đã định trƣớc. Xử lý mối quan hệ phát triển kinh tế ngành, lĩnh vực với việc tổ chức lãnh thổ hợp lý.
6.2. Nội dung nghiên cứu
Môn học tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: - Cơ sở lý luận và phƣơng pháp của quy hoạch phát triển, bao gồm các lập luận về cơ sở tồn tại của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trƣờng; các quan điểm, đặc điểm, yêu cầu, nguyên tắc và các phƣơng pháp tiếp cận của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; sự phân loại hệ thống quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành.
- Nội dung và phƣơng pháp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ bao gồm phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố nguồn lực chủ yếu tác động đến sự phát triển kinh tế; xác định mục tiêu và khả năng phát triển cơ cấu kinh tế chủ yếu gồm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; luận chứng quy hoạch phát triển không gian lãnh thổ nhƣ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và khu dân cƣ nông thôn, quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng, quy hoạch tiểu vùng sản xuất.
- Nội dung và phƣơng pháp quy hoạch phát triển ngành và lĩnh vực bao gồm quy hoạch ngành sản xuất kinh doanh, quy hoạch sản phẩm chủ lực, luận chứng quy hoạch phát triển các lĩnh vực xã hội, môi trƣờng chủ yếu nhƣ giáo dục, y tế, văn hóa, đời sống dân cƣ, bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững.
- Nghiên cứu ứng dụng một số quy trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội lãnh thổ và quy hoạch phát triển ngành.
6.3. Phƣơng pháp nghiên cứu môn học
Để thực hiện yêu cầu của đối tƣợng và nội dung nghiên cứu, môn học dựa trên sự kết hợp của ba hệ thống lý luận quan trọng: các nguyên lý cơ bản của hệ thống lý luận Mác – Lênin; lý thuyết của nền kinh tế thị trƣờng và lý luận về kinh tế học phát triển. Sự kết hợp trên là cơ sở hình thành một cách khoa học các vấn đề lý luận và phƣơng pháp luận của quy hoạch phát triển áp dụng cho Việt Nam hiện nay. Đồng thời, môn học sử dụng tổng hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ phƣơng pháp duy vật biện chứng, phƣơng pháp hệ thống, phân tích – tổng hợp, so sánh, thống kê, phƣơng pháp toán…
Nghiên cứu môn học quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi ngƣời học phải đƣợc trang bị kiến thức của các môn học nhƣ kinh tế chính trị Mác – Lênin, triết học, kinh tế vĩ mô, quy hoạch phát triển, khoa học quản lý, dự báo. Đặc biệt, khi học phải biết tận dụng, so sánh với các vấn đề có liên quan trực tiếp nhƣ chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, các chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Về phƣơng pháp tiếp cận, quy hoạch mang tính luận chứng, tính thiết kế chỉ ở mức độ cần thiết. Tức là trên cơ sở điều tra, phân tích, hệ thống hóa, luận giải để tính
21
toán, so sánh và lựa chọn. Đi từ tổng quát đến cụ thể và ngƣợc lại. Tính phù hợp đƣợc xem xét cả về mặt không gian và thời gian.
22
Chƣơng II CƠ SỞ LÝ LUẬN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI
1.1. Hệ thống kế hoạch hóa phát triển 1.1.1. Quy trình kế hoạch hóa nền kinh tế
Hệ thống kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trƣờng nếu phân chia theo góc độ nội dung, thì nó là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau của các bộ phận cấu thành, bao gồm từ Chiến lƣợc phát triển, Quy hoạch phát triển, Kế hoạch phát triển, Chƣơng trình phát triển và Dự án phát triển. a. Chiến lược phát triển
Chiến lƣợc phát triển là hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn về quan điểm, mục tiêu tổng quát định hƣớng phát triển các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản, trong đó bao gồm các chính sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra trong một khoảng thời gian dài.
Nhƣ vậy, mục tiêu xây dựng các chiến lƣợc phát triển là đạt tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dài hơn và tìm ra hƣớng đi tối ƣu cho quá trình phát triển. Xây dựng và quản lý bằng chiến lƣợc phát triển là một yêu cầu bức thiết đặt ra và có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi quốc gia trong nền kinh tế thị trƣờng với không gian kinh tế đƣợc mở rộng đến mức không phân biệt biên giới.
Chức năng chủ yếu của chiến lƣợc là định hƣớng, vạch ra các đƣờng hƣớng chủ yếu cho sự phát triển của đất nƣớc trong thời gian dài. Vì vậy, chiến lƣợc sẽ mang tính chất định tính là chủ yếu (ví dụ nhƣ là các quan điểm, phƣơng hƣớng, chính sách…). Tuy nhiên, chiến lƣợc cũng phải có tính định lƣợng ở một mức độ cần thiết. Để định hƣớng chiến lƣợc, cần phải làm tốt cả mặt định tính cũng nhƣ mặt định lƣợng, tức là có cả các tính toán, các dự báo, các luận chứng cụ thể. Trên thế giới, nhiều nƣớc đã đƣa ra các chiến lƣợc phát triển dài hạn theo quan niệm về một chiến lƣợc định hƣớng, chiến lƣợc “mềm” (linh hoạt) có thể hiệu chỉnh trong từng bƣớc đi cho phù hợp với những biến đổi của cuộc sống đất nƣớc và hoàn cảnh quốc tế.
Về thời gian của chiến lƣợc, các nƣớc lựa chọn trong khoảng 10 đến 20 và 25 năm. Thông thƣờng là xây dựng chiến lƣợc cho 10 năm, nhƣng cũng cần phải có các chiến lƣợc “dài hơi” hơn để thuận lợi cho việc bố trí chiến lƣợc 10 năm. Các chiến lƣợc 20, 25 năm còn gọi là “tầm nhìn”. “Tầm nhìn” có nội dung tổng quát hơn, mềm hơn, định tính hơn so với chiến lƣợc. Điều quan trọng là phải thống nhất “tầm nhìn” với chiến lƣợc sao cho những bƣớc đi trƣớc “thuận” và tạo tiền đề cho bƣớc đi sau, đồng thời có khả năng để hiệu chỉnh. Về mặt nội dung, các câu hỏi chủ yếu cần giải đáp trong một bản chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội là: chúng ta đang đứng ở đâu? Muốn đi đến đâu? Đi bằng cách nào? Và làm thế nào biết đƣợc đã đi đến đó?
Nhƣ vậy, có thể xác định các bộ phận cấu thành của chiến lƣợc bao gồm:
23
- Thứ nhất, nhận dạng thực trạng: quá trình nhận dạng thực trạng phải đƣợc đánh giá toàn diện và trong một khoảng thời gian dài tƣơng ứng với thời gian của chiến lƣợc sẽ xây dựng. Nó là cơ sở để rút ra các kết luận đúng đắn cho câu hỏi “Chúng ta đang đứng ở đâu?”.
- Thứ hai, các quan điểm phát triển: đó là những tƣ tƣởng chủ đạo thể hiện tính định hƣớng của chiến lƣợc. Việc xác định các quan điểm chủ đạo có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các bƣớc ngoặt của con đƣờng phát triển, nó tạo động lực cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của đất nƣớc.
- Thứ ba, các mục tiêu phát triển đặt ra các mức phấn đấu phải đạt đƣợc sau một thời kỳ chiến lƣợc: các mục tiêu của chiến lƣợc là các mục tiêu tổng quát, chủ yếu tập trung vào các vấn đề nâng cao đời sống xã hội của các tầng lớp dân cƣ, thay đổi bộ mặt đất nƣớc, tạo thế vững chắc cho đất nƣớc, phản ánh đƣợc những biến đổi quan trọng của nền kinh tế. Các mục tiêu kể cả định tính và định lƣợng phải xây dựng một cách cụ thể, chi tiết, vững chắc, hiện thực và cơ động mềm dẻo.
- Thứ tư, hệ thống các chính sách và biện pháp: đây là thể hiện sự hƣớng dẫn về cách thức thực hiện các mục tiêu đề ra. Nó bao gồm các chính sách về bồi dƣỡng, khai thác, huy động, phân bố và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triển. Các giải pháp chính là thể hiện tính “đột phá” của chiến lƣợc.
Các bộ phận cấu thành của chiến lƣợc phát triển tổng thể kinh tế - xã hội thƣờng sẽ đƣợc cụ thể bằng các chiến lƣợc phát triển ngành, vùng và các lĩnh vực chủ yếu của kinh tế - xã hội đất nƣớc.
Nhƣ vậy, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội là “Hệ thống các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội quốc gia ở tầm tổng thể, toàn cục, cơ bản và dài hạn. Nó phản ánh hệ thống quan điểm, mục tiêu phát triển cơ bản, phương thức và các giải pháp lớn về phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ dài của đất nước”. Chiến lƣợc đƣợc xem nhƣ là một công cụ nhằm tác động đến bản chất của quá trình phát triển của một hệ thống kinh tế - xã hội. Chiến lƣợc phải có tác dụng làm thay đổi hệ thống kinh tế - xã hội, từ những thay đổi về lƣợng đƣa đến thay đổi quan trọng về chất của hệ thống. Đó là sự thay đổi về mục tiêu, cơ cấu gắn liền với cơ chế hoạt động của hệ thống kinh tế - xã hội. Những thay đổi này tạo cho hệ thống kinh tế - xã hội có đƣợc những tính chất mới. Sự thay đổi của hệ thống kinh tế - xã hội quốc gia nói chung không thể diễn tả trong một thời gian ngắn mà đòi hỏi phải có một thời gian tƣơng đối dài, khoảng một vài thập kỷ tùy theo những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Một hệ thống kinh tế nhỏ hơn nhƣ một ngành, một vùng lãnh thổ cũng có những biến đổi tƣơng tự, nhƣng ở một phạm vi hẹp hơn, thời gian có thể ngắn hơn. Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của thế giới ngày nay, rất khó dự báo đầy đủ và chính xác những biến động phức tạp về bối cảnh quốc tế và trong nƣớc, nên những căn cứ cho nghiên cứu chiến lƣợc khó có thể “hoàn hảo” nhƣ mong muốn.
Qua các điều nêu ở trên, có thể nhận thấy có ba đặc trƣng chủ yếu của chiến lƣợc
mang tầm quốc gia là:
- Cho một tầm nhìn dài hạn nói chung là 10 năm trở lên, chứ không phải là những
mục tiêu, giải pháp cụ thể, ngắn hạn.
24
- Làm cơ sở cho những hoạch định (bao gồm cả kế hoạch) phát triển toàn diện, cụ
thể trong tầm trung hạn và ngắn hạn.
- Mang tính khách quan, có căn cứ khoa học, chứ không chỉ dựa vào mong muốn
chủ quan của những ngƣời trong cuộc.
Xuất phát từ những vấn đề ở trên, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu là ở tầm quốc gia, đƣợc hiểu nhƣ là một bản luận cứ có cơ sở khoa học xác định mục tiêu và đƣờng hƣớng phát triển cơ bản của đất nƣớc trong khoảng thời gian 10 năm hoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định các chính sách và kế hoạch phát triển. Chiến lƣợc xác định tầm nhìn của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán về con đƣờng và các giải pháp cơ bản để thực hiện.
Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội là khâu đầu tiên trong quy trình kế hoạch hóa, nó đƣợc thể hiện bằng văn bản. Trong đó, phản ánh những quan điểm, mục tiêu, định hƣớng chủ đạo về phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ trong thời kỳ dài hạn nhằm thực hiện thành công cƣơng lĩnh và đƣờng lối phát triển của Đảng. Chiến lƣợc là cơ sở cho xây dựng quy hoạch và các kế hoạch phát triển trung hạn, ngắn hạn và việc xây dựng các cơ chế, chính sách. Trong quy trình kế hoạch hóa, chiến lƣợc đƣợc coi nhƣ một định hƣớng của kế hoạch dài hạn.
* Nội dung của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bao gồm:
- Phân tích và đánh giá về các căn cứ xây dựng chiến lƣợc nhƣ: điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nguồn nhân lực, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, các kinh nghiệm và bài học rút ra từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong nƣớc và kinh nghiệm quốc tế; bối cảnh quốc tế, khu vực và ảnh hƣởng của nó đến sự phát triển của đất nƣớc.
- Cụ thể hóa và phát triển đƣờng lối, chính sách của Đảng, xác định quan điểm cơ
bản của chiến lƣợc phát triển trong thời kỳ mới.
- Đề ra mục tiêu tổng quát và mục tiêu chủ yếu của thời kỳ chiến lƣợc. - Cơ cấu kinh tế và các phƣơng hƣớng chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực,
khu vực kinh tế - xã hội.
- Các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm khai thác, phát huy, phân bổ và sử
dụng các nguồn lực phát triển để đạt các mục tiêu, nhiệm vụ của chiến lƣợc.
- Các giải pháp tổ chức thực hiện việc đƣa chiến lƣợc vào cuộc sống. Cùng với quá trình đổi mới cơ chế, kinh tế Việt Nam đã có chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu tiên đƣợc xây dựng cho thời kỳ 1991 – 2000 và “tầm nhìn” đến năm 2020 ở những nét đại cƣơng nhất. “Tầm nhìn” đến năm 2020 của Việt Nam đã xác định “Xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đến năm 2020, Việt Nam sẽ đứng vào danh sách các quốc gia công nghiệp, với khu công nghiệp chiếm 50% tổng sản phẩm quốc nội, sẽ không còn một người nghèo đói trên lãnh thổ Việt Nam”. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 đã đƣợc thông qua tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX. Bản chiến lƣợc này có sự hoàn thiện hơn về mặt
25
phƣơng pháp luận, đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của thời kỳ mới là xây dựng nền tảng của một nƣớc công nghiệp hóa, đƣa đất nƣớc ra khỏi danh sách các nƣớc nghèo và từng bƣớc cạnh tranh, hội nhập thắng lợi, có vị trí xứng đáng trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Các chiến lƣợc kinh tế - xã hội cơ bản của Việt Nam bao gồm: chiến lƣợc về cơ cấu kinh tế (bao gồm cả cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội), chiến lƣợc ngành và lĩnh vực (nhất là ngành lĩnh vực mũi nhọn), chiến lƣợc phát triển lãnh thổ (nhất là chiến lƣợc phát triển vùng động lực), chiến lƣợc đô thị hóa (phát triển đô thị), chiến lƣợc khai thác biển, chiến lƣợc biên giới, chiến lƣợc an ninh quốc gia, chiến lƣợc con ngƣời, chiến lƣợc kinh tế đối ngoại (bao gồm cả chiến lƣợc thị trƣờng), chiến lƣợc tích lũy và tiêu dùng (bao gồm cả chiến lƣợc vay và trả nợ). b. Quy hoạch phát triển
Nếu chiến lƣợc phát triển là vạch ra các đƣờng nét định hƣớng cho sự phát triển trong một thời gian dài thì quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lƣợc về thời gian và không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ động hƣớng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững.
Vai trò hay chức năng của quy hoạch phát triển trƣớc hết là sự thể hiện của chiến lƣợc trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Quy hoạch cụ thể hóa chiến lƣợc cả về mục tiêu và các giải pháp. Nếu không có quy hoạch sẽ mù quáng, lộn xộn, đổ vỡ trong phát triển. Quy hoạch để định hƣớng, dẫn dắt, hiệu chỉnh, trong đó có cả điều chỉnh thị trƣờng. Mặt khác, quy hoạch còn có chức năng là cầu nối giữa chiến lƣợc, kế hoạch và quản lý thực hiện chiến lƣợc, cung cấp các căn cứ khoa học cho các cấp để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chƣơng trình, dự án đầu tƣ, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả.
Quy hoạch phát triển bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển các ngành, lĩnh vực và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng.
Quy hoạch tổng thể là xác định và lựa chọn mục tiêu cuối cùng, tìm những giải pháp để thực hiện mục tiêu. Quy hoạch cũng nhƣ chiến lƣợc, xét cho cùng vẫn là định hƣớng. Tuy vậy, một trong những khâu quan trọng nhất của quy hoạch là luận chứng về tính tất yếu, hợp lý cho sự phát triển và tổ chức không gian kinh tế - xã hội dài hạn dựa trên sự bố trí hợp lý bền vững kết cấu hạ tầng vật chất – kỹ thuật phù hợp với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trƣờng sinh thái. Đó chính là “bộ xƣơng” của quy hoạch.
Nhƣ vậy, bản chất của quy hoạch và chiến lƣợc là giống nhau, song quy hoạch cụ thể hơn chiến lƣợc. Xây dựng quy hoạch trƣớc hết là thể hiện tƣ duy, quan điểm, ý tƣởng đúng đắn. Trong quy hoạch, phải đi vào luận chứng ở mức độ cần thiết từ khâu điều tra, phân tích đến tính toán, so sánh, chứng minh các phƣơng án, các giải pháp, xem xét mọi yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, môi trƣờng, an ninh, quốc phòng…, đi từ tổng quát đến cụ thể và ngƣợc lại. Cần chú ý sự phù hợp cả không gian lãnh thổ và thời gian cụ thể.
Trên cơ sở khung quy hoạch tổng thể và chiến lƣợc phát triển, các ngành sẽ xây dựng quy hoạch phát triển của ngành mình. Các tiềm năng phát triển sẽ đƣợc đánh giá
26
chuẩn xác và cụ thể hơn. Đồng thời, trên một mức nào đó, sẽ lƣợng hóa các nguồn lực phát triển có thể khai thác từ các nguồn tiềm năng, thiết lập cơ cấu phát triển ngành, làm cơ sở xây dựng các chƣơng trình, dự án, chính sách thực hiện các mục tiêu của ngành.
Nội dung nghiên cứu quy hoạch tổng thể của vùng lãnh thổ có tầm nhìn sâu rộng hơn. Nó vừa phải đảm bảo các phƣơng án tối ƣu liên ngành và liên vùng trên cùng một địa bàn lãnh thổ, vừa phải phát huy tiềm năng và các đặc thù của từng vùng để phát triển. Hệ thống mục tiêu của vùng mang tính tổng hợp trên tầm vĩ mô, thể hiện đƣợc mục tiêu chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Các chƣơng trình dự án đầu tƣ phát triển trên vùng và lãnh thổ sẽ đƣợc tối ƣu hóa trên cơ sở các mục tiêu đã xác định.
Ở Việt Nam, công tác quy hoạch phát triển trong thời gian qua đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể. Chúng ta đã có quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010; quy hoạch tổng thể 8 vùng kinh tế và các tỉnh, thành phố; quy hoạch tổng thể 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung. Các quy hoạch này góp phần làm cơ sở cho các kế hoạch, chƣơng trình, các dự án đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc và các địa phƣơng.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Quy hoạch phải gắn liền với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội và làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm. c. Kế hoạch phát triển
Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Nó là sự cụ thể hóa các mục tiêu định hƣớng của chiến lƣợc phát triển theo từng thời kỳ bằng hệ thống các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hƣớng phát triển và hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kỳ kế hoạch. So với chiến lƣợc phát triển, kế hoạch có những vấn đề cơ bản khác biệt:
- Thứ nhất, về thời gian của kế hoạch thƣờng đƣợc chia ngắn hơn. Nó bao gồm kế hoạch 10 năm, 5 năm và kế hoạch hàng năm. Những kế hoạch 10 năm thì thƣờng đã gọi là “chiến lƣợc”. Nhƣ vậy, có thể nói tính phân đoạn là đặc trƣng cơ bản của kế hoạch. - Thứ hai, kế hoạch và chiến lƣợc đều bao gồm cả mặt định tính và định lƣợng. Tuy vậy, mặt định lƣợng là đặc trƣng cơ bản hơn của kế hoạch. Quản lý bằng kế hoạch mang tính cụ thể hơn, chi tiết hơn và nó dựa trên các dự báo mang tính chất ổn định hơn. Nhƣ vậy, tính năng động, nhạy bén và “mềm” của kế hoạch thấp hơn chiến lƣợc.
- Thứ ba, mục tiêu của chiến lƣợc chủ yếu là vạch ra các hƣớng phát triển chủ yếu, tức là nó thể hiện các đích cần phải đạt tới. Trong khi đó, mục tiêu của kế hoạch là phải thể hiện ở tính kết quả. Vì vậy, các mục tiêu, các chỉ tiêu của kế hoạch chi tiết hơn, đầy đủ hơn và trên một mức độ nào đó ở các nƣớc có nền kinh tế hỗn hợp thì nó còn thể hiện một tính pháp lệnh nhất định.
Về nội dung, hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia thƣờng bao gồm các kế hoạch phát triển nhƣ kế hoạch tăng trƣởng kinh tế, kế hoạch nâng cao phúc lợi xã hội. Bên cạnh đó, kế hoạch phát triển còn thể hiện ở những cân đối vĩ mô chủ yếu của thời kỳ kế hoạch nhƣ cân đối vốn đầu tƣ, cân đối ngân sách, cân đối thƣơng mại, cân đối thanh toán quốc tế.
27
Nhƣ vậy, quá trình công tác kế hoạch hóa đƣợc bắt đầu từ chiến lƣợc đến quy hoạch phát triển (ngắn hạn: 5 năm, trung hạn: 10 năm; dài hạn: 20 năm), rồi cụ thể hóa bằng các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Quy hoạch phát triển phải căn cứ vào chiến lƣợc, cụ thể hóa chiến lƣợc. Còn kế hoạch phải căn cứ vào quy hoạch và cụ thể hóa nội dung cũng nhƣ bƣớc đi của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. So sánh một số đặc điểm giữa chiến lƣợc, quy hoạch và kế hoạch đƣợc trình bày ở bảng 1.2.
Từ bảng 1.2 cho ta thấy, giữa chiến lƣợc, quy hoạch tổng thể và kế hoạch (5 năm, hàng năm) có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hệ thống này nhằm đƣa đƣờng lối phát triển của đất nƣớc vào hoạt động thực tiễn. Qua mỗi khâu của hệ thống hoạt động quản lý, tính cụ thể đƣợc nâng lên một bậc mới. Tuy nhiên, mỗi khâu trong hệ thống có vị trí riêng, có chức năng và yêu cầu cụ thể riêng. Sự khác nhau giữa các khâu không chỉ ở mức độ cụ thể mà ở tính chất, ở các vấn đề cần đƣợc giải quyết.
Ranh giới giữa chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch có thể đan xen vào với nhau. Trong một số trƣờng hợp, khó phân định rạch ròi. Ranh giới này cũng có thể thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm và trình độ phát triển của địa phƣơng.
Do mang đặc điểm là cầu nối giữa chiến lƣợc và kế hoạch, cho nên những thay đổi trong chiến lƣợc cũng nhƣ trong kế hoạch đều ảnh hƣởng đến quy hoạch và đòi hỏi có sự cập nhật bổ sung quy hoạch để tạo ra sự hài hòa, nhịp nhàng trong toàn bộ hệ thống.
Quy hoạch có thể thúc đẩy những bổ sung trong chiến lƣợc, bởi vì khi triển khai xây dựng quy hoạch, nhiều định hƣớng chiến lƣợc khi đi vào thực tế đã chứng tỏ sự thiếu hợp lý, có khi đó chỉ là những ý tƣởng mang nặng tính ảo tƣởng.
Mục đích Tiền đề Thứ tự Bảng 1.2. So sánh một số đặc điểm của quy hoạch, chiến lƣợc và kế hoạch Mức độ cụ thể Tính chất Yêu cầu phải đạt Loại hình
Sau
- Tính tổng quát cao - cƣơng lĩnh Chiến lƣợc phát triển - Văn bản thể hiện đƣờng lối - Đƣờng lối chính trị - Đƣờng lối kinh tế -Văn bản định hƣớng cho một giai đoạn phát triển 20-30 năm - Xây dựng mục tiêu và phƣơng hƣớng phát triển - Xác định các trọng điểm và giới hạn
Sau chiến lƣợc, trƣớc kế hoạch
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội - Có tính tổng quát - Đƣợc thể cụ trên hóa những phạm vi lớn - Chiến lƣợc phát triển - Dự báo phát triển - Phân tích đánh giá hiện trạng - Văn bản tiền kế hoạch - Văn bản định hƣớng phát triển - Cụ thể hóa một bƣớc chiến lƣợc - Xác định các định hƣớng phát triển - Xây dựng các phƣơng án phát triển - Xây dựng các giải pháp lớn
- Văn bản quy hoạch hoạt động cho thời gian 10 – 20 năm. - Có phân bố và bố trí theo thời gian và không gian - Hệ thống các chƣơng trình, dự án
28
Sau
Kế hoạch 5 năm (3- 7 năm) Văn bản chỉ đạo thực hiện tính Có cụ thể ở tầm vĩ mô
- Quy hoạch tổng thể - Phân tích giá đánh hiện trạng - Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể - Xác định các công trọng trình điểm trên các địa bàn cụ thể - quy hoạch tổng thể, trƣớc kế hoạch hàng năm
- Sau kế hoạch 5 năm Kế hoạch hàng năm - Xác định những nhiệm vụ và công việc cần tiến hành trong năm - Văn bản chỉ đạo thực hiện cụ thể - Kế hoạch 5 năm Tình - hình thực tế của năm vừa qua - Cụ thể quy về mô, vốn, địa điểm các cho công trình
- Văn bản chỉ hoạt động trong 5 năm. - Hệ thống các dự án đƣa ra thực thi - Hệ thống và địa điểm các công trình - Các mục tiêu cần đạt trong năm. bố -Phân nhiệm vụ cho từng lĩnh vực. - Đề ra các giải pháp để thực thi các mục tiêu.
d. Chương trình và Dự án phát triển kinh tế - xã hội
Nếu nhƣ trong nền kinh tế tập trung, hệ thống kế hoạch thƣờng đƣợc thể hiện cụ thể bằng các chỉ tiêu pháp lệnh thì trong nền kinh tế thị trƣờng, thực hiện các chƣơng trình quốc gia giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội là một phƣơng pháp kế hoạch hóa đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, phƣơng pháp kế hoạch hóa quản lý theo các chƣơng trình quốc gia cũng đƣợc áp dụng rộng rãi từ 1992.
Kế hoạch hóa và quản lý theo các chƣơng trình phát triển là việc đƣa ra các chƣơng trình, mục tiêu để xử lý những vấn đề nổi cộm về kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đây là một phƣơng pháp quản lý vừa đặc biệt lại vừa mang tính nghệ thuật cao. Tính đặc biệt thể hiện ở chỗ nó vừa khác hẳn với các phƣơng pháp về cơ chế, chính sách, cách điều hành, kiểm tra, đánh giá kết quả, đối tƣợng hƣởng thụ. Còn tính nghệ thuật là phải làm sao chọn đúng đối tƣợng các vấn đề cần thiết xử lý bằng các chƣơng trình. Tính nghệ thuật này còn thể hiện trong khả năng “lồng ghép” các chƣơng trình trong tổ chức chỉ đạo.
* Chức năng chủ yếu của các chương trình quốc gia là:
- Cụ thể hóa kế hoạch, đƣa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tế cuộc sống. Có thể gọi đây là một phƣơng pháp tiến hành của kế hoạch. Với chức năng này, một chƣơng trình quốc gia phải bao hàm các mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu biện pháp và các giải pháp để thực hiện.
- Xử lý các vấn đề gay cấn nhất về kinh tế - xã hội của một quốc gia. Đây là các
vấn đề bức xúc, các khâu đột phá, các mắt xích quan trọng của nền kinh tế.
29
- Hiện nay, theo xu hƣớng đổi mới kế hoạch hóa, các chƣơng trình, dự án phát triển lại đƣợc xem nhƣ là cơ sở để thực hiện phân bổ nguồn lực nhƣ vốn đầu tƣ, ngân sách… thay cho hình thức phân bổ theo đối tƣợng nhƣ trƣớc kia.
Thực hiện kế hoạch hóa theo chƣơng trình quốc gia là biện pháp để khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trƣờng, tạo sự ổn định về chính trị - xã hội cho kinh tế tăng trƣởng một cách bền vững. Chƣơng trình phát triển có thể đƣợc chi tiết bằng các dự án đầu tƣ phát triển. Việc hình thành và quản lý, điều phối theo các dự án, một mặt là thực hiện đƣợc quan điểm đầu tƣ có trọng điểm, đầu tƣ vào các vấn đề nổi cộm, các mắt xích then chốt trong mọi khía cạnh kinh tế - xã hội – chính trị – quốc phòng của đất nƣớc, mặt khác, đây chính là nghệ thuật để thu hút các nguồn vốn bên ngoài, các nhà tài trợ thƣờng đầu tƣ theo các dự án. Đầu tƣ theo dự án là nâng cao tiềm lực kinh tế một cách thiết thực, tạo khả năng cạnh tranh và quan trọng là có địa chỉ cụ thể để tính toán hiệu quả.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã đƣa ra trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 việc thực hiện 11 chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội là: Chƣơng trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; Chƣơng trình phát triển công nghiệp; Chƣơng trình phát triển kết cấu hạ tầng; Chƣơng trình phát triển khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trƣờng sinh thái; Chƣơng trình phát triển kinh tế - dịch vụ; Chƣơng trình phát triển kinh tế đối ngoại; Chƣơng trình phát triển giáo dục – đào tạo; Chƣơng trình giải quyết các vấn đề văn hóa – xã hội; Chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi và đồng bào dân tộc; Chƣơng trình phát triển các vùng lãnh thổ; Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, để đảm bảo tính thực thi của các chƣơng trình và nâng cao hiệu lực quản lý các chƣơng trình, ngày 14 tháng 1 năm 1998, Thủ tƣớng Chính phủ đã có quyết định 05/1998/QĐ – TTg về quản lý quốc gia và theo quyết định này, hiện nay nƣớc ta có 7 chƣơng trình quốc gia đƣợc triển khai là: Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, Chƣơng trình dân số và kế hoạch hóa gia đình; Chƣơng trình nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng; Chƣơng trình thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm; Chƣơng trình phòng chống HIV/AIDS; Chƣơng trình xây dựng lực lƣợng vận động viên tài năng quốc gia và xây dựng các trung tâm thể thao trọng điểm; Chƣơng trình giải quyết việc làm.
Nhƣ vậy, quy trình công tác kế hoạch hóa của Việt Nam đƣợc bắt đầu từ xây dựng chiến lƣợc đến quy hoạch phát triển rồi cụ thể hóa bằng các chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch phải căn cứ vào chiến lƣợc, cụ thể hóa chiến lƣợc, còn kế hoạch phải căn cứ vào quy hoạch và cụ thể hóa nội dung cũng nhƣ bƣớc đi của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ của các khâu trong quy trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trong sơ đồ 1.1.
30
Quy hoạch phát triển
Chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội cả nƣớc
Kế hoạch trung và ngắn hạn
Quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ
Quy hoạch phát triển ngành
Chiến lƣợc về thời gian
Mục tiêu chiến lƣợc
Nhiệm vụ và phƣơng thức đạt chiến lƣợc
Kế hoạch phát triển 5 năm
Kế hoạch phát triển hàng năm
Quy hoạch phát triển Tỉnh
Quy hoạch phát triển vùng
Quy hoạch khối ngành sản xuất sản phẩm vật chất
Quy hoạch phát triển khối ngành kết cấu hạ tầng
Quy hoạch khối ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ
Sơ đồ 1.1. Khái quát các khâu kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội quốc gia
1.1.2. Chức năng, nguyên tắc của kế hoạch hóa phát triển
a. Chức năng của kế hoạch hóa phát triển
Kế hoạch hóa là sự vận dụng tổng hợp các quy luật khách quan, trƣớc hết là các quy luật kinh tế, trong đó có các quy luật của kinh tế thị trƣờng và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vào việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, tổ chức tốt việc thực hiện, kiểm tra, phân tích, tổng kết tình hình thực hiện các kế hoạch trong từng thời kỳ. Nội dung cơ bản của kế hoạch phát triển là xác lập các cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân theo định hƣớng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Có các nhóm cân đối sau:
- Nhóm cân đối chung: đó là những cân đối giữa khu vực sản xuất tƣ liệu sản xuất với khu vực sản xuất tƣ liệu tiêu dùng; sản xuất với tiêu dùng; cung với cầu, tích lũy với tiêu dùng…
- Nhóm cân đối giữa các ngành và nội bộ các ngành: đó là cân đối giữa ba nhóm
ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ và cân đối trong nội bộ từng ngành.
- Nhóm cân đối giữa các vùng kinh tế theo lãnh thổ: là sự cân đối giữa các vùng
với nhau nhƣ vùng phía Bắc, phía Nam…
31
Ngoài ra, còn có những cân đối khác nhƣ kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trƣờng, tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững. Quá trình xác định các cân đối rất phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố biến động thƣờng xuyên nhƣ nhu cầu của con ngƣời, khoa học công nghệ… Vì vậy, cần có sự điều chỉnh thƣờng xuyên cho hợp lý.
Kế hoạch hóa phát triển có các chức năng cơ bản sau:
(1) Điều tiết, phối hợp, ổn định kinh tế vĩ mô
Trên phƣơng diện kinh tế vĩ mô, hoạt động kế hoạch hóa phải hƣớng tới mục tiêu chính luôn đƣợc tính tới là ổn định giá, tăng trƣởng và cân đối cán cân thanh toán quốc tế. Các mục tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau. Sự thiên lệch hay quá nhấn mạnh vào mục tiêu nào sẽ ảnh hƣởng xấu đến việc đạt mục tiêu khác và ảnh hƣởng đến sự cân bằng tổng thể của nền kinh tế. Chức năng này thể hiện nhƣ sau:
- Hoạch định kế hoạch chung tổng thể của nền kinh tế, đƣa ra và thực thi các chính sách cần thiết đảm bảo cân đối kinh tế nhằm sử dụng tổng hợp nguồn lực, phát huy hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội.
- Đảm bảo môi trƣờng kinh tế ổn định và cân đối. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội, bảo vệ môi trƣờng. Tạo tiền đề và hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế lành mạnh.
- Đảm bảo sự công bằng giữa các vùng, các tầng lớp dân cƣ bằng kế hoạch sử
dụng ngân sách và các chính sách điều tiết.
- Kế hoạch hóa còn thể hiện chức năng điều tiết nền kinh tế phù hợp với xu thế
hội nhập, toàn cầu hóa ngày càng tăng.
(2) Định hướng phát triển kinh tế xã hội
Đây là chức năng thể hiện bản chất của kế hoạch trong kinh tế thị trƣờng và chính nó làm cho công tác kế hoạch hóa không bị lu lờ trong cơ chế thị trƣờng. Chức năng này thể hiện nhƣ sau:
- Công tác kế hoạch hóa phải xây dựng đƣợc chiến lƣợc và quy hoạch phát triển toàn bộ nền kinh tế cũng nhƣ quy hoạch phát triển theo ngành, vùng lãnh thổ, xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn. Kế hoạch đƣa ra mục tiêu phát triển vĩ mô về kinh tế - xã hội, xây dựng các dự án, các chƣơng trình, tìm các giải pháp và các phƣơng án thực hiện, dự báo khả năng, phƣơng hƣớng phát triển, xác định cân đối nhằm thực hiện chức năng dẫn dắt, định hƣớng phát triển, xử lý kịp thời các mất cân đối xuất hiện trong nền kinh tế thị trƣờng.
- Chức năng định hƣớng còn thể hiện ở việc chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung theo phƣơng thức “giao nhận” với hệ thống chằng chịt các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nƣớc sang cơ chế kế hoạch hóa gián tiếp, định hƣớng phát triển. Các chỉ tiêu mà Nhà nƣớc cần giám sát và quản lý chủ yếu là những chỉ tiêu giá trị ở tầm vĩ mô. Nó mang tính chất định hƣớng, không cứng nhắc và không áp đặt. (3) Kiểm tra giám sát hoạt động kinh tế - xã hội
Nội dung chủ yếu của chức năng này bao gồm:
32
+ Đánh giá kết quả của việc thực hiện chính sách, các mục tiêu đặt ra. + Phân tích hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội bảo đảm các luận cứ quan
+ Chính phủ thông qua các cơ quan chức năng thƣờng xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện các tiến độ kế hoạch, thực hiện và tuân thủ các cơ chế, thể chế, chính sách hiện hành áp dụng trong thời kỳ kế hoạch. trọng cho việc xây dựng các kế hoạch của thời kỳ tiếp theo.
Nhƣ vậy, kế hoạch hóa có chức năng định hƣớng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội theo mục tiêu nhất định, đảm bảo dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. b. Nguyên tắc của kế hoạch hóa phát triển
Kế hoạch hóa phát triển là yếu tố tập trung của hệ thống quản lý kinh tế - xã hội,
nó cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Nguyên tắc tập trung dân chủ Nội dung của nguyên tắc này đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết mang tính tập trung, các nội dung thực hiện mang tính dân chủ trong công tác kế hoạch hóa và cơ chế kết hợp cả hai yếu tố này.
Tính tập trung trong kế hoạch hóa phát triển thể hiện ở các mặt sau: - Chính phủ thông qua các cơ quan kế hoạch hóa quốc gia thực hiện đƣợc chức năng định hƣớng và cân đối cơ bản của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ kế hoạch, đƣa ra các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội lớn, ban hành hệ thống chính sách, thể chế để điều tiết và khuyến khích sự phát triển của mọi thành phần kinh tế.
- Các kế hoạch, chƣơng trình, dự báo phát triển phải đƣợc xây dựng, soạn thảo trên cơ sở các quan điểm chính trị, các mục tiêu kinh tế, xã hội do Đảng và Nhà nƣớc yêu cầu, phải đảm bảo sự nhất trí cao độ giữa kinh tế và chính trị trong từng thời kỳ.
- Hƣớng dẫn các đơn vị, các thành phần kinh tế hoạt động theo quỹ đạo mục tiêu chung của quốc gia. Điều đó thể hiện bằng các đơn đặt hàng từ phía Nhà nƣớc đối với các đơn vị kinh tế hoặc giao một số kế hoạch, một số dự án, chƣơng trình cho các thành phần kinh tế phi Nhà nƣớc. Nhà nƣớc chủ động xây dựng và tổ chức, điều tiết các bƣớc đi trong kế hoạch kinh tế đối ngoại, hội nhập, các hoạt động tài chính tiền tệ, thƣơng mại quốc tế, khống chế các con số cán cân thƣơng mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tính dân chủ trong kế hoạch hóa phát triển đặt ra các nội dung sâu và rộng hơn so
với kế hoạch hóa tập trung, bao gồm:
- Sử dụng sự tham gia của cộng đồng vào xây dựng và thực thi kế hoạch. Nó sẽ đảm bảo sự nhất trí cao của bản kế hoạch đƣợc xây dựng và khích lệ đƣợc tiềm năng của các cá nhân cũng nhƣ cộng đồng trong thực thi kế hoạch.
- Sử dụng sự tham gia của khu vực tƣ nhân trong công tác kế hoạch hóa. Trao đổi
ý kiến với khu vực tƣ nhân sẽ đƣa ra những lợi ích sau:
+ Có đƣợc thông tin tốt hơn về đặc điểm, quy mô loại hình đầu tƣ và xu thế phát
triển của khu vực tƣ nhân.
+ Tăng cƣờng tính hiệu quả và sát thực trong việc hoạch định và áp dụng các
chính sách cho khu vực tƣ nhân.
33
+ Có sự cộng tác tốt hơn từ khu vực tƣ nhân trong việc thực hiện các chiến lƣợc
phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
- Chính phủ phải đƣa ra các cam kết cụ thể của mình với các địa phƣơng, ngành và doanh nghiệp. Đó là các chƣơng trình, chỉ tiêu, các chính sách áp dụng, các điều kiện và môi trƣờng pháp lý… phải đƣợc Chính phủ công bố công khai và ấn định thời gian có hiệu lực.
- Để thể hiện trong việc tăng cƣờng hình thức kinh tế phi tập trung, cần phải thực hiện phân cấp triệt để cho các địa phƣơng, các vùng về chức năng, quyền hạn của các cơ quan kế hoạch và chính sách áp dụng.
- Mở rộng tính chất dân chủ trong quan hệ tác động giữa Nhà nƣớc với các ngành
trong xây dựng và triển khai kế hoạch.
Theo kinh nghiệm của một số nƣớc nhƣ Pháp, Nhật và các nƣớc khác, thì vấn đề thực hiện “Thƣơng thảo” trong quá trình dự thảo và xây dựng kế hoạch là cơ sở đảm bảo sự thành công của kế hoạch. Việc thƣơng thảo (thƣơng lƣợng và thảo luận) giữa Nhà nƣớc, ngành, địa phƣơng với các tác nhân kinh tế, xã hội đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục đều đặn qua từng bƣớc trong suốt quá trình soạn thảo, thông qua và thực hiện kế hoạch. Đây thực chất là thực hiện nguyên tắc cam kết một cách dân chủ để tạo sự đồng thuận xã hội cao và phát huy trí tuệ tập thể với các vấn đề cực kỳ khó khăn của kinh tế - xã hội. Ví dụ: kinh nghiệm của Pháp thể hiện nguyên tắc dân chủ khi triển khai thực hiện kế hoạch là Chính phủ thƣờng dựa vào các mục tiêu, các chƣơng trình, dự án phát triển, tiến hành xây dựng và ký kết các hợp đồng kinh tế Nhà nƣớc với ngành, với vùng và với doanh nghiệp.
Sự kết hợp giữa tập trung với dân chủ mang tính chất lịch sử cụ thể. Nó có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ và các đặc trƣng phát triển trong từng giai đoạn của đất nƣớc, phụ thuộc vào các điều kiện trong nƣớc và nƣớc ngoài. Tuy vậy, nếu nhấn mạnh quá trình tập trung thì sẽ dẫn kế hoạch đi theo cơ chế tập trung mệnh lệnh, quan liêu bao cấp. Còn nếu đi quá dung lƣợng của tính dân chủ có nghĩa là xa rời bản chất của kế hoạch hóa.
(2) Nguyên tắc thị trường Đây là nguyên tắc thể hiện rõ nhất bản chất của kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trƣờng và nó dựa trên cơ sở tính chất đa dạng và phức tạp của mối quan hệ giữa kế hoạch với thị trƣờng. Mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trƣờng đã đƣợc đúc kết thành những nội dung mang tính quy luật tất yếu. Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần đặt vấn đề này một cách toàn diện hơn. Có thể nhận thấy trên hai góc độ:
- Nếu đặt kế hoạch là chức năng của quản lý, thì có thể nói thị trƣờng vừa là căn cứ, vừa là đối tƣợng của kế hoạch hóa. Kế hoạch hóa các quan hệ thị trƣờng là một yêu cầu trong hoạt động kế hoạch. Mặt khác, các quy luật thị trƣờng lại là những căn cứ, những dấu hiệu cần thiết phải đƣa vào trong xây dựng kế hoạch. Cơ chế kết hợp một cách tổng hợp hai yếu tố này thể hiện trong nền kinh tế hỗn hợp là thị trƣờng điều tiết nền sản xuất còn kế hoạch điều tiết các quan hệ thị trƣờng.
- Nếu coi thị trƣờng và kế hoạch là hai công cụ điều tiết nền kinh tế thì mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trƣờng thực chất là sự kết hợp giữa hai công cụ điều tiết trực tiếp
34
(bằng kế hoạch) và điều tiết gián tiếp (thông qua thị trƣờng). Đó là kết hợp giữa điều tiết quản lý nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ tiêu định hƣớng, hƣớng dẫn, với các công cụ chính sách điều tiết vĩ mô thông qua các hoạt động cụ thể của thị trƣờng.
Nhƣ vậy, nguyên tắc thị trƣờng đặt ra yêu cầu là kế hoạch không tìm cách thay thế thị trƣờng mà ngƣợc lại nó bổ sung cho thị trƣờng, bù đắp các khiếm khuyết của thị trƣờng, hƣớng dẫn thị trƣờng và đảm bảo sự vận hành của thị trƣờng luôn luôn tƣơng xứng với sự liên kết xã hội của đất nƣớc. Mặt khác, kế hoạch phải căn cứ vào thị trƣờng để đƣa ra mục tiêu hợp lý, cân nhắc một cách có hệ thống tất cả các công cụ, chính sách để có sự lựa chọn tối ƣu. Trong quá trình lập cũng nhƣ thực hiện kế hoạch phải tính tới yếu tố kiểm soát đƣợc và không kiểm soát đƣợc.
Quán triệt nguyên tắc này, kế hoạch đƣợc coi là kịch bản đƣợc lựa chọn. Do các điều kiện thị trƣờng cũng nhƣ môi trƣờng kinh tế nói chung thƣờng xuyên thay đổi, một kế hoạch hợp lý và khả thi không thể là một kế hoạch cứng nhắc, xây dựng một lần và không thay đổi. Vì vậy, các chỉ tiêu kế hoạch cũng mang tính hƣớng dẫn và dự báo là chủ yếu.
(3) Nguyên tắc linh hoạt, mềm dẻo Nguyên tắc này đƣa ra xuất phát từ nguyên tắc thị trƣờng, nó tạo điều kiện thực hiện nguyên tắc thị trƣờng. Đối với nhiều nhà quản lý, nguyên tắc linh hoạt đƣợc xem là quan trọng nhất khi xây dựng kế hoạch. Kế hoạch càng linh hoạt thì mối đe dọa do các sự kiện chƣa lƣờng trƣớc đƣợc gây ra ngày càng ít. Nguyên tắc linh hoạt thể hiện trƣớc hết trong quá trình lập kế hoạch, phải xây dựng đƣợc nhiều phƣơng án kế hoạch gắn với mỗi biến số khác nhau về các điều kiện hiện tại cũng nhƣ tƣơng lai. Kế hoạch đƣợc lựa chọn cũng không phải là không thay đổi, chỉ số của kế hoạch đƣợc xây dựng trong một khoảng chứ không phải là một số cứng nhắc. Nhƣ vậy, sẽ tạo ra trong kế hoạch những khả năng thay đổi.
Tuy nhiên, nguyên tắc linh hoạt trong kế hoạch cũng phải xem xét trên khía cạnh lợi ích – chi phí và đây chính là giới hạn của sự thay đổi trong kế hoạch. Trong nhiều trƣờng hợp, sự thay đổi của kế hoạch không đƣợc thay đổi khi lợi ích của nó không tƣơng ứng với chi phí bỏ ra hoặc sự thay đổi không thể đƣa vào hay chỉ có thể đƣa vào với những khó khăn rất lớn.
Để khắc phục tình trạng trên, thông thƣờng các nhà kế hoạch phải định kỳ đối chiếu các sự kiện xảy ra đối với những mong muốn và điều chỉnh lại các kế hoạch khi cần thiết để duy trì quá trình đến mục tiêu mong muốn. Ngƣời ta gọi là “nguyên tắc thay đổi kiểu hàng hải” tức là các nhà kế hoạch quản lý các kế hoạch chứ không phải bị các kế hoạch quản lý.
(4) Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của các hoạt động kinh doanh Nguyên tắc này đƣợc đặt ra do yêu cầu tất yếu của kế hoạch phát triển trong giải quyết và khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trƣờng. Chủ thể chủ yếu của nền kinh tế thị trƣờng là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất – kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau. Những quyết định của họ đều xuất phát từ lợi ích riêng của từng doanh nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng hàng đầu là hiệu quả tài chính, lợi nhuận thu đƣợc từ chính phƣơng án sản xuất, kinh doanh. Kế hoạch hóa phát triển với vị trí là kế hoạch hóa tầm vĩ mô,
35
định hƣớng phải có chức năng liên kết, tổ chức phối hợp hoạt động của các doanh nhân theo các mục tiêu dài hạn và bảo đảm tính chất hiệu quả xã hội trong các quyết định của tƣ nhân. Tức là thực hiện các nguyên tắc hiệu quả kinh tế - xã hội trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong hoạt động kế hoạch hóa, các vấn đề chủ yếu của nguyên tắc này đặt ra nhƣ
sau:
- Cơ quan kế hoạch hóa quốc gia phải đóng vai trò quyết định trong việc xác định khung vĩ mô cho sự phát triển kinh tế dài hạn của đất nƣớc. Đƣa ra các dự báo, các chiến lƣợc phát triển, các mục tiêu phát triển phù hợp với xu thế phát triển của đất nƣớc.
- Đảm bảo tính hệ thống trong kế hoạch hóa. Tính hệ thống của kế hoạch thể hiện trên nhiều góc độ khác nhau nhƣ thống nhất giữa đƣờng lối phát triển với chiến lƣợc phát triển, quy hoạch, kế hoạch phát triển. Các chƣơng trình dự án là sự cụ thể hóa các kế hoạch phát triển. Tính hệ thống còn thể hiện ở thời gian của kế hoạch. Đảm bảo sự thống nhất giữa tầm nhìn với chiến lƣợc, kế hoạch trung hạn và kế hoạch hàng năm. Yêu cầu của nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội thể hiện rõ nét nhất trong nội dung quản lý và thẩm định các chƣơng trình, dự án phát triển để quyết định hƣớng phân bổ nguồn lực. Ngoài đánh giá dự án thông qua các mục tiêu và dấu hiệu về hiệu quả tài chính, các nhà kế hoạch hóa quốc gia cần phải chú ý đến các chi phí tình thế xã hội của dự án, tức là quan tâm đến giá phải trả của việc sử dụng các yếu tố nguồn lực trong dự án đầu tƣ. Tiến tới dùng giá ngầm, tức là giá đích thực, giá đúng của các yếu tố chi phí nguồn lực thay cho giá thị trƣờng trong việc kết luận kết quả của dự án. Việc sử dụng giá ngầm và chi phí tình thế xã hội của các yếu tố chi phí nguồn lực bảo đảm phù hợp giữa hiệu quả tài chính với hiệu quả xã hội, phù hợp với các mục tiêu quốc gia, bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất là nguồn lực đứng trên góc độ xã hội, đảm bảo tính trƣớc mắt và lâu dài, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững của đất nƣớc.
1.2. Vị trí, vai trò của quy hoạch TTPTKT-XH trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc
1.2.1. Nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kiểu kinh tế nông nghiệp sang kiểu kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là con đƣờng tất yếu đối với tất cả các nƣớc, nhất là các nƣớc chậm phát triển muốn vƣơn lên một trình độ cao hơn. Nhƣ vậy, làm thế nào để công nghiệp hóa diễn ra hợp lý và hiệu quả nhất đối với điều kiện nhất định và trong từng giai đoạn cụ thể.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình xây dựng một xã hội văn minh, cải biến căn bản các ngành kinh tế, các hoạt động xã hội theo phong cách của nền công nghiệp hiện đại, tạo ra sự tăng trƣởng kinh tế - xã hội bền vững, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời lao động. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình rộng lớn và phức tạp, bao hàm những nội dung cơ bản sau: - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trƣớc hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công
36
nghệ thấp lên trình độ công nghệ hiên đại cùng với sự dịch chuyển lực lƣợng lao động thích ứng với cơ cấu ngành nghề. - Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nƣớc. Nó thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế mới hợp lý, cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nƣớc.
Do nền kinh tế của mỗi nƣớc là một thể thống nhất, các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ biện chứng với nhau, sự thay đổi ở ngành kinh tế, ở lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo hoặc đòi hỏi sự thay đổi thích ứng ở các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác và ngƣợc lại. Vì thế, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng gắn liền với quá trình phân công lại lao động xã hội với những đặc điểm mang tính chất quy luật. Đó là tỷ trọng và số lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số lao động công nghiệp ngày một tăng, tỷ trọng và số lao động trí tuệ ngày càng lớn so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội; tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là quá trình kinh tế kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình kinh tế - kỹ thuật và quá trình kinh tế - xã hội có quan hệ biện chứng với nhau ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô. Quá trình kinh tế - kỹ thuật tạo điều kiện vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế - xã hội. Mặt khác, quá trình kinh tế - xã hội lại góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện quá trình kinh tế - kỹ thuật. Với ý nghĩa đó, khi xem xét sự tác động và hiệu quả của công nghiệp hóa, phải có quan điểm toàn diện, không dừng lại ở khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, mà phải xem xét thấu đáo khía cạnh kinh tế - xã hội của nó.
- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Trong điều kiện ngày nay, nền kinh tế của nƣớc ta sẽ không thể tăng trƣởng và phát triển mạnh nếu rơi vào tình trạng “đóng cửa” không thiết lập đƣợc mối quan hệ kinh tế với nƣớc ngoài. Các nƣớc đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều muốn mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế nhằm thu hút vốn, công nghệ, thị trƣờng, kinh nghiệm quản lý của các nƣớc đi trƣớc. Đồng thời, đẩy mạnh chiến lƣợc hƣớng vào xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh hàng hóa trên thị trƣờng khu vực và thế giới, nghĩa là công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hƣớng hội nhập quốc tế.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải là mục đích tự thân, mà là một phƣơng thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu phát triển của mỗi nƣớc. Ở mọi quốc gia, mọi thời kỳ, công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao giờ cũng là quá trình trang bị kỹ thuật hiện đại cho các ngành kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Về mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dù rằng mỗi nƣớc có mục tiêu riêng của mình, do bản chất chính trị, kinh tế - xã hội quy định, song vẫn có những nét tƣơng đồng (thậm chí giống nhau). Đó là đều xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nƣớc, tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
37
Trong điều kiện hiện nay, bản chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm phát triển lực lƣợng sản xuất và thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý để đạt tới năng suất lao động xã hội cao; công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nƣớc ta thành một nƣớc công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây cũng chính là những cái đích phải đạt đƣợc của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Các nhân tố của quy hoạch tổng thể ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế - xã hội
(1) Nhân tố nguồn lực
Quy hoạch tổng thể nhằm sử dụng các nguồn lực tối đa, có hiệu quả phát triển bền vững trên phƣơng diện quy hoạch phát triển bao gồm 4 bộ phận: tài nguyên thiên nhiên; con ngƣời; điều kiện môi trƣờng; tài sản, vốn.
- Tài nguyên thiên nhiên: gồm có tài nguyên khí hậu, tài nguyên nƣớc, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật, tài nguyên năng lƣợng…Tài nguyên thiên nhiên đƣợc phân bố không đồng đều ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Trong công tác quy hoạch, điều quan trọng là phân tích, đánh giá đúng ý nghĩa của các dạng tài nguyên, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các loại tài nguyên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, gìn giữ và tái tạo tài nguyên. Cho đến nay, về nhận thức nhiều ngƣời còn chƣa thấy hết ý nghĩa và vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất và đời sống con ngƣời. Nhiều ngƣời chỉ coi tài nguyên thiên nhiên nhƣ là những yếu tố môi trƣờng tạo nên khung cảnh sống cho con ngƣời, chứ chƣa coi tài nguyên là yếu tố đầu vào, là nguyên liệu cho các quá trình sản xuất và đời sống.
- Con người: là chủ thể, đồng thời là đối tƣợng của sản xuất và đời sống. Vì vậy, con ngƣời là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các dạng nguồn lực. Trên phƣơng diện quy hoạch, con ngƣời đƣợc tính đến nhƣ một lực lƣợng sản xuất, đồng thời là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà quy hoạch phải phục vụ. Con ngƣời đƣợc tính đến trƣớc hết là về số lƣợng. Số lƣợng dân cƣ của vùng đƣợc quy hoạch, mật độ phân bố dân cƣ trên từng đơn vị, diện tích, tính chất đều đặn trong phân bố dân cƣ, nhất là giữa đô thị và nông thôn là những yếu tố cần đƣợc phân tích kỹ vì đó có thể là những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển nhƣng cũng đồng thời là những yếu tố gây trở ngại cho phát triển. Chất lƣợng con ngƣời, trƣớc hết là chất lƣợng đội ngũ lao động là yếu tố rất có ý nghĩa trong công tác quy hoạch. Chất lƣợng con ngƣời thể hiện ở trình độ văn hóa, trình độ phát triển của cộng đồng dân cƣ. Trình độ kiến thức, hiểu biết tay nghề ở đội ngũ lao động là yếu tố cần đƣợc phân tích kỹ và khai thác tốt trong công tác quy hoạch. Chất lƣợng con ngƣời còn thể hiện ở cấu trúc đội ngũ, ở tỷ lệ số lao động đƣợc đào tạo so với tổng số lao động, tỷ lệ số lao động có tay nghề so với số lao động phổ thông. Một tỷ số hợp lý giữa các trình độ chuyên môn trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, công nhân không
38
có tay nghề cũng nói lên chất lƣợng của đội ngũ lao động. Con ngƣời là yếu tố gây nên những tác động sâu sắc lên môi trƣờng cũng nhƣ chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố môi trƣờng.
- Điều kiện môi trường: là dạng tài nguyên thiên nhiên đã đƣợc con ngƣời sử dụng và cải tạo từng bƣớc trong quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài. Môi trƣờng bao gồm môi trƣờng vật chất và môi trƣờng tinh thần. Có thể phân chia ra môi trƣờng sản xuất, môi trƣờng đời sống và môi trƣờng phát triển. Điều kiện môi trƣờng có ý nghĩa to lớn trong công tác quy hoạch phát triển, bởi vì trong những môi trƣờng thuận lợi các yếu tố nguồn lực, các hoạt động sản xuất và đời sống, không chỉ các yếu tố môi trƣờng vật chất nhƣ kết cấu hạ tầng, điều kiện cung cấp nguyên liệu… có ý nghĩa, mà các yếu tố môi trƣờng tinh thần nhƣ tâm lý sản xuất, tình đoàn kết hữu ái, tính cộng đồng… cũng có ý nghĩa lớn và trong nhiều trƣờng hợp mang tính chất quyết định. Trong các yếu tố môi trƣờng phát triển, vị thế địa lý, tính thuận lợi trong giao thông, tính nhanh chóng và thuận tiện trong tiếp nhận thông tin, trao đổi công nghệ có ý nghĩa rất lớn. Nhiều địa phƣơng không có nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣng với vị thế địa lý thuận lợi nhƣ Singapore, Hồng Kông đã có tốc độ phát triển nhanh và có nền kinh tế tƣơng đối phát triển.
- Tài sản, vốn: là một trong những nguồn lực của quy hoạch. Trong công tác quy
hoạch, có tài sản hữu hình, tài sản vô hình, có tài sản tinh thần và tài sản vật chất.
Các chính sách và chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Đảng cũng là nguồn tài sản lớn để chúng ta sử dụng trong xây dựng quy hoạch phát triển. Các chủ trƣơng, chính sách phù hợp vừa là môi trƣờng thuận lợi cho phát triển, vừa là yếu tố để phát huy nội lực, thu hút vốn đầu tƣ, vừa là động lực thúc đẩy sản xuất và đời sống.
(2) Nhân tố kỹ thuật tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Kết cấu hạ tầng đầy đủ, thuận lợi đảm bảo cho sản xuất và đời sống phát triển tốt. Ngƣợc lại, kết cấu hạ tầng thiếu thốn, lạc hậu là yếu tố kìm hãm đối với sự phát triển sản xuất và đời sống. Kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật bao gồm nhiều lĩnh vực và cơ sở nhƣ đƣờng sá, phƣơng tiện giao thông vận tải, kho tàng bến bãi, các hệ thống thủy lợi các công trình đầu mối thủy lợi, các công trình cung cấp nƣớc, hệ thống nhà máy điện, mạng lƣới, trạm phân phối điện, hệ thống nhà xƣởng máy móc…
Trong công tác quy hoạch, các kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật không những cần đƣợc phân tích, tính toán đầy đủ cho nhu cầu về khối lƣợng mà còn tính toán đến sự phân bố hợp lý kể cả trong không gian và về thời gian, sự vận hành thông suốt, sự sử dụng với hiệu suất cao và tiết kiệm. Tính đồng bộ của các kết cấu hạ tầng có ý nghĩa rất lớn. Khi thiếu đồng bộ, nhiều kết cấu hạ tầng không phát huy đƣợc tác dụng và toàn bộ hệ thống hoạt động thiếu hiệu quả. Cho đến nay, các kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật của Việt Nam đƣợc hình thành nên qua nhiều thời kỳ, chủ yếu là để phục vụ nền kinh tế, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất chủ yếu, mà trong nông nghiệp thì sản xuất lúa là chính. Hiện nay, chúng ta đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từng bƣớc phát triển công nghiệp và dịch vụ, đƣa hai lĩnh vực này phát triển ngang với nông nghiệp, tiến tới là cho sản xuất công nghiệp chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế. Yêu cầu hiện nay là xây dựng một hệ
39
thống kết cấu hạ tầng phù hợp với cơ cấu kinh tế mới, phục vụ đắc lực hơn cho sản xuất công nghiệp và tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ.
Cho đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn đã đƣợc hình thành là để phục vụ chủ yếu cho kinh tế hợp tác hóa. Hiện nay, chủ thể sản xuất trong nông thôn là kinh tế hộ gia đình nông dân. Mặt khác, chúng ta đang chuyển một nền kinh tế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ sang một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trƣờng, có sự điều tiết ở tầm vĩ mô, phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Việc chuyển đổi hệ thống kết cấu hạ tầng từ phục vụ nền kinh tế cũ sang nền kinh tế phát triển theo hƣớng mới đang là một yêu cầu hàng đầu đối với công tác quy hoạch.
Với tƣ cách là yếu tố tiên quyết để tạo điều kiện phát triển sản xuất và đời sống, hệ thống kết cấu hạ tầng cần đƣợc xây dựng trƣớc một bƣớc. Vì vậy, xây dựng quy hoạch cũng nhƣ cập nhật bổ sung quy hoạch cần phân tích, đánh giá sâu sắc hệ thống kết cấu hạ tầng vật chất – kỹ thuật hiện có. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp và bƣớc đi thích hợp để chuyển đổi hệ thống kết cấu hạ tầng thành một hệ thống khả quan làm tiền đề cho việc phát triển kinh tế - xã hội theo quy hoạch.
Kết cấu hạ tầng xã hội bao gồm trƣờng học, trạm xá, nhà văn hóa, nhà trẻ, nhà dƣỡng lão, nhà thờ, chùa, đình, sân vận động, nhà tập thể dục thể thao…Kết cấu hạ tầng xã hội là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự đoàn kết, thƣơng yêu trong cộng đồng, tạo tâm lý sản xuất thoải mái, tạo lòng tin vào cộng đồng, vào tƣơng lai. Từ đó, xây dựng lên môi trƣờng sản xuất thuận lợi, môi trƣờng đời sống thân ái đoàn kết.
Xây dựng nền kinh tế thị trƣờng phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa cần đặc biệt chú trọng đến xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, vì các yếu tố của kết cấu hạ tầng này đảm bảo nâng cao phúc lợi của ngƣời dân. Cuộc sống tinh thần của ngƣời dân cần đƣợc chú ý đầy đủ và giải quyết một cách thỏa đáng, vì điều đó ảnh hƣởng lớn đến lòng tin, đến tâm lý sản xuất. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã nói đến vai trò to lớn của tâm lý trong việc giữ gìn ổn định xã hội, ổn định sản xuất.
(3) Nhân tố hoạt động sản xuất kinh doanh tác động đến hệ thống kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể là tạo điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong hệ
thống sản xuất kinh doanh, bao gồm 3 nhóm hoạt động chủ yếu:
- Các hoạt động sản xuất công nghiệp - Các hoạt động sản xuất nông nghiệp - Các hoạt động sản xuất dịch vụ Hệ thống sản xuất kinh doanh chiếm vị trí trung tâm trong các quy hoạch tổng thể. Hệ thống này là cơ sở của sự phát triển, vì ở đây tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho toàn xã hội. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta xuất phát từ đƣờng lối xây dựng nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trƣờng, phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đã dành nhiều sự chú ý cho việc xây dựng quy hoạch phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời chú trọng đầy đủ đến việc xây dựng quy hoạch phát triển các kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế và cho toàn xã hội.
Các hoạt động sản xuất công nghiệp Trong quy hoạch tổng thể, các hoạt động công nghiệp đƣợc sắp xếp thành: + Các khu công nghiệp tập trung
40
+ Các cụm công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp xen lẫn trong các khu dân cƣ + Các xí nghiệp công nghiệp nhỏ phân tán trong nông thôn + Các hoạt động mang tính chất công nghiệp trong các hộ gia đình nông dân (chủ
yếu là sơ chế nông sản)
Quy hoạch các hoạt động công nghiệp có liên quan chặt chẽ với quy hoạch kết cấu hạ tầng, quy hoạch vùng nguyên liệu và quy hoạch thị trƣờng tiêu thụ. Thực tế cho thấy, các hoạt động công nghiệp có thể quy hoạch phát triển đƣợc mà không ảnh hƣởng đến tính năng động của cơ chế thị trƣờng.
Quy hoạch các khu công nghiệp tập trung đƣợc đặc biệt chú ý, bởi vì các khu công
nghiệp tập trung là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội những vùng xung quanh phát triển.
Các cụm công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp lẻ, phân tán trong các khu dân cƣ, do sự phát triển của các đô thị, do nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng nảy sinh ra, cho nên xu thế chung là di dời các xí nghiệp có nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng ra xác định các khu dân cƣ.
Các hoạt động mang tính chất công nghiệp trong các hộ gia đình nông dân hầu nhƣ không đƣợc nhắc đến trong các quy hoạch tổng thể. Trong chủ trƣơng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, các hoạt động có tính chất công nghiệp trong các hộ nông dân có vị trí rất quan trọng. Các hoạt động này gắn bó rất chặt chẽ với sản xuất nguyên liệu trong nông nghiệp. Mặt khác, nó chịu ảnh hƣởng rất lớn đến của thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm của các hoạt động công nghiệp trong các hộ nông dân, chủ yếu là các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, lại chịu ảnh hƣởng rất lớn của sức mua của nông dân.
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp Bản thân hoạt động sản xuất nông nghiệp là một hệ thống trong hệ thống kinh tế - xã hội và bao gồm nhiều bộ phận hợp thành nhƣ sản xuất trồng trọt, sản xuất chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất thủy sản.
Cho đến nay, Việt Nam về cơ bản vẫn là một nƣớc dựa vào sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất trồng trọt đã có lịch sử phát triển lâu đời. Do trải qua quá trình phát triển lâu dài, cho nên nền nông nghiệp của nƣớc ta đang ở trong trạng thái cân bằng tƣơng đối ổn định.
Các hoạt động kinh doanh dịch vụ Trong một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trƣờng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Các hoạt động này thúc đẩy việc hình thành và phát triển thị trƣờng, tạo nên tính năng động, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trƣờng. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ bao gồm các hệ thống nhỏ hơn nhƣ các hoạt động quản lý Nhà nƣớc, quản lý sản xuất kinh doanh, hoạt động khoa học và đào tạo cán bộ, hoạt động tƣ vấn, hoạt động tài chính, ngân hàng, hoạt động thƣơng mại, hoạt động du lịch, hoạt động giao thông vận tải, hoạt động bƣu chính, viễn thông, hoạt động thông tin, hoạt động văn hóa, hoạt động thể dục thể thao, hoạt động phục vụ tại nhà. Các hoạt động kinh doanh và dịch vụ đóng góp một tỷ lệ lớn trong thu nhập quốc dân nội địa (GDP). Một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trƣờng là một nền kinh tế có GDP dịch vụ trong tổng GDP chiếm tỷ trọng cao.
41
(4) Nhân tố hệ thống các mục tiêu
Quy hoạch tổng thể tạo ra một hệ thống mục tiêu đồng bộ hài hòa cho sự phát triển trong tƣơng lai. Trong công tác quy hoạch, hệ thống các mục tiêu là những đích đặt ra để vƣơn tới, đồng thời đó cũng là điểm xuất phát của các bƣớc phát triển tiếp theo. Vì vậy, hệ thống các mục tiêu không những phải đồng bộ mà còn phải hài hòa, hỗ trợ lẫn nhau tạo nên những bàn đạp vững chắc cho các bƣớc phát triển mạnh mẽ trong tƣơng lai. Hệ thống các mục tiêu bao gồm:
- Phát triển một hệ thống thị trƣờng (khoa học, thông tin, vốn, lao động, hàng
hóa…)
- Các mục tiêu kinh tế (GDP, công nghiệp, dịch vụ…) - Các mục tiêu xã hội (nâng cao đời sống nhân dân, kế hoạch hóa dân số, mức
hƣởng thụ phúc lợi, nâng cao chỉ số phát triển con ngƣời HDI…)
- Các mục tiêu môi trƣờng (làm giàu đa dạng sinh học, làm giàu tài nguyên đất
nƣớc, khoáng sản…)
(i) Phát triển hệ thống thị trường: là một trong những mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Đó là một hệ thống thị trƣờng đƣợc tạo ra với những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, năng động có hiệu quả. Tuy nhiên, đó là một hệ thống thị trƣờng phát triển có sự kiểm soát, theo hƣớng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này là một sự tìm tòi sáng tạo của công tác quy hoạch ở nƣớc ta vì cho đến nay, chƣa có tiền lệ trên thế giới. Công tác quy hoạch cần tính toán làm sao để thị trƣờng phát triển mạnh mẽ rộng khắp nhƣng không phát triển tùy tiện, vô tổ chức làm phá vỡ quy hoạch, phá vỡ nền kinh tế. Quy hoạch hƣớng tới xây dựng nền kinh tế thị trƣờng có kiểm soát, phát triển theo hƣớng xã hội chủ nghĩa cần tạo nên các điều kiện để những biện pháp kiểm soát không tạo nên những trở ngại cho sự phát triển của thị trƣờng. Cần có những đảm bảo để các biện pháp kiểm soát vẫn tạo đƣợc sự cạnh tranh lành mạnh của các yếu tố thị trƣờng. Chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế thị trƣờng, quy hoạch phải tạo đƣợc môi trƣờng cho các yếu tố thị trƣờng hoạt động và phát huy tác động. Đồng thời, quy hoạch phải hƣớng tới xây dựng một hệ thống thị trƣờng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội hoạt động và phát triển, tạo đầu ra thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống thị trƣờng cần có những tác động tích cực lên sự phát triển của kinh tế, tác động lên quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
(ii) Hệ thống các mục tiêu kinh tế: trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các mục tiêu kinh tế phải đƣợc giải quyết song song với các mục tiêu xã hội và các mục tiêu về môi trƣờng. Trong hệ thống kinh tế - xã hội, các hoạt động kinh tế không phải là những hệ thống biệt lập mà gắn bó hữu cơ với các mục tiêu xã hội và các mục tiêu môi trƣờng. Thực tế phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới cho thấy, ở một số nƣớc phát triển có trình độ công nghiệp hóa cao, kinh tế phát triển với tốc độ cao, nhƣng nếu không giải quyết đƣợc các mục tiêu xã hội và môi trƣờng, thì xã hội rơi vào tình trạng bấp bênh không ổn định mà bản thân kinh tế cũng không tiếp tục phát triển đƣợc, thậm chí rơi vào tình trạng khủng hoảng. Lịch sử phát triển của nhiều nƣớc cho thấy là không thể xem nhẹ các mục tiêu xã hội cũng nhƣ các mục tiêu môi trƣờng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ổn định và bền vững. Chuyển sang cơ chế thị trƣờng, quy hoạch tổng thể
42
cần tính toán các mặt để phát triển một hệ thống thị trƣờng bao gồm thị trƣờng hàng hóa, thị trƣờng lao động, thị trƣờng vốn, thị trƣờng vật tƣ, thị trƣờng khoa học, công nghệ.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các mục tiêu kinh tế đã đƣợc chú ý xây dựng. Tuy nhiên, cần đi sâu phân tích các mặt cân đối trong hệ thống mục tiêu và đề ra các biện pháp xử lý để bảo đảm sự hài hòa và cân đối nhịp nhàng trong quá trình vận động phát triển của các mục tiêu thành phần. Trong thực tế, có những mâu thuẫn giữa các mục tiêu. Ví dụ, giữa mục tiêu phát triển công nghiệp với các mục tiêu bảo vệ môi trƣờng, giữa các mục tiêu khai thác tài nguyên với mục tiêu giữ gìn đa dạng sinh học, giữa các mục tiêu đánh bắt cá, nhất là đánh bắt gần bờ với các mục tiêu bảo vệ nguồn lợi thủy sản… Quy hoạch không những phải đảm bảo bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn và theo thời gian phát triển mà còn phải vạch ra giới hạn của các yếu tố trong quá trình phát triển. Đồng thời, đề ra các giải pháp xử lý các mâu thuẫn khi phát sinh và những cơ sở khoa học cho việc lựa chọn mục tiêu khi có những tranh chấp về mục tiêu.
(iii) Các mục tiêu xã hội: trong quy hoạch tổng thể các mục tiêu xã hội là một hệ thống nhƣ nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần, trí tuệ, tình cảm, tâm linh, tín ngƣỡng, nâng cao thể lực, trí lực, tâm lực của con ngƣời, nâng cao đời sống xã hội của cộng đồng. Đời sống con ngƣời rất phong phú và đa dạng. Quy hoạch tổng thể không chỉ chú ý đến một nhóm ngƣời, một tầng lớp ngƣời mà phải chú ý đến toàn bộ xã hội. Trong đó, có các nhóm ngƣời có những lợi ích khác nhau, có tình cảm, tín ngƣỡng khác nhau. Hệ thống các mục tiêu xã hội cần đảm bảo thể hiện đƣợc đƣờng lối phát triển của Đảng lãnh đạo, đi đôi với việc đảm bảo kinh tế - xã hội không ngừng phát triển bền vững, đảm bảo đƣợc chính sách đại đoàn kết, chính sách tự do tín ngƣỡng và nhiều chính sách khác. Quy hoạch cần tính toán kỹ để vừa đảm bảo đƣợc xóa đói giảm nghèo, vừa đảm bảo đƣợc kinh tế - xã hội phát triển với tốc độ nhanh, bền vững.
(iv) Các mục tiêu môi trường: là một hệ thống bao gồm giữ gìn, làm giàu và khai thác có hiệu quả các dạng tài nguyên thiên nhiên, tạo ra và thƣờng xuyên hoàn thiện môi trƣờng sống, môi trƣờng sản xuất, kinh doanh, ngăn ngừa suy thoái môi trƣờng, thống kê, đánh giá, xử lý và kiểm soát các nguồn ô nhiễm môi trƣờng.
Tài nguyên thiên nhiên nhìn chung là có giới hạn. Gìn giữ tài nguyên cho mai sau là nghĩa vụ quan trọng của thế hệ hôm nay. Phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian vừa qua ở các nƣớc chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay, quá trình này đang diễn ra ở các nƣớc đang phát triển. Nhƣng ở các nƣớc tiên tiến, nơi khoa học và công nghệ đạt đến trình độ cao, phát triển kinh tế - xã hội chuyển dần sang khai thác trí tuệ con ngƣời trên cơ sở nắm bắt các quy luật của tự nhiên, hƣớng các quá trình chu chuyển vật chất trong thiên nhiên vào việc tạo ra những năng suất kinh tế phục vụ lợi ích cho con ngƣời. Ngay trong quá trình khai thác trí tuệ con ngƣời, khai thác khoa học và công nghệ thì vấn đề giữ gìn, làm giàu tài nguyên thiên nhiên cũng là một mục tiêu của mọi quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
43
1.2.3. Quan hệ của quy hoạch tổng thể trong sự nghiệp CNH - HĐH
Hoạt động của quy hoạch tổng thể là xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm tăng trƣởng kinh tế nhanh, phát triển ổn định, bền vững trên cơ sở sử dụng tối ƣu các nguồn lực.
Quy hoạch tổng thể dựa trên đƣờng lối và chiến lƣợc phát triển của quốc gia, thực trạng phát triển kinh tế xã hội và các nguồn lực, những ƣu thế, hạn chế, khó khăn thách thức, triển vọng của vùng trong quan hệ phát triển khu vực và quốc tế.
Nhƣ đã trình bày ở các mục trên, quy hoạch tổng thể là sự cụ thể hóa chiến lƣợc kinh tế - xã hội thành các chƣơng trình phát triển và sự bố trí chiến lƣợc là căn cứ cho việc hoạch định các chính sách, xây dựng kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, thiết lập quy hoạch cơ sở và các dự án cụ thể.
Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội (mục tiêu, chƣơng trình, bố trí chiến lƣợc) - Chính sách phát triển. - Kế hoạch trung hạn, ngắn hạn - Quy hoạch cơ sở - Dự án cụ thể Chiến lƣợc kinh tế xã hội quốc gia
Sơ đồ 1.2: Quan hệ QHTTPTKTXH trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhƣ vậy, quy hoạch TTPTKTXH đóng vai trò hƣớng dẫn và điều phối các loại hình quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch ngành theo mục đích thống nhất của sự phát triển bền vững. Nó là công cụ quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
1.3. Mối quan hệ giữa quy hoạch TTPTKTXH với các loại hình quy hoạch khác
Quy hoạch có thể phân thành nhiều loại hình khác nhau dựa vào nội dung, đối tƣợng, mức độ, phạm vi của quy hoạch, tính chất chuyên môn của quy hoạch. Có thể phân thành các loại chính nhƣ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội theo lãnh thổ, quy hoạch tổng thể phát triển theo ngành, quy hoạch cảnh quan, quy hoạch đô thị và xây dựng, quy hoạch kiến trúc, quy hoạch sử dụng đất đai…
Quy hoạch tổng thể đƣợc quan niệm là quy hoạch chung cho mọi ngành kinh tế, cho mọi lĩnh vực xã hội và cho mọi yếu tố môi trƣờng trên một quy mô lãnh thổ nhất định. Khi tiến hành quy hoạch tổng thể, tất cả mọi đối tƣợng về kinh tế, xã hội và môi trƣờng của quy hoạch đều đƣợc xem xét, đánh giá, cân nhắc tính toán. Tính tổng thể của quy hoạch đòi hỏi sự sắp xếp, bố trí cho bất kỳ một đối tƣợng nào cũng phải đặt chúng trong mối liên hệ tổng thể với các đối tƣợng khác trong lãnh thổ quy hoạch, để đảm bảo sự phối hợp hài hòa, hợp lý, có hiệu quả của sự phát triển bền vững theo các chỉ số cân bằng, tƣơng quan của phát triển và bền vững. Quy hoạch tổng thể đòi hỏi có một mục tiêu tổng quát về kinh tế - xã hội và môi trƣờng, đồng thời có cả các mục tiêu căn bản của các ngành kinh tế, của các lĩnh vực xã hội và môi trƣờng cùng nằm trong quy hoạch. Quy hoạch tổng thể thể hiện sự bố trí theo phạm vi không gian lãnh thổ khác nhau cho các ngành kinh tế khác nhau, cho các đối tƣợng xã hội và môi trƣờng khác nhau trong giới hạn lãnh thổ nhằm đạt đƣợc mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
44
Quy hoạch ngành là quy hoạch riêng cho các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội hoặc yếu tố cho môi trƣờng, có các mục tiêu cụ thể, có các đối tƣợng cụ thể ở trên những phạm vi phân bố chi tiết, có các dự án phát triển theo ngành và các giải pháp thực hiện cụ thể. Quy hoạch ngành kinh tế có quy hoạch công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, thủy lợi, giao thông vận tải, du lịch, dịch vụ, thƣơng mại… Quy hoạch xã hội có quy hoạch dân số, nguồn lực, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin. Quy hoạch kinh tế - xã hội luôn luôn đi kèm theo hệ quả môi trƣờng nên các quy hoạch kinh tế - xã hội bắt buộc phải tiến hành đồng thời với quy hoạch môi trƣờng trong thể thống nhất của sự phát triển bền vững.
1.3.1. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH với quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch tổng thể mang tính chiến lƣợc, chỉ đạo sự phát triển kinh tế - xã hội trong tƣơng lai và đƣợc luận chứng bằng nhiều phƣơng án khác nhau về khai thác và sử dụng các nguồn lực, phân bố lực lƣợng sản xuất theo không gian lãnh thổ có tính đến chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp. Nhƣ vậy, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng trƣởng, phát triển kinh tế nhanh, ổn định và bền vững. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội nghiên cứu toàn bộ các nguồn lực về tự nhiên, về con ngƣời, về cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng luận cứ khoa học cho sự phát triển đồng bộ nền kinh tế.
Quy hoạch sử dụng đất thực hiện việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cho các mục đích nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Quy hoạch sử dụng đất căn cứ vào yêu cầu phát triển và đặc điểm tự nhiên kinh tế, xã hội để điều chỉnh cơ cấu và phƣơng hƣớng sử dụng đất đai, xây dựng phƣơng án sử dụng đất hợp lý và hiệu quả nhất.
Quan hệ của quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Nhƣ vậy, quy hoạch tổng thể chỉ đạo và điều phối quy hoạch sử dụng đất, còn quy hoạch sử dụng đất thống nhất, hòa hợp với quy hoạch tổng thể.
1.3.2. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH và quy hoạch phát triển các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là sự phân bố các vùng nông nghiệp (diện tích, vị trí, loại cây trồng, chăn nuôi động vật), sản lƣợng và mức tăng trƣởng của sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ dài hạn trên một phạm vi lãnh thổ xác định. Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những bộ phận của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Quy hoạch phát triển công nghiệp là việc bố trí các khu công nghiệp (vị trí và diện tích), chỉ tiêu phát triển đối với ngành công nghiệp chính (sản lƣợng và mức tăng trƣởng).
Quy hoạch phát triển các ngành là cơ sở và là bộ phận hợp thành của quy hoạch tổng thể, chịu sự chỉ đạo và khống chế của quy hoạch tổng thể. Quy hoạch tổng thể xác định một cơ cấu hợp lý giữa các ngành kinh tế trong tổng thu nhập quốc dân, xác định nhịp độ tăng trƣởng của các ngành nhằm đạt đƣợc mục tiêu phát triển chung của toàn nền
45
kinh tế. Quan hệ giữa chúng là quan hệ giữa cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn diện, có sự thống nhất theo không gian và thời gian trong một khu vực. Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau về tƣ tƣởng chỉ đạo và nội dung giữa một bên là cụ thể, cục bộ trong phạm vi hẹp, sự sắp xếp mang tính chiến thuật, một bên là định hƣớng chiến lƣợc, có tính toàn diện tổng thể toàn bộ nền kinh tế.
1.3.3. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKT-XH với quy hoạch đô thị và xây dựng
Quy hoạch tổng thể phải nghiên cứu tổ chức mạng lƣới dân cƣ trong phạm vi không gian lãnh thổ, dự kiến sự phát triển đô thị và các khu dân cƣ trong tƣơng lai, đề xuất các phƣơng án phát triển đô thị và vai trò chức năng của các đô thị, các khu vực nông thôn trong sự phát triển chung của cả vùng nghiên cứu. Quy hoạch đô thị và xây dựng nhằm bố trí sản xuất các khu chức năng, các yếu tố đô thị một cách hợp lý khoa học. Quy hoạch khu vực đô thị bao gồm thiết kế khu vực ở, khu công sở, khu công nghiệp, giao thông, cấp thoát nƣớc, công viên cây xanh. Quy hoạch đô thị là bƣớc cụ thể hóa của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, là quy hoạch ngành nhằm tổ chức không gian tổng thể và bố trí các công trình trên lãnh thổ xác định trong từng thời kỳ. Quy hoạch xây dựng là cơ sở trực tiếp để quản lý, triển khai các dự án đầu tƣ xây dựng.
Nhƣ vậy, quy hoạch tổng thể tạo ra khung phát triển, còn quy hoạch đô thị và xây dựng chi tiết hóa khung phát triển một cách cụ thể ở khu vực đô thị. Quy hoạch đô thị và xây dựng chịu sự điều chỉnh của quy hoạch tổng thể nhƣng nó phải phù hợp với điều kiện cụ thể ở mức chi tiết.
1.3.4. Quan hệ giữa quy hoạch TTPTKTXH với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng có mối quan hệ rất chặt chẽ với tất cả các ngành, các lĩnh vực. Nó là nền tảng quan trọng tạo nên hình thái kinh tế chính trị nhất định. Kết cấu hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ, dịch vụ bao gồm việc xây dựng đƣờng sá, công trình thủy lợi, hải cảng, sân bay, kho tàng, cung cấp năng lƣợng, cơ sở kinh doanh, cơ sở giáo dục, y tế, khoa học…Cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phát triển và đi trƣớc một bƣớc so với các hoạt động khác. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện và là yếu tố tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội.
Nhƣ vậy, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội bao trùm, định hƣớng cho quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng. Quy hoạch kết cấu hạ tầng là cụ thể chi tiết của quy hoạch tổng thể trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng.
2. BẢN CHẤT CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1. Khái luận về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch là việc lựa chọn phƣơng án phát triển và tổ chức không gian các đối tƣợng kinh tế, xã hội và môi trƣờng cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ xác định, có tính tới các điều kiện của kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế.
Ở Việt Nam, khái niệm quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc sử dụng rộng rãi và thống nhất trong lĩnh vực kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Thực tế
46
cho thấy, ở nƣớc ta khái niệm quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng (gọi tắt là quy hoạch vùng) rất gần với khái niệm tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội ở các nƣớc phƣơng Tây.
Trên thế giới, các nƣớc sử dụng những thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã
hội” không giống nhau:
- Các nhà khoa học thuộc Liên Xô trƣớc đây cho rằng: tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội đƣợc thực hiện trên các lãnh thổ cụ thể ở những cấp độ khác nhau, phổ biến là trên các vùng kinh tế cơ bản và vùng kinh tế hành chính tỉnh. Họ coi tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội là sự sản xuất, phân bố và phối hợp các đối tƣợng gây ảnh hƣởng lẫn nhau, có liên hệ qua lại giữa các hệ thống dân cƣ, nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí kinh tế - xã hội để đạt hiệu quả kinh tế cao và nâng cao mức sống dân cƣ của lãnh thổ đó. Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội đƣợc xem nhƣ việc tổ chức sự phối hợp giữa các ngành sản xuất, các quá trình và cơ sở sản xuất trong một phạm vi lãnh thổ nhất định.
- Các nhà khoa học của các quốc gia phát triển ở phƣơng Tây theo hƣớng kinh tế thị trƣờng lại sử dụng phổ biến thuật ngữ “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội”, tổ chức không gian ra đời từ cuối thế kỷ XIX và đã trở thành một khoa học kinh tế lãnh thổ. Họ cho rằng: tổ chức không gian đƣợc xem nhƣ là lựa chọn nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả (Jean Pean, Paul Đại diện Gaudemar năm 1992). Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là tìm kiếm một tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế xã hội giữa ngành trong một vùng, giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng hoặc giữa các vùng trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có xét đến mối liên kết giữa các quốc gia với nhau tạo ra một giá trị mới nhờ có sự sắp xếp theo trật tự và hài hòa giữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một vùng đó. Nói một cách khái quát hóa, tổ chức không gian kinh tế - xã hội là sự tìm kiếm trong khung cảnh địa lý quốc gia, sự phân bổ tốt nhất các hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội là nội dung cụ thể của một chính sách kinh tế phát triển theo lãnh thổ dài hạn nhằm cải thiện môi trƣờng trong đó diễn ra cuộc sống và các hoạt động của con ngƣời. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội ở góc độ địa lý học, xem nhƣ là một hành động hƣớng tới sự công bằng về mặt không gian ảnh hƣởng, nhằm giải quyết ổn định công ăn việc làm, cân đối giữa quần cƣ nông thôn và quần cƣ thành thị, bảo vệ môi trƣờng sống.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội là sự “sắp xếp” và phối hợp các đối tƣợng trong mối liên hệ đa ngành, đa ĩnh vực và đa lãnh thổ trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ đƣợc tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cƣ, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng đó.
Nhƣ vậy, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội là việc sắp xếp các đối tƣợng (các xí nghiệp, công trình, các ngành, các lĩnh vực, các điểm dân cƣ và kết cấu hạ tầng…). Việc tổ chức đƣợc tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. Chủ thể tổ chức cũng là chủ thể quản lý phát triển vùng, đó là những cơ quan Nhà nƣớc đƣợc quy định trong Hiến pháp và luật pháp hiện hành của quốc gia.
47
Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội có 3 đặc tính cơ bản. Đó là: tính kết cấu hệ
thống, tính lãnh thổ, tính đa phƣơng án.
- Tính kết cấu hệ thống: Tổ chức là sắp xếp các đối tƣợng đa dạng, luôn luôn vận động và phát triển, chúng độc lập tƣơng đối và có tác động qua lại. Hệ thống lãnh thổ có giới hạn, sức chứa của nó quy định tính chất và trình độ phát triển. Tính kết cấu thể hiện ở sự muôn màu muôn vẻ trong việc sắp xếp và định hƣớng các đối tƣợng. Tính định hƣớng thể hiện ở việc làm cho các phần tử phát triển hài hòa, nhịp nhàng với nhau.
- Tính lãnh thổ: Tính lãnh thổ thể hiện ở sự đa dạng không gian. Trong một vùng có nhiều tiểu vùng với các điều kiện không thật giống nhau làm cho việc phân bố các đối tƣợng có sự đa dạng, linh hoạt nên tổ chức phải có những xem xét liên lãnh thổ và đề ra một “biên độ” thay đổi sau đó.
- Tính đa phương án: Khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội do thiếu thông tin, thiếu căn cứ cần thiết, đồng thời việc dự báo các nhân tố ảnh hƣởng tới tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội trong tƣơng lai cũng bị nhiều giới hạn bởi các nhân tố dự báo đều thay đổi khó lƣờng, nên khi xây dựng phƣơng hƣớng tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội cần phải tính toán nhiều phƣơng án, trong đó có một phƣơng án chủ đạo đƣợc lựa chọn để thực hiện.
Các đối tƣợng của tổ chức lãnh thổ có liên hệ chặt chẽ với nhau theo cả chiều ngang và chiều dọc, theo cả thời gian và không gian, chúng liên kết chặt chẽ với nhau trong sự vận động không ngừng trong một hệ thống bao gồm mối liên hệ địa lý, liên hệ kỹ thuật và liên hệ kinh tế.
Đối với hệ thống kinh tế - xã hội lãnh thổ, cơ cấu kinh tế là thuộc tính quan trọng nhất. Các ngành liên kết với nhau tạo nên cơ cấu kinh tế ngành quyết định tính chất, trình độ của hệ thống kinh tế - xã hội lãnh thổ. Trên cơ sở phân công lao động theo ngành, cơ cấu ngành của hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội đƣợc hình thành và phát triển. Thực chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội chính là tìm ra phƣơng án hợp lý nhất về kiến thức lãnh thổ làm sao cho trong quá trình phát triển của các ngành, lĩnh vực vận động theo cùng hƣớng và liên hệ mật thiết với nhau tạo ra tính chất nhất quán cần thiết, mà đó là đòi hỏi của hoạt động kinh tế nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao và có đƣợc sự phát triển bền vững cho lãnh thổ và cho cả hệ thống lớn hơn.
Quy hoạch phát triển là bản luận chứng khoa học về kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và tổ chức không gian hợp lý về phát triển kinh tế, xã hội (hay bố trí hợp lý kinh tế, xã hội) theo lãnh thổ.
Quy hoạch phát triển bao gồm những nội dung cơ bản: - Tổng kết quá trình phát triển 10 – 15 năm của thời kỳ trƣớc khi quy hoạch - Phân tích, dự báo các yếu tố và nguồn lực phát triển - Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển - Xây dựng các phƣơng án phát triển và tổ chức không gian (bao gồm các chƣơng
trình, dự án ƣu tiên)
- Các giải pháp thực hiện
48
Quy hoạch phát triển tập trung vào những vấn đề then chốt: quan điểm, mục tiêu và định hƣớng phát triển, các giải pháp về cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, các chƣơng trình và dự án đầu tƣ quan trọng.
Mục đích và lợi ích của quy hoạch phát triển là tìm ra phƣơng án, giải pháp (hay nghệ thuật) khai thác các tiềm năng, nguồn lực và sử dụng có hiệu quả lãnh thổ nhẳm phát triển bền vững. Đối tƣợng của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là các ngành, lĩnh vực là lãnh thổ và toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội bao gồm các quy hoạch thành phần chủ
yếu sau:
- Quy hoạch phát triển xã hội: đề ra các phƣơng hƣớng và các chỉ tiêu phát triển về tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số, phân bố dân cƣ, tỷ lệ dân đô thị, mật độ dân cƣ ở nông thôn và đô thị, mức thu nhập của ngƣời dân, diện tích nhà ở trên đầu ngƣời, tỷ lệ số dân đƣợc cấp nƣớc sạch, trình độ văn hóa và sức khỏe của cộng đồng, chỉ tiêu phát triển giáo dục, văn hóa và các cơ sở phục vụ sức khỏe.
- Quy hoạch sử dụng đất: bố trí phân chia các khu đất theo các yêu cầu sử dụng khác nhau (đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất phát triển công nghiệp, đất giao thông, đất chuyên dùng…).
- Quy hoạch phát triển đô thị: phân bố và quy mô phát triển các đô thị, hình thành mạng lƣới các đô thị trong vùng, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, phân khu chức năng địa bàn các đô thị…
- Quy hoạch phát triển và sử dụng năng lƣợng: nhiệt điện, thủy điện, và các dạng
năng lƣợng khác.
- Quy hoạch sử dụng tài nguyên nƣớc: nguồn nƣớc (chất lƣợng và lƣu lƣợng), mặt nƣớc, nƣớc ngầm, lƣợng nƣớc sử dụng cho dân sinh, cho nông nghiệp, cho năng lƣợng, công nghiệp và dùng cho các mục đích khác.
- Quy hoạch phát triển công nghiệp: bố trí các khu công nghiệp (vị trí và diện tích), chỉ tiêu phát triển đối với ngành công nghiệp chính (sản lƣợng và mức tăng trƣởng), dự báo xác định tổng sản lƣợng chất thải khí, chất thải nƣớc, chất thải rắn…
- Quy hoạch phát triển nông nghiệp: phân bố các vùng nông nghiệp (diện tích, vị
trí, loại cây trồng, vật nuôi, sản lƣợng và mức tăng trƣởng).
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải: quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ, đƣờng thủy, đƣờng hàng không (quy hoạch mạng lƣới và tổng diện tích đất sử dụng, phƣơng tiện giao thông, hàng hóa vận chuyển, tổng số hành khách…)
- Quy hoạch phát triển du lịch: phát triển các khu du lịch, các danh lam thắng
cảnh, các công trình lịch sử văn hóa, bảo tàng, tổng lƣợng khách du lịch mỗi năm…
- Quy hoạch phát triển thƣơng mại và dịch vụ: phát triển các trung tâm thƣơng
mại dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Những luận cứ trên cho thấy về nội dung và mức độ quản lý kinh tế vĩ mô “quy
hoạch phát triển” thực chất có thể coi là “quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội”.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là việc luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế, xã hội hợp lý (hay bố trí hợp lý kinh
49
tế, xã hội) theo ngành và lãnh thổ để thực hiện mục tiêu chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.
Quy hoạch phát triển bao gồm quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nƣớc (gọi tắt là quy hoạch cả nƣớc), quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ (gọi tắt là quy hoạch lãnh thổ).
Quy hoạch lãnh thổ bao gồm quy hoạch vùng kinh tế - xã hội (hay còn gọi là vùng lớn), các vùng kinh tế trọng điểm, các lãnh thổ đặc biệt, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi tắt là tỉnh) và huyện, quận, thị xã (gọi tắt là huyện).
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc là bƣớc cụ thể hóa của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia nhằm khai thác, phát huy có hiệu quả các điều kiện và đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.
Quy hoạch ngành bao gồm các quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật, quy hoạch sản phẩm. Quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, các sản phẩm chủ lực do Thủ tƣớng Chính phủ quy định (danh mục do Bộ Kế hoạch và đầu tƣ tổng hợp yêu cầu của các Bộ quản lý ngành và trình Thủ tƣớng Chính phủ quyết định).
Quy hoạch phát triển các ngành thuộc kết cấu hạ tầng (gồm cả kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội) có thời gian định hƣớng quy hoạch là 20 năm hoặc xa hơn. Quy hoạch các ngành kết cấu hạ tầng kinh tế đƣợc định vị và có tính ổn định.
Quy hoạch phát triển các ngành sản xuất kinh doanh là quy hoạch có tính chất
định hƣớng phù hợp với điều kiện kinh tế thị trƣờng.
Trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, các cơ quan đƣợc Chính phủ giao tiến hành lập các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, quy hoạch các vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành. Trong trƣờng hợp khi chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc chƣa bao quát tầm nhìn dài hạn thì các cơ quan Nhà nƣớc phải xây dựng định hƣớng chiến lƣợc phát triển để làm căn cứ cho việc lập quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, quy hoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành.
Quy hoạch cả nƣớc, quy hoạch các vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành đƣợc lập trƣớc để làm cơ sở tiến hành quy hoạch các tỉnh. Quy hoạch tỉnh phải đƣợc làm trƣớc để làm cơ sở cho quy hoạch huyện. Quy hoạch ngành trên lãnh thổ tỉnh là việc cụ thể hóa định hƣớng phát triển quy hoạch ngành của cả nƣớc trên địa bàn có tính tới đặc điểm của tỉnh. Mối quan hệ giữa quy hoạch cả nƣớc, quy hoạch các vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành và quy hoạch tỉnh là mối quan hệ trên xuống dƣới lên, vừa là cơ sở, vừa là căn cứ bổ sung lẫn nhau.
Quy hoạch cả nƣớc giữ vai trò chủ đạo, đồng thời quy hoạch vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành là cơ sở pháp lý để tiến hành lập các quy hoạch cụ thể và quy hoạch xây dựng. Quy hoạch cụ thể và quy hoạch xây dựng khi đƣợc lập là cơ sở để thực thi các phƣơng án của quy hoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành, đồng thời còn là căn cứ bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cả nƣớc, quy hoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành.
Quy hoạch tổng thể đƣợc xây dựng theo các định hƣớng, mục tiêu và thời đoạn kế hoạch của chiến lƣợc. Nó thể hiện các mục tiêu theo thời đoạn kế hoạch của chiến lƣợc
50
trên phạm vi không gian lãnh thổ của quốc gia, của khu vực hoặc của tỉnh, huyện. Nó là căn cứ cho các quy hoạch ngành. Bởi vậy, quy hoạch tổng thể cần đƣợc làm trƣớc. Tất cả các quy hoạch ngành hoặc quy hoạch chi tiết hơn nên đƣợc làm sau trên cơ sở căn cứ vào các mục tiêu của quy hoạch tổng thể và dựa vào tình hình cụ thể của ngành mà xây dựng quy hoạch ngành cho thích hợp, có hiệu quả.
2.2. Bản chất của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch là một công cụ để quản lý sự phát triển đất nƣớc, thể hiện tầm nhìn, bố
trí chiến lƣợc về thời gian và không gian phát triển một ngành hay một vùng lãnh thổ.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là sự cụ thể hóa các chiến lƣợc phát
triển, làm cơ sở định hƣớng cho kế hoạch 5 năm và hàng năm.
Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
có 2 nội dung cơ bản là:
- Dự báo về mặt phát triển, nghĩa là dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu, nó trả lời câu hỏi: làm cái gì? Làm cho ai và làm bao nhiêu?
- Luận chứng các phƣơng án tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ, nó trả lời cho
Hai nội dung trên gắn kết chặt chẽ với nhau, chúng phải đƣợc trả lời một cách thỏa
câu hỏi: làm ở đâu? đáng, chính xác và rõ ràng. Để góp phần đổi mới công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ rất quan tâm chỉ đạo các Bộ, Ngành triển khai thực hiện công tác quy hoạch, ban hành các văn bản nhƣ chỉ thị 32/1998/CT –TTg ngày 23/09/1998 của Chính phủ về công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đến 2010. Ngày 22/7/2003 Bộ trƣởng Bộ Kế hoạch và đầu tƣ đã ra thông tƣ số 05/2003/TT – BKH hƣớng dẫn về nội dung và trình tự lập, thẩm định và quản lý các dự án phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ. Ngày 7/9/2006, Chính phủ ra Nghị định số 92/2006/NĐ – CP về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Tại điều 4 của Nghị định 92/2006/NĐ – CP của Chính phủ ngày 7/9/2006 (nay đã đƣợc sửa đổi, bổ sung) xác định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội bao gồm:
a) Quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội, các lãnh thổ đặc biệt (vùng kinh tế trọng điểm; khu kinh tế, khu kinh tế quốc phòng, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ của cả nƣớc; hành lang kinh tế, vành đai kinh tế); quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh.
b) Để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì, phối hợp với các sở, ngành trong tỉnh, lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện.
c) Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu trên phạm vi cả nƣớc (quy định tại khoản 14 Điều 1 Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2006/NĐ-CP). d) Đối với quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh: căn cứ yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ, quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
51
Dƣới đây, trình bày chi tiết hơn một số vấn đề về phân loại và nội dung chủ yếu của hai loại quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ
2.2.1. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực
Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (gọi tắt là quy hoạch ngành) là việc luận chứng, lựa chọn phƣơng án phát triển và phân bố ngành hợp lý trên phạm vi cả nƣớc và trên các vùng lãnh thổ với sự tham gia của các thành phần kinh tế. a. Các loại ngành, lĩnh vực sau đây cần phải lập quy hoạch - Quy hoạch các ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật: mạng lƣới giao thông, vận tải, mạng lƣới bƣu chính viễn thông, hệ thống thủy lợi và sử dụng tổng hợp nƣớc ( cấp nƣớc, thoát nƣớc), mạng lƣới điện.
- Quy hoạch các ngành thuộc kết cấu hạ tầng xã hội: giáo dục – đào tạo, y tế và
chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao.
- Quy hoạch các ngành thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, xây dựng, công
nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thƣơng mại, tài chính – tín dụng, du lịch.
- Quy hoạch các ngành thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ và bảo vệ môi trƣờng,
khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trƣờng.
- Quy hoạch các ngành thuộc lĩnh vực khác: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
các khu công nghiệp, quy hoạch các công trình quốc phòng, quy hoạch bảo vệ an ninh.
- Quy hoạch phát triển các ngành sản phẩm chủ lực. b. Một số nội dung chủ yếu của quy hoạch ngành, lĩnh vực Nội dung chủ yếu của quy hoạch ngành sản xuất kinh doanh: - Phân tích, dự báo các yếu tố phát triển ngành, trong đó có phân tích, dự báo đầy
đủ yếu tố thị trƣờng và yêu cầu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển và phân bố ngành trên các ngành lãnh thổ. Phân tích cơ cấu ngành, sản phẩm chủ lực, đầu tƣ, công nghệ, lao động, tổ chức sản xuất.
- Xác định vị trí, vai trò của ngành đối với nền kinh tế quốc dân và các mục tiêu phát triển của ngành. Phân tích cung cầu trên thế giới và khu vực, tình hình cạnh tranh trên thế giới và trong nƣớc.
- Luận chứng các phƣơng án phát triển cơ cấu ngành, sản phẩm chủ lực và các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu quy hoạch đƣợc thực hiện (đầu tƣ, công nghệ, lao động).
- Luận chứng phƣơng án phân bố các ngành trên các vùng lãnh thổ, nhất là đối
với các công trình then chốt và phƣơng án bảo vệ môi trƣờng.
- Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách và đề xuất các phƣơng án thực
hiện.
- Xây dựng danh mục công trình, dự án đầu tƣ trọng điểm, trong đó có chia ra
bƣớc đi cho 5 năm đầu tiên, tổ chức thực hiện quy hoạch.
- Thể hiện các phƣơng án quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên bản đồ quy
hoạch.
52
Nội dung chủ yếu của quy hoạch các ngành thuộc kết cấu hạ tầng: - Xác định nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội về cơ sở hạ tầng trong từng giai
đoạn lịch sử cụ thể.
- Dự báo tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển kết cấu hạ tầng của khu vực
tác động tới phát triển kết cấu hạ tầng của đất nƣớc trong thời kỳ quy hoạch.
- Luận chứng các phƣơng án phát triển kết cấu hạ tầng trên phạm vi cả nƣớc và
các vùng lãnh thổ.
- Luận chứng các giải pháp, công trình đầu tƣ ƣu tiên và tổ chức thực hiện. Nội dung chủ yếu của quy hoạch sản phẩm chủ lực: - Xác định vai trò, nhu cầu tiêu dùng nội địa và khả năng thị trƣờng nƣớc ngoài
của sản phẩm.
- Phân tích hiện trạng và tiêu thụ sản phẩm. - Dự báo khả năng công nghệ và sức cạnh tranh của sản phẩm. - Luận chứng các phƣơng án phát triển và khuyến nghị phƣơng án phân bố sản
xuất trên các vùng và các tỉnh.
- Xác định các giải pháp, cơ chế, chính sách, phƣơng hƣớng hợp tác quốc tế. - Thể hiện các phƣơng án phát triển ngành trên bản đồ quy hoạch.
2.2.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ là việc luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế, xã hội hợp lý theo ngành và lãnh thổ xác định. a. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ bao gồm:
- Quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội, các vùng kinh tế trọng điểm, các lãnh thổ đặc biệt (gọi chung là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, gọi tắt là quy hoạch vùng).
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ƣơng (gọi chung là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh)
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố, thị xã và huyện, quận
thuộc tỉnh (gọi là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện).
Quy hoạch phát triển ngành và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quy hoạch phát triển ngành trên phạm vi cả nƣớc đƣợc lập trƣớc, làm cơ sở cho quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ.
Các nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ đƣợc quy định tại các Điều 12, Điều 16, Điều 19, Điều 22 trong Nghị định 92/2006/ NĐ – CP.
Dƣới đây là trích lƣợc nội dung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (Điều 19). b. Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh bao gồm: (1) Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của tỉnh trong vùng và so sánh với các tỉnh lân cận: phân tích, đánh giá thực trạng khai thác
53
lãnh thổ; phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều kiện phát triển của lãnh thổ trong tổng thể vùng lớn hơn và cả nƣớc có tính tới mối quan hệ khu vực và quốc tế. Phân tích đánh giá thực trạng phát triển nền kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ tỉnh; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của tỉnh đó là:
- Phân tích, đánh giá và dự báo khả năng huy động các yếu tố tự nhiên, kinh tế,
xã hội vào mục tiêu phát triển của tỉnh trong vùng và cả nƣớc.
Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ và khả năng phát huy các yếu tố này cho quy
hoạch phát triển.
Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và dự báo khả
năng khai thác, bảo vệ chúng.
Phân tích, đánh giá phát triển và dự báo dân số, phân bố dân cƣ gắn với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và các giá trị văn hóa phục vụ phát triển.
Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng về mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển
cao hơn.
Phân tích, đánh giá quá trình phát triển và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
Khi phân tích và dự báo các yếu tố và điều kiện phát triển cần chú trọng yếu tố thị
trƣờng và xác định các lợi thế so sánh với các tỉnh khác và có tính tới cạnh tranh quốc tế.
- Phân tích, dự báo ảnh hƣởng của các yếu tố trong nƣớc và quốc tế đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tác động của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, của vùng đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Đánh giá về các lợi thế so sánh, hạn chế và cơ hội cùng các thách thức đối với
phát triển của tỉnh trong thời kỳ quy hoạch.
(2) Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phƣơng hƣớng phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với chiến lƣợc và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, cả vùng.
Xác định vị trí, vai trò của tỉnh đối với nền kinh tế của vùng và cả nƣớc, từ đó luận chứng mục tiêu và quan điểm phát triển của tỉnh. Tác động của chiến lƣợc và quy hoạch cả nƣớc, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành đối với tỉnh trong thời kỳ quy hoạch. Luận chứng mục tiêu phát triển (gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể).
- Đối với mục tiêu kinh tế: tăng trƣởng GDP, tổng GDP, giá trị xuất khẩu và tỷ trọng đóng góp của tỉnh đối với vùng và cả nƣớc, đóng góp vào ngân sách, GDP/ngƣời, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh có so sánh với bình quân chung của vùng và cả nƣớc.
- Đối với mục tiêu xã hội: mức tăng việc làm, giảm thất nghiệp, giảm đói nghèo, mức độ phổ cập học về học vấn, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức giảm bệnh tật và tệ nạn xã hội.
- Đối với mục tiêu môi trƣờng: giảm mức độ ô nhiễm môi trƣờng và mức đảm bảo các yêu cầu về môi trƣờng trong sạch theo tiêu chuẩn môi trƣờng (tiêu chuẩn Việt Nam).
- Đối với mục tiêu quốc phòng, an ninh: ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,
phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
54
(3) Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Luận chứng phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng các phƣơng án phát triển, xác định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm chủ lực, trong đó xác định chức năng, nhiệm vụ và vai trò đối với tỉnh và vùng của các trung tâm đô thị và tiểu vùng trong điểm.
- Lựa chọn phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng và lựa chọn phƣơng án phát triển, phƣơng hƣớng phát triển và phân bố các ngành, các sản phẩm chủ yếu và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ (kể cả đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và cho thời kỳ quy hoạch).
- Luận chứng phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp phát triển và đào tạo
nguồn nhân lực.
(4) Luận chứng phƣơng án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ tỉnh
(lựa chọn phƣơng án tổng thể khai thác lãnh thổ).
- Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thị và khu công nghiệp, phát triển hệ thống khu,
cụm công nghiệp, khu kinh tế thƣơng mại, các khu kinh tế đặc thù khác.
- Tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn, phát triển các vùng cây trồng, vật nuôi hàng
hóa, phát triển làng nghề.
- Xác định phƣơng hƣớng phát triển cho những lãnh thổ đang kém phát triển và những lãnh thổ có vai trò động lực, phát triển các vùng khó khăn gắn với ổn định dân cƣ, xóa đói, giảm nghèo.
- Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân
cƣ giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cƣ.
(5) Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài của
các hoạt động kinh tế, xã hội của tỉnh gắn với các tỉnh khác trong vùng và cả nƣớc.
- Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới giao thông của tỉnh trong tổng thể
mạng lƣới giao thông của cả vùng.
- Lựa chọn phƣơng án phát triển thông tin liên lạc, bƣu chính, viễn thông. - Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới chuyển tải điện gắn với mạng lƣới
chuyển tải điện của cả vùng.
- Lựa chọn phƣơng án phát triển các công trình thủy lợi, cấp nƣớc. - Lựa chọn phƣơng án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và phúc lợi công cộng. Phát triển mạng lƣới giáo dục – đào tạo (cả đào tạo nghề), hệ thống y tế - chăm sóc sức khỏe và các cơ sở văn hóa – xã hội.
(6) Định hƣớng quy hoạch sử dụng đất (dự báo các phƣơng án sử dụng đất căn cứ
vào định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực).
(7) Luận chứng danh mục dự án ƣu tiên đầu tƣ. (8) Luận chứng bảo vệ môi trƣờng, xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trƣờng và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này.
(9) Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch, đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn
55
để đảm bảo thực hiện và luận chứng các bƣớc thực hiện quy hoạch, đề xuất phƣơng án tổ chức thực hiện quy hoạch. Cụ thể là:
- Giải pháp về huy động vốn đầu tƣ. - Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực. - Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trƣờng. - Giải pháp về cơ chế, chính sách - Giải pháp về tổ chức thực hiện. (10) Thể hiện phƣơng án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trên
bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1: 250000 và 1: 100000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm.
3. PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
3.1. Phƣơng pháp tiếp cận quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng
Đây là một trong những vấn đề lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong lĩnh vực quy hoạch phát triển. Thực tiễn và lý luận cho phép khái quát phƣơng pháp tiếp cận một cách thống nhất.
- Nghiên cứu các nhân tố phát triển (thị trƣờng, sự tác động của nhân tố chính trị - hợp tác quốc tế, các nguồn lực nội sinh, các cơ chế, chính sách hiện hành, các yếu tố ngoại sinh…) trong mối quan hệ động và có so sánh.
- Nghiên cứu, luận chứng các mục tiêu phát triển (xác định quan điểm, luận chứng các khả năng phát triển phản ánh các mục tiêu phát triển về kinh tế, về xã hội, về môi trƣờng, về giữ vững an ninh quốc phòng).
- Nghiên cứu các giải pháp (nhất là những giải pháp có tính đột phá) đảm bảo các mục tiêu đƣợc thực hiện (trong đó quan trọng nhất là các giải pháp về hình thành cơ cấu kinh tế, lựa chọn phát triển ngành mũi nhọn, phát triển các lĩnh vực, chính sách đầu tƣ; chính sách phát triển nguồn nhân lực, vấn đề chỉ đạo và điều hành, vấn đề hợp tác liên ngành, liên vùng…).
Một số cách tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển và quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh đƣợc thể hiện trong các sơ đồ 1.3 và 1.4.
3.2. Phƣơng pháp tiếp cận quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng
3.2.1. Vùng lãnh thổ - phương pháp tiếp cận
Tất cả các ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu về quy hoạch quản lý và phát triển vùng đều thống nhất cho rằng vùng là một bộ phận lãnh thổ quốc gia. Sự tồn tại và phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với các bộ phận lãnh thổ khác. Vùng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Là một đơn vị lãnh thổ có ranh giới xác định (hoặc mang tính pháp lý hoặc
mang tính ƣớc lệ).
- Tồn tại các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mạng lƣới giao thông, cơ
sở vật chất, kỹ thuật mà con ngƣời đã tạo dựng và các điểm dân cƣ.
56
- Có tính đồng nhất ở một mức độ nhất định về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
Nhƣ vậy, trong thực tế tồn tại các loại vùng với những nội dung khác nhau nhƣ
Cơ cấu kinh tế, ngành mũi nhọn: phát triển lĩnh vực
Chính sách đầu tƣ
Chính trị hợp tác quốc tế
Nguồn nhân lực
Chỉ đạo và điều hành
Các nhân tố phát triển
Các giải pháp đảm bảo các mục tiêu đƣợc thực hiện
Cơ chế, chính sách hiện hành
Hợp tác
Mục tiêu phát triển (các khả năng)
hội. vùng tự nhiên, vùng kinh tế, vùng dân tộc… Vùng để làm đối tƣợng cho công tác quy
Thị trƣờng Các nguồn lực nội sinh Sơ đồ 1.3. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển.
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đề cập ở đây là vùng chứa đựng nhiều nội dung nêu ở trên, có thể gọi là vùng quy hoạch. Trong điều kiện Việt Nam, có thể hiểu vùng với một số nội dung và chức năng cần tiếp cận sau:
a. Vùng – đối tượng của quy hoạch phát triển Vùng là đối tƣợng để quản lý và xây dựng kế hoạch. Vùng có ý nghĩa về mặt pháp lý và vùng hành chính kinh tế. Lãnh thổ cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ƣơng), huyện (quận) là đối tƣợng của quy hoạch phát triển có ranh giới xác định về mặt pháp lý. Các vùng lớn hơn cấp tỉnh đƣợc xác định ranh giới có tính ƣớc lệ, trong đó có cả ranh giới hành chính và ranh giới “mềm” phi hành chính.
Trong công tác quy hoạch, để giải quyết những vấn đề trên quy mô rộng (liên tỉnh), đã tồn tại khái niệm vùng lớn. Quy mô và số lƣợng vùng phụ thuộc vào yêu cầu của việc tổ chức theo lãnh thổ nền kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Số lƣợng có thể thay đổi theo các giai đoạn phát triển. Ở Việt Nam, đã có nhiều lần phân chia lãnh thổ thành vùng khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ:
- Thời kỳ 1976 – 1983: Việt Nam đƣợc chia thành 7 vùng, với nội dung chính là các vùng sinh thái nông lâm nghiệp bao gồm trung du miền núi, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
57
- Thời kỳ 1983 – 1987: Việt Nam đƣợc chia thành 4 vùng, với mục đích chính là lập tổng sơ đồ phát triển cho các vùng lớn: Bắc bộ, Bắc Trung bộ, duyên hải Nam Trung bộ - Tây Nguyên và Nam bộ.
- Thời kỳ 1990 – 1998: Cùng với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng và
LUẬN CHỨNG PHÁT TRIỂN
GIẢI PHÁP
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ PHÁT TRIỂN
QUAN ĐIỂM - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
XÁC ĐỊNH PHƢƠNG HƢỚNG CHUNG VÀ CƠ CẤU KINH TẾ
LỰA CHỌN PHƢƠNG ÁN PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU ĐẦU TƢ
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH KINH TẾ
Huy - động vốn đầu tƣ phát triển hạ tầng. - Khuyến khích đầu tƣ tạo việc làm. - Quản lý kinh tế. - Đào tạo nghề. - Phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế.
Nông lâm ngƣ nghiệp
Thƣơng mại du lịch và dịch vụ
Tổ chức thực hiện quy hoạch
Công nghiệp TTCN, Xây dựng
XÁC ĐỊNH PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA XÃ HỘI
Xác định những lợi thế so sánh, thời cơ, khó khăn, hạn chế, thách thức đối với sự phát triển của tỉnh trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài
PHƢƠNG HƢỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ
Kiến nghị với TW và phối hợp hành động với các tỉnh khác
trạng của
BƢỚC ĐI ĐẾN NĂM 2005 VÀ 2010, CÁC CHƢƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN, CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
đổi mới công tác kế hoạch hóa và quản lý, Việt Nam đƣợc chia thành 8 vùng với mục
- Vị trí của tỉnh trong tổng thể vùng và cả nƣớc - Vị trí địa lý. - Điều kiện tự nhiên - Đánh giá tài nguyên thiên nhiên nƣớc, (đất, rừng, biển, khoáng sản…) - Các mạng lƣới kết cấu hạ tầng - Đặc điểm đô thị Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực Tình hình và hƣớng định phát triển của vùng, cả nƣớc và các yếu tố tác tế quốc động đến phát triển KT-XH của tỉnh Thực KT-XH tỉnh
Sơ đồ 1.4: Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
58
đích chính là xây dựng chiến lƣợc và quy hoạch phát triển cho các vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Xét về mặt lý luận và phƣơng pháp luận của Viện Phân vùng quy hoạch Trung ƣơng, việc phân chia thành các vùng nêu ở trên có cơ sở khoa học nhất định song chƣa đƣợc luận chứng và tổng kết đầy đủ.
b. Vùng – đối tượng trọng điểm đầu tư phát triển Nhìn chung, các quốc gia đang phát triển đều gặp phải mâu thuẫn ít vốn mà lại muốn tạo ra vùng động lực trong phát triển đi đôi với phát triển từng bƣớc các vùng nông thôn nghèo khó (nơi tập trung phần lớn dân cƣ của cả nƣớc). Nhiều nƣớc tập trung vào việc hình thành cấu trúc cơ bản của bộ khung nền kinh tế quốc gia, phát triển các địa bàn đƣợc coi là trọng điểm phát triển, các trung tâm, các hành lang, các trục tăng trƣởng có khả năng phát huy hiệu quả sớm, đồng thời có khả năng tạo lực kích thích, thúc đẩy các vùng khác tăng trƣởng nhanh. Sau đó, tìm các giải pháp cải biến các vùng khó khăn, lạc hậu, chủ yếu là vùng nông thôn, miền núi,…
Tùy theo yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc và chỉ đạo của Chính phủ mà xác định các lãnh thổ - địa bàn giữ vai trò động lực hoặc những lãnh thổ còn trong tình trạng trì trệ, yếu kém cần có sự hỗ trợ nhiều để phát triển. Chính phủ Việt Nam đã xác định 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm làm động lực cho phát triển kinh tế cả nƣớc: vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Nam.
c. Vùng – đối tượng hỗ trợ Cùng với lý do nhƣ đƣợc trình bày ở trên, Việt Nam vẫn còn tồn tại các vùng khó khăn. Các vùng này chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi. Đặc điểm của các vùng này là trình độ dân trí thấp (nhiều nơi là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống), GDP bình quân đầu ngƣời thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển, các loại hình dịch vụ chƣa phát triển… cần đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ.
3.2.2 Quan niệm về quản lý vùng ở Việt Nam
a. Các luận điểm chủ yếu về quản lý phát triển vùng ở Việt Nam - Luận điểm cơ bản về quản lý vùng là tìm ra các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của các vùng trên cơ sở sử dụng một hệ thống cơ chế, chính sách và các quy định pháp quy.
- Luận điểm vùng là đối tƣợng của quản lý, nhấn mạnh việc quản lý các tài nguyên thiên nhiên, dân cƣ và các hoạt động của cƣ dân, các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trƣờng, an ninh quốc phòng.
- Luận điểm vùng là công cụ của quản lý, nghĩa là phải tạo lập các kế hoạch phát
triển, hệ thống các cơ chế, chính sách và hệ thống các quy định pháp quy của từng vùng.
- Luận điểm về chủ thể quản lý vùng đƣợc hiểu là các cấp chính quyền từ trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó, cấp huyện là cấp quản lý tƣơng đối trực tiếp.
59
Chính quyền Trung ƣơng, tỉnh, huyện và sự phân cấp quản lý này đã đƣợc phản
ánh trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
b. Thực trạng về phân vùng và quản lý quy hoạch vùng ở Việt Nam Kết quả phân chia hành chính vùng mang tính pháp lý ở Việt Nam cho đến nay là 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng có ranh giới xác định. Dƣới đơn vị tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ƣơng) có sự phân chia đơn vị hành chính thành các cấp huyện (quận) và xã (phƣờng).
Đến năm 2000, Việt Nam có tổng số là 61 tỉnh, thành. Trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ƣơng là Thủ đô Hà Nội, thanh phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Do đặc điểm của địa hình cũng nhƣ truyền thống văn hóa lâu đời mà các tỉnh, thành phố ở Việt Nam có quy mô khác nhau. Hầu hết các tỉnh miền núi có diện tích lớn hơn các tỉnh đồng bằng và lớn hơn diện tích ở mức trung bình của cả nƣớc (11 tỉnh). Trong khi đó, có tới 28 tỉnh đồng bằng có diện tích nhỏ hơn diện tích ở mức trung bình của cả nƣớc. Tỉnh miền núi có quy mô diện tích lớn nhất là Đắc Lắc, với diện tích lớn gấp 21 lần diện tích của một tỉnh đồng bằng nhỏ nhất. Ngƣợc lại, đa số các tỉnh đồng bằng lại có số dân cũng nhƣ mật độ dân số cao hơn hẳn mức trung bình của cả nƣớc (34 tỉnh, thành phố).
Về sự tồn tại và quản lý của các đơn vị hành chính nói trên đều đã đƣợc Hiến pháp và luật pháp quy định và cụ thể hóa trong các luật. Hiện tại, ở Việt Nam tồn tại 4 cấp quản lý hành chính – kinh tế:
- Cấp Trung ƣơng: quản lý toàn diện, rộng lớn. - Cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ƣơng): quản lý kinh tế và quản lý hành
chính trên lãnh thổ tỉnh (thành phố), là cấp có ngân sách.
- Cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) quản lý hành chính là chủ
yếu, cũng có ngân sách.
- Cấp xã (xã, phƣờng, thị trấn) quản lý hành chính là chủ yếu. Việc quản lý kinh
tế tập trung vào các hợp tác xã, tập đoàn doanh nghiệp và hộ gia đình.
c. Sự phân vùng lãnh thổ ở Việt Nam Vùng là hệ thống đơn vị lãnh thổ có những đặc điểm tƣơng đồng và các mối liên
kết với nhau theo một số quy định đặc thù tùy theo mục tiêu của hệ thống phân vùng.
Vùng kinh tế mang tính khách quan, đƣợc hình thành do trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Việc phân chia đất nƣớc thành các vùng kinh tế là sản phẩm chủ quan, nó mang tính lịch sử và xã hội nhất định.
Năm 2003, Chính phủ có Nghị định phân chia tách 3 tỉnh đó là Đắc Lắc thành tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông, tỉnh Lai Châu thành tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu, tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ đƣa tổng số tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ƣơng của Việt Nam từ 61 lên 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Khi xem xét vùng trên quan điểm là đối tƣợng của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thì mỗi vùng đặc trƣng bởi các ngành kinh tế, các cơ sở sản xuất, các hoạt động dịch vụ, đặc điểm phân bố và cấu trúc dân cƣ, các cơ sở hạ tầng sản xuất và xã hội. Các yếu tố đặc trƣng của vùng Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
60
duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nhƣ sau:
- Vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh là Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình: vùng tuy có nhiều tiềm năng nhƣng vẫn đang là một trong những vùng chậm phát triển nhất. Đời sống của đại bộ phận dân cƣ còn khó khăn. Mạng lƣới đô thị chƣa phát triển, điều kiện kết cấu hạ tầng yếu kém. Đất trống, đồi trọc, tỷ lệ che phủ thấp đang ở mức báo động nghiêm trọng.
- Vùng Đông Bắc gồm 11 tỉnh là Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Bắc Giang: nhìn chung, sản xuất hàng hóa và kết cấu hạ tầng chƣa phát triển. Một bộ phận đáng kể dân số có trình độ dân trí thấp, nhiều tỉnh phải nhận trợ cấp ngân sách của Trung ƣơng. Sản xuất nông nghiệp chƣa rõ lối thoát trong điều kiện kinh tế thị trƣờng. Đất trống, đồi trọc và vai trò của ngành lâm nghiệp vốn có tiềm năng nhƣng rất hạn chế.
- Vùng đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc: vùng đất hẹp, ngƣời đông có nhu cầu lớn về giải quyết việc làm. Vùng có tiềm lực kinh tế lớn, tập trung tiềm năng chất xám của quốc gia, hội tụ nhiều yếu tố tăng trƣởng, nhƣng phát triển chƣa tƣơng xứng với vị trí, vai trò và lợi thế của vùng.
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế: địa hình dốc và bị chia cắt, sông suối ngắn, nơi hội tụ những điều kiện bất lợi của thời tiết, khí hậu. Đây là vùng kinh tế chƣa phát triển, đời sống dân cƣ còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, vùng có cả biển, đồng bằng, trung du, miền núi cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng. Có điều kiện phát triển cảng biển quy mô lớn. Nhìn chung, vùng đang tiềm ẩn những yếu tố tăng trƣởng nhanh.
- Vùng ven biển Trung Bộ (duyên hải miền Trung) gồm 8 tỉnh là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận: đây là dải ven biển hẹp, ít khoáng sản, thiếu năng lƣợng và vật liệu xây dựng. Có điều kiện để phát triển nhiều cảng nƣớc sâu. Tuy đã hình thành một số đô thị, nhƣng nhìn chung kinh tế của vùng chƣa phát triển.
- Vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh là Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng: vùng có trữ lƣợng gỗ lớn, diện tích rừng nhiều, đất bazan, quặng boxit và tiềm năng thủy điện lớn. Đây là vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít ngƣời sinh sống. Công nghiệp và điều kiện kết cấu hạ tầng chƣa phát triển. Dân trí và mức sống của đại bộ phận dân cƣ còn thấp.
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu: hiện đang là vùng phát triển năng động nhất Việt Nam, có nhiều tiềm năng còn có thể phát huy hơn. Có thể xây dựng Đông Nam bộ thành vùng động lực mạnh, làm đầu tàu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho cả nƣớc nói chung và Nam Bộ nói riêng.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh là Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Hậu Giang, thành phố Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau: đây là vùng có tiềm năng lớn nhất để phát triển
61
nông nghiệp, thủy sản của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay công nghiệp và kết cấu hạ tầng chƣa phát triển, các tiềm năng này chƣa đƣợc phát huy có hiệu quả. Một bộ phận đáng kể dân cƣ có cuộc sống khó khăn. Trong tƣơng lai, đây là vùng có nhiều vấn đề đặt ra cho chiến lƣợc phát triển vùng ở Việt Nam.
Để cụ thể hóa thêm một số bƣớc và triển khai thực hiện chiến lƣợc phát triển lãnh thổ, đồng thời để tạo động lực cho quá trình phát triển, Chính phủ đã xác định 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm: vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: bao gồm thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dƣơng, Hƣng Yên đến năm 2004 bổ sung thêm Hà Tây, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh với các cảng biển và sân bay lớn của cả nƣớc ở phía Bắc. Tại đây tập trung lớn về tiềm lực kinh tế, nhiều xí nghiệp, công nghiệp đầu đàn, nhiều cơ sở thƣơng mại, tài chính – ngân hàng, du lịch, y tế, đào tạo mang ý nghĩa vùng và cả nƣớc; cửa ngõ giao lƣu quốc tế. Phát triển các địa bàn nhằm hạn chế sự phân bố công nghiệp quá tập trung ở tuyến đƣờng quốc lộ 5, chuyển hƣớng bố trí không gian kinh tế về phía đƣờng quốc lộ số 18.
- Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam: bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dƣơng, đến năm 2004 bổ sung thêm Tây Ninh, Bình Phƣớc và Long An là trung tâm và đầu mối giao lƣu bằng cả đƣờng bộ, đƣờng biển, đƣờng sông và đƣờng hàng không rất thuận lợi cho các tỉnh phía nam với cả nƣớc và quốc tế. Sẽ mở rộng không gian đô thị và công nghiệp ra phía đƣờng 51, tránh phân bố tập trung công nghiệp vào thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Vũng Tàu.
- Vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung: bao gồm Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đến năm 2004 bổ sung thêm Bình Định. Bờ biển có nhiều địa điểm thuận lợi để hình thành cảng nƣớc sâu (Liên Chiểu, Chân Mây, Tiên Sa, Dung Quất, Quy Nhơn) hệ thống cảng của vùng không chỉ là cửa ngõ ra biển của miền trung, Tây Nguyên mà tƣơng lai còn là những cửa khẩu quan trọng của hệ thống đƣờng xuyên Á và có khả năng hình thành một cảng trung chuyển quốc tế của khu vực Đông Nam Á.
Đến đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam, hệ thống phân vùng đƣợc xác định là 6 vùng trên cơ sở 8 vùng của thời kỳ trƣớc năm 2000. Hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc đƣợc nhập lại thành vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải
Nam Trung Bộ nhập lại thành vùng Duyên hải miền Trung, các vùng còn lại giữ nguyên.
3.2.3 Định hướng phát triển các vùng
Các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Nhà nƣớc tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trƣởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tƣ thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn. Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nƣớc, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thƣơng mại, đầu tƣ, giúp đỡ kỹ thuật và nguồn nhân lực. Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng
62
và khu vực. Gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trƣờng và quốc phòng an ninh, coi trọng chiến lƣợc phát triển các vùng biên giới.
Khu vực đô thị: Phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa trên từng vùng và địa phƣơng. Đi nhanh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ. Đi đầu trong việc phát triển kinh tế tri thức. Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn.
Quy hoạch mạng lƣới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và hệ thống đô thị nhỏ phân bố hợp lý trên các vùng, chú trọng phát triển đô thị ở miền núi. Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng đồng bộ theo quy hoạch. Đƣa việc quy hoạch và quản lý đô thị vào nền nếp, ngày càng xanh, sạch, đẹp, văn minh. Hoàn thiện quy hoạch giao thông lâu dài, hợp lý ở tất cả các đô thị. Khắc phục tình trạng ách tắc giao thông ở các đô thị lớn. Cung cấp đủ nƣớc sạch, thoát nƣớc và xử lý chất thải, xóa nhà tạm bợ. Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh.
Khu vực nông thôn đồng bằng: Phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nền cây lúa, cây rau, quả, chăn nuôi, thủy sản, và ứng dụng phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm. Hoàn thành điện khí hóa và thực hiện cơ giới hóa ở những khâu cần thiết. Nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích nông nghiệp. Chuyển nhiều lao động sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề, mạng lƣới công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và các dịch vụ.
Khu vực nông thôn trung du, miền núi: Phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và công nghiệp chế biến. Bảo vệ và phát triển vốn rừng. Hoàn thành và ổn định vững chắc định canh, định cƣ. Bố trí lại dân cƣ, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Phát triển kinh tế trang trại. Giảm bớt khoảng cách phát triển với nông thôn đồng bằng. Có chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xác định, biên giới, cửa khẩu.
Khu vực biển và hải đảo: Xây dựng chiến lƣợc phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa. Tăng cƣờng điều tra cơ bản và làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển. Đẩy mạnh nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản. Thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, phát triển đóng tàu, thuyền và vận tải biển. Mở mang du lịch, bảo vệ môi trƣờng, tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực của biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển.
Trong những năm tới, phát triển từng vùng lớn tập trung vào những định hƣớng
quan trọng nhƣ sau:
(1) Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đƣa nhiều lao động nông
nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ và đi lập nghiệp nơi khác.
63
Phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng. Cùng với lƣơng thực, đƣa vụ đông thành một thế mạnh. Hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa, mở rộng nuôi, trồng thủy sản. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và cơ khí phục vụ nông nghiệp, các cụm, điểm công nghiệp, dịch vụ và làng nghề ở nông thôn.
Trong vùng kinh tế trọng điểm, phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, công nghiệp xuất khẩu, công nghiệp điện tử, thông tin và một số cơ sở cơ khí đóng tàu, luyện kim, phân bón, các dịch vụ có hàm lƣợng tri thức cao, các trung tâm mạnh của vùng và cả nƣớc về đào tạo, khoa học và công nghệ, thƣơng mại, y tế, văn hóa, du lịch. Hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng, trƣớc hết là các tuyến trục lộ, các cảng khu vực Hải Phòng, Cái Lân, các sân bay.
(2) Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hình thành và phát huy vai trò các trung tâm thƣơng mại, xuất khẩu, viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ, văn hóa, đào tạo đói với các khu vực phía Nam và cả nƣớc. Đẩy mạnh công nghiệp khai thác dầu khí, sản xuất điện, phân bón và hóa chất từ dầu khí. Hoàn chỉnh và nâng cấp các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Mở mang công nghiệp ở các tỉnh, không tập trung quá mức vào các đô thị lớn.
Phát triển mạnh cây công nghiệp (cao su, cà phê, mía đƣờng, bông …), cây ăn quả, chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi gia súc, hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo điều kiện thu hút thêm lao động từ đồng bằng sông Cửu Long.
Nâng cấp các tuyến quốc lộ nối với các vùng và quốc tế. Nâng cấp và xây dựng mới một số cảng biển, sân bay. Xây dựng đô thị trên các trục phát triển gắn với khu công nghiệp. Giải quyết tốt hệ thống giao thông đô thị, cấp và thoát nƣớc, khắc phục ô nhiễm môi trƣờng.
(3) Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Phát huy lợi thế biển và ven biển, khai thác có hiệu quả các tuyến đƣờng trục Bắc – Nam, các tuyến đƣờng ngang, các tuyến đƣờng xuyên Á, các cảng biển. Hình thành các khu công nghiệp ven biển, các khu công nghiệp – thƣơng mại tổng hợp và phát triển kinh tế trên các cửa khẩu và hành lang dọc các tuyến đƣờng. Phát triển các ngành công nghiệp lọc, hóa dầu, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến và chế tạo khác, các loại hình dịch vụ. Xây dựng theo quy hoạch một số cảng nƣớc sâu với tiến độ hợp lý. Đẩy nhanh việc xây dựng khu kinh tế Dung Quất – Chu Lai. Phát triển mạnh du lịch biển và ven biển, gắn liền với các khu di tích, danh lam thắng cảnh của cả vùng, đặc biệt là trên tuyến Huế - Đà Nẵng – Hội An – Nha Trang.
Phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tăng nhanh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc kết hợp với công nghiệp chế biến, đảy mạnh trồng rừng. Có giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai lũ lụt, hạn hán nặng, kết hợp với bố trí lại sản xuất và dân cƣ. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trƣờng toàn dải ven biển. Khai thác có hiệu quả vùng đất ở phía Tây, chú ý xây dựng các hồ chứa nƣớc chống lũ lụt và làm thủy điện.
64
Từng bƣớc tạo điều kiện để vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ kết hợp với Tây Nguyên tham gia có hiệu quả việc kết hợp tác kinh tế với Lào, Campuchia, nhất là các tỉnh biên giới.
(4) Trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc) Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dƣợc liệu, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến. Tạo các vùng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, rừng nguyên liệu công nghiệp.
Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm sản chú trọng chế biến xuất khẩu. Hình thành một số cơ sở công nghiệp lớn theo tuyến đƣờng 18 gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thƣơng mại. Nâng cấp các tuyến đƣờng trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyến đƣờng vành đai biên giới và các đƣờng nhánh. Phát triển thủy lợi nhỏ gắn với thủy điện nhỏ, giải quyết việc cấp nƣớc sinh hoạt và điện cho đồng bào vùng cao. Phát triển các đô thị trung tâm, các đô thị gắn liền với khu công nghiệp. Nâng cấp sửa chữa các cửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế cửa khẩu.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc, định canh, định cƣ vững chắc, ổn định và cải
thiện đời sống cho đồng bào dân tộc.
(5) Tây Nguyên Tây Nguyên là địa bàn chiến lƣợc quan trọng của cả nƣớc về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất hàng hóa kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp năng lƣợng và công nghiệp khai thác khoáng sản. Có chiến lƣợc và quy hoạch xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thành vùng kinh tế động lực.
Phát triển nhanh theo hƣớng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệp gắn với thị trƣờng xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông…), chăn nuôi đại gia súc, trồng và bảo vệ rừng, cây dƣợc liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển thủy điện lớn và vừa, các hồ chứa nƣớc cho thủy lợi. Khai thác và chế biến quặng bô xít. Phát triển công nghiệp giấy. Nâng cấp, khai thác tốt các tuyến đƣờng trục và đƣờng ngang nối xuống vùng duyên hải. Phát triển sự hợp tác liên kết kinh tế - thƣơng mại – dịch vụ với các nƣớc láng giềng Lào và Campuchia. Có chính sách thu hút vốn đầu tƣ, bố trí dân cƣ vào lao động và đất đai theo quy hoạch, nâng cao dân trí và trình độ công nghệ. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, thật sự cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào dân tộc.
(6) Đồng bằng sông Cửu Long Tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thủy sản xuất khẩu lớn nhất cả nƣớc. Đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lƣợng lƣơng thực, rau quả, chăn nuôi, thủy sản hàng hóa. Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ. Triển khai xây dựng các cụm công nghiệp sử dụng khí Tây Nam. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ.
Hoàn chỉnh mạng lƣới đƣờng bộ và mạng lƣới giao thông thủy. Nâng cấp và mở rộng quốc lộ 1A, mở thêm một số tuyến trục để phát triển giao thông phía Tây Nam. Nâng
65
cấp các quốc lộ đến các tỉnh lỵ. Xây dựng cầu qua sông Hậu và có đủ cầu trên các tuyến này. Phát triển mạng đƣờng liên huyện và giao thông nông thôn, xây cầu kiên cố thay “cầu khỉ”. Hoàn chỉnh các cảng sông, nâng cấp các sân bay. Quy hoạch và xây dựng khu dân cƣ, kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện chống lũ hàng năm và ngập mặn.
4. ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
4.1. Đặc điểm chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 4.1.1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là văn bản pháp lý
Sau khi đƣợc phê duyệt, các văn bản quy hoạch tổng thể trở thành tài sản quý giá cho các nhà quản lý. Với góc độ là một văn bản có tính pháp lý, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền sử dụng vì nó có những đặc điểm sau:
a. Quy hoạch đảm bảo tính ổn định và tốc độ phát triển của kinh tế, bảo đảm tính
cân đối và nhịp nhàng trong phát triển giữa các khu vực kinh tế, giữa kinh tế và xã hội
Kinh nghiệm ở nhiều nƣớc cho thấy, khi phát triển kinh tế - xã hội dựa trên cơ sở các kế hoạch hàng năm và những kế hoạch ngắn hạn, do chƣa có những phân tích và đánh giá một cách cơ bản và toàn diện các nguồn tài nguyên và các nguồn lực, cũng nhƣ chƣa có những dự báo phát triển đúng đắn và chƣa có đầy đủ các căn cứ khoa học cho nên sự phát triển thƣờng không đƣợc tập trung vào các hƣớng đƣợc lựa chọn kỹ càng, do đó rơi vào tình trạng thiếu ổn định. Nhiều công việc, nhiều dự án không thể thực hiện đến cùng vì thiếu phù hợp và hài hòa với các công trình, dự án khác. Trong các bản kế hoạch, thƣờng không chú ý đến tốc độ phát triển của nền kinh tế trong một khoảng thời gian dài mà thƣờng căn cứ vào sự phát triển của năm trƣớc để ấn định mức phát triển cho năm kế hoạch, vì vậy tốc độ phát triển của nền kinh tế cũng thiếu ổn định.
Trong các kế hoạch hàng năm (và cả kế hoạch 5 năm), chỉ tính đến những cân đối trong kỳ kế hoạch. Sự phát triển nhịp nhàng giữa các ngành cũng chỉ tính cho thời gian làm kế hoạch. Trong thực tế, hệ thống kinh tế - xã hội là một hệ thống nhiều thành phần cần có sự cân đối và nhịp nhàng trong không gian cũng nhƣ về thời gian. Cho nên, cần đƣợc tính đến và xác lập sự cân đối trong những khoảng thời gian tƣơng đối dài với những cấu trúc khá đa dạng. Vì vậy, cần có quy hoạch để đảm bảo tính cân đối và nhịp nhàng giữa các khu vực kinh tế.
b. Trong cơ chế thị trường, quy hoạch tổng thể là bộ khung cho các lực lượng thị
trường phát triển
Cơ chế thị trƣờng chỉ có thể phát triển trong những điều kiện nhất định. Các doanh nhân, các nhà doanh nghiệp chỉ có thể bỏ vốn ra kinh doanh khi có đủ các điều kiện cho đồng vốn hoạt động và tạo ra lợi nhuận. Các điều kiện đó bao gồm hành lang pháp luật, các chính sách, các cơ sở hạ tầng, thị trƣờng vốn, thị trƣờng lao động, thị trƣờng khoa học và công nghệ. Trong các văn bản quy hoạch, các yếu tố đã nêu trên đây cần đƣợc đề cập đến một cách cụ thể và khi quy hoạch đƣợc phê duyệt có nghĩa là Nhà nƣớc đã chấp nhận cho thực thi thì những điều kiện nêu ra trong quy hoạch trở thành những điều bắt buộc đối với các cấp, các ngành.
66
Quy hoạch không những tạo ra môi trƣờng cho các lực lƣợng thị trƣờng phát triển mà còn đề ra các định hƣớng, các giới hạn cho sự phát triển đó. Định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc thể hiện một cách cụ thể thành những hành lang, những giới hạn cho sự phát triển của cơ chế thị trƣờng. Đây là điểm khác biệt giữa phƣơng pháp luận quy hoạch của cơ chế thị trƣờng tự do với phƣơng pháp luận quy hoạch của cơ chế thị trƣờng phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Quy hoạch không kìm hãm sự phát triển của các lực lƣợng thị trƣờng mà trái lại thúc đẩy sự phát triển của các lực lƣợng này, bởi vì quy hoạch tạo ra sự an toàn, lòng tin cho các doanh nhân mạnh dạn bỏ vốn ra kinh doanh.
c. Quy hoạch tạo nên tính chủ động trong phát triển kinh tế, thúc đẩy tính sáng
tạo của các cấp trong xây dựng kinh tế và xã hội
Với những định hƣớng phát triển, những cân đối đã đƣợc tính toán kỹ và đề ra trong văn bản quy hoạch, các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp có những điều kiện thuận lợi, có cơ sở để chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội. Họ có điều kiện để sắp xếp, bố trí công việc chủ động tổ chức trong khung các định hƣớng đã đƣợc xác định mà không còn những lo ngại phát triển chệch hƣớng hoặc không ăn khớp với các hoạt động khác.
Các cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp cũng có nhiều điều kiện để phát huy tính sáng tạo của mình trong các phạm vi và giới hạn đã đƣợc xác định trong quy hoạch. Hoạt động trong điều kiện không có quy hoạch, các cán bộ lãnh đạo và quản lý, các cấp thƣờng thụ động chờ đợi sự phân công hoặc điều hành từ các cấp quản lý cấp trên, vì họ không thấy đƣợc những việc họ phải làm, những giới hạn dành cho phạm vi hoạt động của họ. Quy hoạch tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh các định hƣớng, các nội dung, các cấp độ, các mối liên hệ. Trong hệ thống chung đó, các hệ thống bậc thấp có độ tự do cần thiết và đƣợc hoạt động chủ động trong các giới hạn đã đƣợc xác định cho hoạt động của mình.
d. Quy hoạch đảm bảo sự phát triển theo đúng tốc độ được lựa chọn, đồng thời
phát triển bền vững trên cả ba mặt kinh tế, xã hội, môi trường
Việc đảm bảo tốc độ phát triển của một nền kinh tế đòi hỏi sự phát triển hài hòa và động bộ của các ngành, các bộ phận, quy hoạch nghiên cứu và tìm các giải pháp tối ƣu để tạo nên tính đồng bộ và sự hài hòa này.
Thiếu quy hoạch không thể đảm bảo phát triển đồng bộ và bền vững cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Trong thực tế phát triển của nhiều nền kinh tế, khi không tạo đƣợc sự phát triển xã hội tƣơng ứng làm nảy sinh nhiều trở ngại, thậm chí kìm hãm sự phát triển với tốc độ nhanh, thƣờng tạo ra những tắc động tiêu cực, tác động có hại lên môi trƣờng, thậm chí làm hủy hoại môi trƣờng. Vì vậy, chỉ có thể phát triển bền vững không những riêng đối với từng lĩnh vực mà chung cho cả ba lĩnh vực trong hệ thống kinh tế - xã hội – môi trƣờng khi có một quy hoạch đƣợc xây dựng hợp lý với đầy đủ các căn cứ khoa học và thực tiễn.
Chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trƣờng, định hƣớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nƣớc. Việc đảm bảo phát triển đúng tốc độ dự kiến và phát triển bền vững trên cả ba mặt kinh tế, xã hội, môi trƣờng là một vấn đề có ý nghĩa to lớn và mang tính quyết định. Vì vậy, việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát
67
triển kinh tế - xã hội – môi trƣờng cho từng vùng, từng đơn vị hành chính là việc làm không thể thiếu.
e. Quy hoạch là biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài, quy hoạch tạo lòng tin
và tâm lý ổn định cho người đầu tư
Chúng ta đang thiếu vốn để phát triển kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tƣ lại càng cao khi chúng ta dự kiến phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, đồng bộ và hài hòa với phát triển xã hội và môi trƣờng. Bên cạnh việc phát huy nội lực mà Nhà nƣớc ta đã có chủ trƣơng thúc đẩy mạnh, thì việc thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Quy hoạch dự kiến trên cơ sở cân nhắc và tính toán một cách kỹ lƣỡng và toàn diện các mặt, những lĩnh vực, những trọng điểm cần thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trên cơ sở quy hoạch đƣợc xây dựng và phê duyệt, các cấp quản lý có điều kiện để chủ động giới thiệu với các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài những lĩnh vực, những công trình cần thiết có sự tham gia đầu tƣ.
Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi xem xét việc bỏ vốn đầu tƣ vào từng lĩnh vực, từng công trình cụ thể, nếu thấy rằng các công trình đó, các lĩnh vực đó đã đƣợc xem xét và đƣa vào quy hoạch, họ sẽ an tâm đầu tƣ mà không e ngại về những thay đổi có thể xảy ra sau này trong chủ trƣơng phát triển. Các công trình, các dự án, các lĩnh vực khi đã đƣợc đƣa vào quy hoạch là những vấn đề đã đƣợc tính toán và cân nhắc kỹ. Vì vậy, chắc chắn sẽ đƣợc thực hiện. Điều này tạo nên sự tin tƣởng và tâm lý ổn định cho các nhà đầu tƣ.
Chính vì lẽ đó, mà ở những nơi đã có quy hoạch và đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt thƣờng dễ thu hút các nhà đầu tƣ hơn những địa phƣơng chƣa có quy hoạch. Mặt khác, việc xây dựng quy hoạch đối với các địa phƣơng chƣa có là một yêu cầu cấp bách. Việc bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch ở những nơi đã có quy hoạch là yêu cầu thƣờng xuyên. Song, không có nghĩa là thay đổi thƣờng xuyên một cách tùy tiện thiếu cơ sở và thiếu căn cứ. Bởi vì, nếu quy hoạch thƣờng xuyên bị thay đổi một cách tùy tiện thì quy hoạch không còn ý nghĩa nữa và không thể tạo lòng tin cho các nhà đầu tƣ, kể cả trong nƣớc và ngoài nƣớc. Bổ sung hoàn thiện quy hoạch chính là hoạt động cụ thể hóa thêm một bƣớc, chính xác hóa thêm các định hƣớng, các công trình đã đƣợc dự kiến.
Bổ sung và hoàn thiện quy hoạch là việc làm thƣờng xuyên. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển khi có những yếu tố mới quan trọng có tác động to lớn đến toàn bộ nền kinh tế (thí dụ cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á và một phần Châu Mỹ thời gian vừa qua) hoặc khi có những điều chỉnh lớn trong đƣờng lối kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc thì cần thiết có sự điều chỉnh quy hoạch. Việc điều chỉnh quy hoạch kéo theo những bổ sung cần thiết và sau đó là những hoàn thiện mới đối với quy hoạch. Tuy nhiên, việc điều chỉnh quy hoạch cần làm rất thận trọng, cẩn thận, tỉ mỉ để tránh gây ra những đảo lộn, xáo trộn không cần thiết làm giảm lòng tin của các nhà đầu tƣ.
4.1.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một công cụ hữu hiệu của công tác quản lý nhà nước
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một văn bản khoa học, là kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là tập hợp những
68
kiến thức đƣợc tích lũy trong quá trình hoạt động và phát triển của địa bàn trong nhiều năm qua, kết hợp với việc vận dụng sáng tạo các lý thuyết về tự nhiên, kỹ thuật, quản lý kinh tế, xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của địa bàn, đồng thời vận dụng các kiến thức khoa học để dự báo cho tƣơng lai.
Vì vậy, quy hoạch tổng thể là một hệ thống tƣơng đối hoàn chỉnh các định hƣớng phát triển, các nội dung hoạt động, các giải pháp chủ yếu giúp cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và những ngƣời trực tiếp sản xuất kinh doanh thấy rõ những việc làm, những hƣớng cần phát triển.
Quy hoạch không phải là một văn bản mang tính khái quát chung mà là một văn bản chỉ đạo hành động. Do đó, quy hoạch có giá trị thiết thực rất lớn. Quy hoạch giúp ta mạnh dạn hoạt động mà không có e ngại chệch hƣớng, không hài hoà với các hoạt động khác.
Quy hoạch là một tài sản lớn đối với các cấp quản lý. Đó là tài sản trí tuệ vô giá. Quy hoạch một khi đƣợc xây dựng tốt và triển khai thực hiện nghiêm túc sẽ giúp tiết kiệm đƣợc nhiều thời gian và các tài nguyên, trong đó có nhiều loại tài nguyên không tái tạo đuợc. Quy hoạch giúp phát huy và nâng cao hiệu quả các loại tài nguyên, giúp tập hợp và phát huy đội ngũ cán bộ tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp tránh đƣợc những đoạn đuờng vòng trong quá trình phát triển.
Do có những giá trị to lớn trên nhiều mặt nên quy hoạch đƣợc các địa phƣơng chú trọng xây dựng. Quy hoạch không chỉ cần thiết đối với các địa bàn rộng lớn nhƣ vùng kinh tế sinh thái, vùng kinh tế trọng điểm, các tỉnh và thành phố lớn, mà còn rất cần đối với các địa bàn hẹp hơn nhƣ huyện, xã.
4.1.3. Quy hoạch tổng thể có tính phản ánh và tính chỉ đạo hành động
Nhận thức về ý nghĩa, vai trò của quy hoạch cũng nhƣ về tính chất biện chứng, tính thực tiễn trong quá trình xây dựng quy hoạch không phải ngay một lúc mà có đầy đủ và hoàn chỉnh.
Quy hoạch có tính phản ánh và tính chỉ đạo hành động. Quy hoạch phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội của địa phƣơng. Từ thực tế, rút ra những nhận xét kết luận cần thiết và đề ra những hành động sát hợp. Thực tế luôn sôi động và phát triển, nhiều thời cơ và triển vọng xuất hiện trong quá trình phát triển. Đƣờng lối và chiến lƣợc đề ra phƣơng hƣớng phát triển cho những giai đoạn lịch sử. Những định hƣớng này chịu sự chi phối của các phƣơng hƣớng chiến lƣợc. Khi thời cơ xuất hiện, quy hoạch cần đƣợc bổ sung để hoặc là đẩy mạnh tốc độ phát triển, hoặc là làm vƣợt các mục tiêu đã đề ra. Để làm đƣợc việc này cần kịp thời nắm bắt thời cơ, cập nhật nhận thức, trên cơ sở thực tiễn bổ sung quy hoạch.
Quy hoạch mang tính chất tổng hợp và đa ngành. Nhận thức tổng hợp và đa ngành là loại nhận thức ở cấp độ cao hơn nhận thức của từng ngành, từng lĩnh vực. Trong quá trình phát triển, các ngành không thể cùng phát triển với tốc độ giống nhau, với những thành quả nhƣ nhau. Vì vậy, tính tổng hợp và liên ngành là một tính chất động, luôn có những thay đổi. Những thay đổi này có khi chỉ mang tính cục bộ và ít có ảnh hƣởng đến
69
quy hoạch chung, nhƣng cũng có trƣờng hợp những thay đổi bao quát những phạm vi rộng lớn và có những tác động mạnh lên toàn bộ quy hoạch.
Quy hoạch có tính thời sự, quy hoạch không thể thoát ra khỏi thực tại. Quy hoạch không mang tính thời sự sẽ trở thành cứng nhắc, thiếu sức sống. Nhận thức về tính thời sự của quy hoạch là tìm ra các mối liên hệ bên trong, các mối liên hệ mang tính bản chất của thực tại tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, và môi trƣờng.
Cập nhật và bổ sung quy hoạch là việc làm có tính chất thƣờng xuyên định kỳ. Đó cũng là một hoạt động nghiệp vụ dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá đầy đủ những diễn biến của thời kỳ từ sau khi quy hoạch đƣợc chính thức phê duỵêt. Để đảm bảo cho việc cập nhật và bổ sung quy hoạch đạt chất lƣợng, mang lại hiệu quả thiết thực, cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Phản ánh đúng bản chất những diễn biến mới của thời kỳ từ sau khi quy hoạch
đƣợc phê duyệt và có hiệu lực thi hành.
- Không làm thay đổi các định hƣớng phát triển chủ yếu của quy hoạch, không
làm ảnh hƣởng đến các mục tiêu cơ bản của quy hoạch.
- Nâng cao thêm một bƣớc chất lƣợng của quy hoạch để chính xác hơn, khoa học
hơn, cụ thể hơn.
Cập nhật và bổ sung quy hoạch chƣa phải là điều chỉnh quy hoạch ở mức độ có những thay đổi trong các định hƣớng và mục tiêu của quy hoạch. Việc điều chỉnh quy hoạch chỉ thực hiện trong trƣờng hợp có những thay đổi về chủ trƣơng và đƣờng lối ở tầm vĩ mô. Tất nhiên, trong quá trình cập nhật và bổ sung quy hoạch cũng có những điều chỉnh cần thiết để quy hoạch phản ánh đúng hơn thực tế và nội dung có nhiều điều kiện khả thi hơn. Tuy nhiên, những điều chỉnh đó thƣờng chỉ giới hạn ở tầm cục bộ, vi mô và không gây ra những thay đổi trong mục tiêu và định hƣớng của quy hoạch.
4.2. Yêu cầu chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
a. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái động, là một quá
trình động có trọng điểm cho từng thời kỳ
Hệ thống kinh tế - xã hội là hệ thống vận động không ngừng. Có những yếu tố không thể biết trƣớc và dự báo đƣợc một cách chính xác nên dễ gây ra những rủi ro lớn. Hệ thống này vận động không ngừng vì nhu cầu con ngƣời không ngừng tăng lên và không có giới hạn, song khả năng đáp ứng nhu cầu đó thì có giới hạn, dẫn đến những cạnh tranh, giành giật và gây ra những mâu thuẫn. Tiền đề này nảy sinh sự không bền vững trong hệ thống. Vấn đề này cũng cho thấy, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội phải làm thế nào để có đƣợc một cơ cấu hợp lý trên cơ sở giải quyết những cân đối giữa sản xuất và nhu cầu, giữa sản xuất và khả năng để cuối cùng đạt đƣợc quan hệ cân đối giữa nhu cầu và khả năng trong một điều kiện có thể trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý, bền vững theo quan điểm sinh thái, đảm bảo cho sự tăng trƣởng ổn định bền vững.
Các yếu tố khó biết trƣớc và khó dự báo là không giới hạn. Chúng có thể là khả năng tiềm tàng của tài nguyên trong làng đất, tài nguyên biển, tài nguyên khí hậu, những tâm lý xã hội này sinh phát triển khó lƣờng, những sáng kiến sáng tạo của con ngƣời sẽ
70
xuất hiện mới, những diễn biến chính trị khó lƣờng…Mặt khác, với sự tiến bộ khoa học công nghệ phát triển hàng hoá, dòng tiền tệ trao đổi giữa các quốc gia có sự biến đổi nhanh và ngày càng đa dạng. Những yếu tố đó đặt ra vấn đề cần xử lý và xem xét, luận chứng các điều kiện, xác định các phƣơng án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội một cách kỹ lƣỡng, đảm bảo đƣợc tính linh hoạt cần thiết. Do đó, quy hoạch tổng thể phải đề cập đƣợc nhiều phƣơng án, thƣờng xuyên cập nhật, bổ sung tƣ liệu cần thiết để có giải pháp điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế. Quy hoạch tổng thể phải tìm ra giải pháp giải quyết các mâu thuẫn và tính tới những vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh đảm bảo sự phát triển hài hoà của hệ thống tự nhiên – xã hội – kinh tế.
b. Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội phải đạt mục tiêu phát triển trong thế vận
động tiến bộ và bền vững
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội luôn luôn tính tới sự phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao của hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội và các phần tử cấu thành của nó nhằm đạt tới hiệu quả tối đa cho cực đại số đông dân cƣ. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đây là vấn đề có tính nguyên tắc vì con ngƣời là mục tiêu tối thƣợng.
Chúng ta biết rằng hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội bao gồm nhiều phân hệ. Các phân hệ và cấu trúc của từng phân hệ cũng nhƣ toàn hệ thống luôn có xu hƣớng chuyển động đa chiều hỗn loạn. Theo quán tính, hầu nhƣ các chuyển động có tính mâu thuẫn nhau. Đó là đặc điểm cần chú ý khi tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội. Ở đây, cần nhấn mạnh là các phần tử chuyển động đa hƣớng. Bởi lẽ, nhƣ chúng ta đều rõ, lợi ích của từng ngƣời, từng cá nhân trong xã hội rất khác nhau. Lợi ích của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi vùng, lãnh thổ có tính cục bộ và thƣờng vận động không cùng chiều. Do đó, một vấn đề cực kỳ quan trọng là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội làm thế nào để hệ thống phát triển không ngừng và đạt đƣợc hiệu quả thì cần phải điều khiển tất cả các liên hệ theo một hƣớng nhất định.
Trên mỗi lãnh thổ, có nhiều đối tƣợng hoạt động khác nhau trong thế cạnh tranh quyết liệt để giành lấy quyền lợi cho mình nên rất dễ gây ra tình trạng hỗn loạn, mà biểu hiện trực tiếp là các hiện tƣợng khủng hoảng, đa hƣớng trong phát triển, tự phát trong định hƣớng và trong các hoạt động cụ thể. Do đó, cần điều khiển vận động của hệ thống theo một hƣớng để đạt đƣợc một mục tiêu chiến lƣợc nhất định, trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, không thể đặt ra nhiều mục tiêu không đồng hƣớng.
Trong mỗi hệ thống lãnh thổ, luôn có những chuyển động và hoạt động tạo ra những mâu thuẫn, cản trở nhau. Những mâu thuẫn, cản trở đó do những lợi ích cục bộ của từng bộ phận lãnh thổ, của từng ngành, từng chủ thể mà không tính đến hoặc không đặt lợi ích này trong một tổng thể chung. Ví dụ: những mâu thuẫn giữa phát triển du lịch với vấn đề bảo vệ môi trƣờng, sự tập trung quá mức đô thị trong một lãnh thổ, sự phát triển cùng một loại sản phẩm trong một vài lãnh thổ. Sự cản trở, chồng chéo nhau trong quá trình vận động gây ra những mâu thuẫn. Nếu chúng đƣợc giải quyết hợp lý sẽ tạo ra động lực cho phát triển của hệ thống và ngƣợc lại.
71
Do đó, vấn đề đặt ra cho quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội phải xác định đƣợc mục tiêu phát triển và xác định đƣợc các giải pháp kiến thiết lãnh thổ tạo đƣợc sự phát triển hài hoà, nhịp nhàng cho toàn bộ hệ thống lãnh thổ. Xây dựng và phát triển không ngừng cấu trúc vùng lãnh thổ, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
c. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải lựa chọn được các phương
án kiến thiết hợp lý, dài hạn
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải đƣợc nghiên cứu theo nhiều phƣơng án. Mỗi phƣơng án mang đậm nét một điểm nổi trội của nghệ thuật kiến thiết lãnh thổ. Ví dụ: phƣơng án này nặng về tạo dựng các trung tâm tạo vùng, phƣơng án kia lại coi trọng các hành lang kinh tế. Hoặc nơi này quy hoạch tổng thể kinh tế và xã hội theo các vành xoay xung quanh trung tâm hạt nhân, nơi kia lại bố trí tập trung thành các lãnh thổ theo khu biệt lập với sự tập trung cao độ các năng lực kinh tế …
Quy hoạch tổng thể phải là kết quả của quá trình nghiên cứu đề xuất và lựa chọn các giải pháp khác nhau, cho các nhiệm vụ khác nhau. Trong các phƣơng án kiến thiết lãnh thổ, sẽ phải có phƣơng án chủ và phƣơng án dự phòng. Ngay trong phƣơng án chủ, cũng phải dành những lãnh thổ dự trữ, phải có thứ tự ƣu tiên về lãnh thổ. Phải có những quy định rõ ràng về mức độ và phƣơng thức sử dụng không gian.
d. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải thể hiện sinh động phân
công lao động theo lãnh thổ một cách đa dạng và linh hoạt.
Hoạt động kinh tế của con ngƣời trong các lãnh thổ khác nhau vô cùng đa dạng. Bức tranh kinh tế của thế giới cũng nhƣ của từng quốc gia muôn màu, muôn vẻ. Ví dụ: trên bản đồ kinh tế của Việt Nam, có thể nhìn thấy vô vàn các kiểu sản xuất khác nhau, thậm chí trong một khoảng không gian nhỏ hẹp cũng có tình trạng nhƣ vậy. Phân công lao động theo lãnh thổ lôi cuốn các đối tƣợng tự nhiên, kinh tế, xã hội vào quá trình sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ mang lại lợi ích cho các tầng lớp dân cƣ, các nhóm xã hội khác nhau cùng tham gia vào quá trình phức tạp đó. Khi thực hiện phân công lao động theo lãnh thổ, phải cụ thể hoá đƣợc định hƣớng, thậm chí cả những diễn biến trong tƣơng lai của phân công lao động theo ngành. Trong chừng mực nhất định, còn phải tính tới những lãnh thổ dự phòng cho tƣơng lai.
Trong quá trình phân công lao động theo lãnh thổ các vùng, các doanh nghiệp giữ các chức năng khác nhau nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần đa dạng phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, dân tộc, lịch sử của các địa phƣơng. Do đó, việc quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội cần tạo ra sự nhất trí cao của các cộng đồng dân cƣ, đảm bảo yêu cầu giữ gìn sắc thái văn hoá của mỗi cộng đồng dân cƣ. Đáp ứng mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Từng bƣớc xây dựng những vùng nông sản chất lƣợng cao, phát triển ngành nghề truyền thống, công nghiệp chế biến…bảo vệ và chăm sóc cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc phòng.
Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ phản ánh sự lựa chọn địa điểm của các nhà đầu tƣ, của dân cƣ và cộng đồng dân cƣ. Đó là biểu hiện sự lựa chọn của ngƣời sản xuất trên cơ sở đạt đƣợc lợi ích cao nhất. Mọi sự gò ép chủ quan đối với sự lựa chọn địa
72
điểm bố trí xí nghiệp của các nhà đầu tƣ đều khó đem lại hiệu quả. Thực tế chỉ ra rằng, mong muốn kéo nhà đầu tƣ đến đâu đó phải đi kèm với những điều kiện kinh tế cụ thể. Mệnh lệnh hành chính không giải quyết đƣợc vấn đề mà chỉ có thể kéo dài sự chờ đợi hoặc mang đến sự thất bại.
e. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị
trường, tiến bộ khoa học công nghệ và phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện và ngày nay đang thịnh hành. Phát triển để thoả mãn các nhu cầu của hôm nay mà không tổn hại đến sự phát triển của tƣơng lai và đòi hỏi lớn lao đối với nhân loại khi lựa chọn các quyển sách phát triển nhằm đạt đƣợc cả 3 mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, tính nhân văn trong phát triển phải đƣợc tôn trọng và đảm bảo trên thực tế. Các tính toán của quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội phải dựa trên yêu cầu bền vững của sự đan kết các yếu tố phát triển (đảm bảo tính liên ngành, liên vùng) nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Muốn thế, mọi hoạt động phải đƣợc tổ chức một cách khoa học.
Tránh phát triển nóng, tôn trọng phát triển hài hoà và nhịp nhàng của toàn bộ hệ thống cũng nhƣ của từng phần tử cấu thành lãnh thổ kinh tế xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, điều này nói thì dễ nhƣng thực hiện thì rất khó. Ai cũng muốn chớp thời gian để chiến thắng. Tình trạng đó, dễ dẫn đến phát triển nhanh song dễ dẫn đến phá vỡ hệ thống chung của xã hội, gây ra những hậu quả xấu, khó lƣờng.
Ngoài ra, quy hoạch TTPTKTXH phải đảm bảo một “trật tự” ngắn hạn cũng nhƣ yêu cầu phát triển dài hạn. Các đối tƣợng tổ chức cần đƣợc “đặt” đúng vị trí của nó, làm cho các đối tƣợng nƣơng tựa vào nhau mà phát triển không cản trở, không làm tổn hại đến nhau trong quá trình thịnh vƣợng.
4.3. Nguyên tắc cơ bản của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
a. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội phải thoả mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao,
Khi xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố lực lƣợng sản xuất, đặc điểm điều kiện của phân bố từng ngành và lĩnh vực. Mặt khác, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội phải tính tới nhu cầu thị trƣờng, xây dựng nền kinh tế hàng hóa phù hợp nhu cầu của xã hội và cơ chế thị trƣờng, có sự quản lý của Nhà nƣớc. Khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên, lao động có hiệu quả, tạo ra cơ cấu kinh tế đúng đắn, giải phóng và phát triển sức sản xuất. Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, giải quyết yêu cầu nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của mọi ngƣời, tăng cƣờng cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống điểm dân cƣ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống của nhân dân, đảm bảo mối quan hệ đúng đắn về khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng. Đảm bảo kết hợp giữa yêu cầu của sự phát triển với khả năng hiện thực. Yêu cầu của sự phát triển thể hiện sự khác nhau giữa các thời kỳ lịch sử. Nó cũng khác nhau giữa các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội và con ngƣời khác nhau. Kết hợp giữa yêu cầu trƣớc mắt và yêu cầu phát triển ổn định, bền vững và lâu dài. Lấy
73
mục tiêu trƣớc mắt làm chiến thuật, còn mục tiêu lâu dài là chiến lƣợc của sự phát triển. Những mục tiêu và nội dung trƣớc mắt phải hội tụ để tạo nên những mục tiêu lâu dài.
Thoả mãn yêu cầu về tài nguyên và nhu cầu thị trƣờng, đó là sự thoả mãn yếu tố khả năng và đáp ứng nhu cầu nhằm đem lại lợi ích kinh tế xã hội và môi trƣờng của tổng thể. Thƣớc đo của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội chính là lợi ích và hiệu quả kinh tế xã hội cao mà do quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đem lại.
b. Hài hoà, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội
cho tổng thể
Sự hài hoà nghĩa là phát triển ngành này phải tính tới những điều kiện để phát triển các ngành khác và đảm bảo cho bản thân ngành đó cùng các ngành khác tồn tại và phát triển.
Tƣơng tác là sự kết hợp quan hệ và trao đổi lẫn nhau giữa ngành và lĩnh vực này
với ngành và lĩnh vực khác trong một tổng thể.
Hỗ trợ là sự bổ sung và điều tiết giữa nơi thừa,nơi thiếu và ngƣợc lại về một lĩnh
vực nào đó trong một tổng thể.
Thể hiện sự kết hợp giữa phát triển điểm và diện, từng mặt và toàn diện. Quy hoạch tổng thể là chiến lƣợc toàn diện về sự phát triển. Nó đƣợc xây dựng dựa trên đặc điểm của từng tiểu vùng, từng lĩnh vực, từng ngành, mối liên kết giữa các ngành tạo ra sự phát triển tổng thể. Kết hợp giữa sự hoàn thiện của hệ thống với sự không hoàn thiện của một số phân hệ, đảm bảo sự hài hoà của cả hệ thống, tránh mâu thuẫn khập khiễng ở tầng khâu, từng phân hệ. Kết hợp giữa định tính và định lƣợng. Trong quy hoạch tổng thể, có những dự tính mang tính định lƣợng nhƣ mức thu nhập của ngƣời dân của từng thời kỳ, kết quả sản xuất kinh doanh, nhƣng cũng có những số liệu mang tính định tính nhƣ trình độ của ngƣời dân, năng lực của bộ máy, chính quyền. Tuy nhiên, sự định tính và định lƣợng phải tạo ra sự phát triển tổng thể, chúng liên kết và hoà quyện vào nhau. Khi quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, 3 yếu tố hài hoà, tƣơng tác, hỗ trợ luôn phải đƣợc những nhà tổ chức thấm nhuần và coi nhƣ một nguyên tắc cần nắm vững trong nghiên cứu các nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
c. Sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ Áp dụng các quy trình công nghệ tiến bộ, các giải pháp tổ chức lãnh thổ và kinh tế
kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất của xã hội.
Một số quốc gia khi tiến hành xây dựng các phƣơng án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, trong khi thiếu chuyên gia về lĩnh vực này họ đã phải thuê chuyên gia nƣớc ngoài để thực hiện nhiệm vụ đó. Đó cũng là một trong những cách đi tắt đón đầu trong lĩnh vực tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ kế thừa thành tựu của nhân loại hƣớng tới hiện đại.
d. Đảm bảo yêu cầu hiện đại và hội nhập khu vực, kinh tế Phải kiến thiết cho đƣợc những trung tâm đô thị, thành phố, khu vực ngoại vi để tạo nền văn minh ở trình độ cao hơn trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội. Tiếp thu tinh hoa của thế giới và lan toả nền văn minh từ các đô thị tới các vùng xung quanh. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mà những khu đô thị này đƣợc tiến hành tổ chức theo dạng chuỗi, dạng chùm hay rẻ quạt.
74
Ngoài ra, nguyên tắc chung trong việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam đƣợc quy định tại Điều 6 của Nghị quyết 92/2006/NĐ – CP về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội nhƣ sau:
(1) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa chiến lƣợc, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai. Cụ thể hoá mục tiêu và nhiệm vụ chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội trong không gian lãnh thổ cả nƣớc, vùng và làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch. Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực phải đi trƣớc một bƣớc, làm căn cứ cho lập quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch đất đai. Đồng thời, quy hoạch xây dựng đô thị và quy hoạch đất đai giai đoạn trƣớc làm căn cứ cho lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội giai đoạn sau.
(2) Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội cả nƣớc với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, lãnh thổ, phù hợp giữa quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội với quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Quy hoạch cả nƣớc phải đi trƣớc một bƣớc, làm căn cứ cho lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, đồng thời các quy hoạch vùng và ngành, lĩnh vực giai đoạn trƣớc làm căn cứ để lập quy hoạch cả nƣớc cho giai đoạn sau. Quy hoạch tổng thể ngành phải đi trƣớc một bƣớc, làm căn cứ cho lập quy hoạch vùng và quy hoạch cấp tỉnh, đồng thời quy hoạch cấp tỉnh giai đoạn trƣớc làm căn cứ cho lập quy hoạch phát triển ngành giai đoạn sau. Quy hoạch phát triển các lãnh thổ lớn phải đi trƣớc một bƣớc, làm căn cứ cho lập quy hoạch của lãnh thổ nhỏ hơn, đồng thời, quy hoạch của lãnh thổ nhỏ hơn giai đoạn trƣớc làm căn cứ cho lập quy hoạch lãnh thổ lớn hơn của giai đoạn sau.
(3) Kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng an ninh, giữa yêu cầu trƣớc mắt với lâu dài, gắn hiệu quả bộ phận với hiệu quả tổng thể, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
(4) Bảo đảm tính khoa học, tính tiên tiến, và kế thừa dựa trên các kết quả điều tra cơ bản, các định mức kinh tế - kỹ thuật, các tiêu chí, chỉ tiêu có liên quan để xây dựng quy hoạch.
(5) Phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế.
75
Chƣơng III
NỘI DUNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng
Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng nhằm
mục đích:
- Chỉ ra những nhân tố cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội. Xác định điểm
xuất phát nền tảng về điều kiện tự nhiên của địa phƣơng.
- Đánh giá hiện tiềm năng và những tác động của các điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên và môi trƣờng đến phát triển kinh tế xã hội.
Yêu cầu của nội dung này là: - Phân tích và làm rõ các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, làm cơ sở cho việc xây dựng phƣơng án khai thác sử dụng, đáp ứng các mục tiêu phát triển của từng địa phƣơng.
- Dự báo khả năng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở cho việc xây dựng phƣơng án khai thác sử dụng, đáp ứng các mục tiêu phát triển của từng địa phƣơng.
Nội dung chủ yếu bao gồm: a. Các yếu tố chủ yếu sẽ được phân tích, đánh giá - Các yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu. Đó là những yếu tố của tự nhiên sẽ tác động vào mọi hoạt động có ý thức của con ngƣời. Bản thân nó có thể tạo ra những thuận lợi hoặc cũng có thể cản trở, gây khó khăn cho những hoạt động tạo ra sản phẩm của loài ngƣời.
Để biện minh cho những hành động của con ngƣời tác động vào tự nhiên, có ý kiến cho rằng lao động kết hợp với thiên nhiên là nguồn gốc của mọi của cải, thiên nhiên cung cấp vật liệu cho lao động còn lao động thì biến những của cải đó thành vật phẩm. Song, sự kết hợp trên luôn có lợi hay không? Thực ra, ngƣời ta quên mất một điều “Cần cù cộng với ngu xuẩn sinh phá hoại”. Do đó, mà họ cố tình can thiệp vào tự nhiên theo sự cần cù riêng của mình.
- Tài nguyên đất: tài nguyên đất của hành tinh chúng ta có thể hiểu là toàn bộ lớp vỏ trái đất cùng bề phủ ngoài của nó, mà ở đó thực vật, vi sinh vật và cả con ngƣời có thể sinh sống đƣợc. Đất đai không những là nguồn cung cấp năng lƣọng mà còn là môi trƣờng sống, quyết định đến sự tồn tại của loài ngƣời và thế giới động vật , thực vật, vi sinh. Hiện nay, toàn bộ đất đai tốt nhất trên thế giới đã đƣợc con ngƣời tác động vào. Tuy nhiên, có đến hàng triệu ha đất canh tác trên thế giới đã bị sử dụng sai mục đích. Hàng năm, đất trồng trọt trên thế giới bị thoái hoá từ 5-7 triệu ha. Song song là sự bùng nổ dân số đã tác động đến môi trƣờng, sự khai thác độ phì nhiêu của đất quá mức đã làm cho đất ngày càng thoái hoá, cạn kiệt, diện tích đất canh tác ngày càng giảm sút trầm trọng.
76
Ở Việt Nam, tài nguyên đất có trên 33 triệu ha, bình quân trên đầu ngƣời là < 0,5
ha, bao gồm các loại đất chính sau:
+ Đất Ferralit có khoảng 16 triệu ha + Đất phù sa có khoảng 3 triệu ha + Đất xám bạc màu có khoảng > 3 triệu ha + Đất mặn có khoảng 1,9 triệu ha + Đất phèn có khoảng 1,7 triệu ha Tài nguyên đất theo các mục đích sử dụng bao gồm: + Đất nông nghiệp chiếm 21,02% tổng diện tích + Đất lâm nghiệp chiếm 29,19% + Đất chuyên dùng chiếm 4,92% + Các loại đất khác chiếm 44,88% - Tài nguyên nước và thuỷ văn: trữ lƣợng nƣớc trên Trái đất khoảng 1,45 tỷ km3. Trong đó, nƣớc ngọt chiếm 35 triệu km3, nƣớc dùng đƣợc không quá 3 triệu km3, nƣớc mƣa có khoảng 105.000 km3, còn lại hầu hết là nƣớc mặn ở các địa phƣơng.
Ngày nay, con ngƣời tác động quá mạnh vào tự nhiên làm cho khí hậu toàn cầu thay đổi hiện tƣợng hiệu ứng nhà kính phát huy tác dụng và hậu quả của nó là nƣớc biển dâng lên, nƣớc mƣa tăng lên nhƣng lƣợng nƣớc ngầm giảm đi đáng kể. Hơn nữa, việc xây dựng các hồ chứa nƣớc, ngăn đập…đã làm phá vỡ hệ thống dòng chảy, gây suy thoái và ô nhiễm các nguồn nƣớc.
Lƣợng chất thải độc hại thậm chí cả chất thải phóng xạ cũng đƣợc đƣa vào môi trƣờng nƣớc làm cho mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc ngày càng nghiêm trọng hơn. Ô nhiễm nguồn nƣớc có thể làm cho chuỗi thức ăn bị tích tụ sinh học và phóng đại sinh học các chất độc, rất có hại cho động vật và con ngƣời.
Nhìn chung, nguồn nƣớc mặt trên thế giới bị ô nhiễm trầm trọng. Năm 1980, trên thế giới có khoảng 720 triệu ngƣời không đƣợc sử dụng nƣớc sạch thì đến năm 2000, con số này đã lên trên 1 tỷ ngƣời. Nhƣ vậy, số lƣợng và chất lƣợng tài nguyên nƣớc bao gồm cả nƣớc mặt và nƣớc ngầm đều có sự suy giảm nghiêm trọng ảnh hƣởng xấu tới sản xuất và đời sống của dân cƣ. Bên cạnh đó, việc phân bố nguồn nƣớc giữa các vùng cũng có nhiều thay đổi có thể làm ảnh hƣởng tới sự phân bố của dân cƣ cũng nhƣ các công trình khác.
- Tài nguyên rừng: ngay từ khi nền nông nghiệp nguyên thuỷ ra đời thì con ngƣời bắt đầu can thiệp vào tài nguyên rừng. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, trƣớc nguy cơ thiếu gỗ và các nguồn lâm sản, tầng lớp quý tộc đã hạn chế việc phá rừng. Trên thế giới thì Châu Âu là vùng rừng đƣợc khai thác sớm nhất, nhƣng các vùng rừng nhiệt đới ở châu Á và châu Phi mới là những vùng bị xâm hại mạnh nhất. Đặc biệt là từ thế kỷ XVIII đến nay, do công nghiệp hoá phát triển mạnh mà nhu cầu gỗ và lâm sản ngày càng nhiều dẫn đến rừng càng bị phá hoại nghiêm trọng hơn. Tài nguyên rừng ngoài việc cung cấp cho con ngƣời gỗ và các loại lâm sản nó còn là lá phổi của trái đất, điều tiết khí hậu, bảo vệ tài nguyên đất, nƣớc, ngăn chặn sự ô nhiễm thoái hoá và còn có tác dụng phục hồi các nguồn tài nguyên bị phá huỷ. Nhƣ vậy, rừng vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị bảo vệ môi trƣờng. Ở Việt Nam, diện tích đất đai
77
có rừng che phủ giảm rất nhanh từ 15- 16 triệu ha (năm 1945) đến năm 2005 chỉ còn khoảng 8-9 triệu ha, tức là giảm từ 45% tổng diện tích xuống còn khoảng 28%. Trong khi đó, một số nƣớc trong khu vực có tỷ lệ rất cao nhƣ ở Thái Lan là 52%, Philippin là 58% và Indonesia là 67%.
- Thảm thực vật và quần thể vật nuôi: đó là yếu tố sinh học trong môi trƣờng
sống gồm có 3 thành phần quan trọng là động vật, thực vật và vi sinh vật.
- Tài nguyên biển và thuỷ sản: với hơn 3.200 km bờ biển chạy suốt chiều dài đất nƣớc đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong vận tải biển. Hoạt động nuôi và đánh bắt thuỷ hải sản cũng có ý nghĩa to lớn, vừa tạo ra nguồn thu nhập vừa là nguồn dinh dƣỡng của đa số nhân dân. Một số sinh vật biển nhƣ cá, tôm, cua, sò, hến có giá trị cao trên thị trƣờng thế giới. Trữ lƣợng hải sản cho phép mỗi năm đánh bắt khoảng 1,5 triệu tấn cá và 5-6 vạn tấn tôm. Các vùng ven biển còn có điều kiện thuận lợi phát triển nghề làm muối, trồng cói, sản xuất các sản phẩm từ cói…Ngoài ra, bãi biển, cảnh quan biển tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình dịch vụ du lịch. Đây là nguồn lực quan trọng trong chiến lƣợc phát triển của Việt Nam vì chúng ta có vị trí thuận lợi, có bờ biển dài và rất đẹp nhƣ biển Nha Trang, Vũng Tàu, vịnh Hạ Long, các vịnh, các vùng bảo tồn biển…
- Tài nguyên khoáng sản: tài nguyên khoáng sản trong tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ và đại đa số nằm trong lòng đất. Sự hình thành của nó có liên quan đến các quá trình địa chất trong suốt hàng triệu năm. Trong thời gian dài, con ngƣời đã tìm hiểu và thấy đƣợc ý nghĩa quan trọng của các loại khoáng sản. Điều này đã thu hút con ngƣời vào việc khai thác các loại khoáng sản mạnh mẽ hơn và dẫn tới nguy cơ bị cạn kiệt nhƣ các loại quặng, than đá, dầu lửa, khí đốt…Các loại khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất các loại vật liệu nhƣ công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh, sành sứ. Trong số 16 loại khoáng sản chủ yếu đƣợc sản xuất trên thế giới hiện nay, các nƣớc đang phát triển dẫn đầu thế giới về sản xuất bô xít, phốt phát và chiếm tỷ trọng lớn về sản xuất coban, cromit, thiếc, đồng. Trong khi đó, các nƣớc công nghiệp phát triển cung cấp các loại khoáng sản chủ yếu nhƣ kiềm, lƣu huỳnh, quặng sắt, niken và kẽm…
Việt Nam đƣợc đánh giá là một quốc gia có nguồn khoáng sản đa dạng nhƣ bô xít, thiếc, đồng, cromít, quặng sắt, đá vôi…Trong đó, có thể nói triển vọng nhất là nguồn bô xít trải dọc biên giới phía Bắc với trữ lƣợng khoảng 5 tỷ tấn và vùng Tây Nguyên có trữ lƣợng khoảng 7 tỷ tấn. Một số cơ sở khai thác quặng sắt ở Thái Nguyên, apatit ở Lào Cai, thiếc ở Cao Bằng đều có quy mô vừa và nhỏ.
- Tài nguyên du lịch: cảnh quan, các di tích lịch sử văn hoá và tài nguyên nhân
văn phục vụ cho phát triển du lịch.
- Vấn đề môi trường và dự báo tác động môi trường trong thời kỳ quy hoạch. Trong từng yếu tố trên, cần phân tích đánh giá để làm rõ thực trạng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trong 10 năm qua và dự báo khả năng có thể khai thác sử dụng trong thời kỳ quy hoạch và những khó khăn, thách thức đặt ra khi khai thác các tiềm năng đó.
78
Ví dụ: khi phân tích đánh giá và dự báo về sử dụng tài nguyên đất cần xác định giá trị thu đƣợc trên một ha đất, khu vực nào đã đạt đến giới hạn cao đó, khu vực nào còn tiềm năng có thể đạt giá trị cao, ở mức nào? Đánh giá tiềm năng về chất lƣợng để đáp ứng cho các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đánh giá về số lƣợng đáp ứng cho các mục tiêu mở rộng diện tích cho các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ thƣơng mại và các hoạt động khác ở hiện tại và tƣơng lai.
Để phân tích, đánh giá và dự báo khả năng khai thác các nguồn tài nguyên thiên
nhiên cần phân tích đánh giá cụ thể ở các mặt sau:
- Vị trí địa lý kinh tế - chính trị: mô tả vị trí của vùng quy hoạch về phạm vi hành
chính, tọa độ địa lý, vị trí tƣơng đối, thể hiện cụ thể:
+ Phân tích đánh giá vị trí thể hiện rõ đƣợc vai trò của vùng quy hoạch về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng trong 10 năm qua và dự báo vai trò này trong giai đoạn quy hoạch sắp tới và có thể tính tới vai trò xa hơn để có chiến lƣợc dài hơn.
+ Đánh giá vị trí trong mối quan hệ với các vùng khác và với quan hệ quốc tế. Phân tích đánh giá rõ khả năng mở cửa với các vùng và với quốc tế thông qua ảnh hƣởng của vị trí địa lý nhƣ tác động của vị trí cửa khẩu, vị trí ven biển…
- Đánh giá các đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: + Phân tích đánh giá các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển sản xuất công nghiệp, nông, lâm, ngƣ nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và tổ chức lãnh thổ. Trong các thời kỳ 10 năm, 5 năm các yếu tố tự nhiên đã đáp ứng đƣợc cho các nhu cầu sản xuất vật chất nhƣ thế nào? (Ví dụ nhƣ các yếu tố khí hậu, địa hình, thổ nhƣỡng và các nguồn tài nguyên đã tạo ra nguồn lực đầu vào của sản xuất, tạo ra không gian lãnh thổ cho mọi hoạt động). Bên cạnh đó, cũng phải tính tới khả năng các yếu tố tự nhiên này trong các thời kỳ tiếp theo có thể 10 năm, 20 năm hoặc xa hơn. Từ đó, áp dụng phƣơng thức sản xuất hợp lý đảm bảo các yếu tố tự nhiên luôn luôn ổn định và bền vững. + Các nguồn tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch - dịch vụ: phân tích, đánh giá bản sắc dân tộc, truyền thống, những lối sống tốt đẹp cần đƣợc phát huy, hệ thống di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh…
+ Khả năng nguồn nƣớc phục vụ phát triển công nghiệp nhƣ chế biến thuỷ hải sản, đóng tàu, các công nghiệp khác và nƣớc sạch cho sinh hoạt của vùng ven biển, hải đảo cần phải đƣợc xem xét, phân tích, đánh giá về trữ lƣợng, chất lƣợng và sự phân bố.
+ Đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của vùng và khả năng phối hợp phát triển của vùng với các vùng khác và với quốc gia. Thể hiện mối quan hệ thống nhất trong phạm vi toàn quốc, khu vực và trên thế giới. Đánh giá những lợi thế và hạn chế về tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh hợp tác và cùng phát triển theo xu hƣớng hội nhập và toàn cầu hoá. Bên cạnh đó, phải xác định đƣợc khả năng khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững trong điều kiện hợp tác phát triển với quan điểm không lệ thuộc, cùng có lợi. Đánh giá đƣợc mối quan hệ giữa sản xuất và nguồn nguyên liệu với cơ sở không gian và điều kiện hình thành sản xuất.
+ Đánh giá tiềm năng quỹ đất: tiềm năng đất đai cho các mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của vùng thể hiện ở hai vấn đề sau
79
Thứ nhất là khả năng có thể khai thác mở rộng diện tích cho các mục đích sử dụng, đặc biệt là mở rộng diện tích cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Nhƣ vậy, nguồn đất dự trữ có thể khai thác đƣợc xem xét, đánh giá và sử dụng các biện pháp hợp lý để đƣa vào khai thác sử dụng, cụ thể nhƣ đất bãi ven sông, đất trống đồi núi trọc…Bên cạnh đó, khả năng mở rộng các loại đất phi nông nghiệp cũng cần đƣợc xem xét đánh giá thể hiện ở quy mô, vị trí các công trình có thể đƣợc mở rộng diện tích.
Thứ hai là xem xét đánh giá tới khả năng thâm canh của đất. Đây chính là đánh giá chất lƣợng của đất đai. Cần đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất có tính ƣu việt sẽ đƣợc lựa chọn trong tƣơng lai với các đơn vị đất đai đƣợc xây dựng từ các bản đồ đơn tính nhƣ loại đất theo phát sinh, thành phần cơ giới, địa hình, chế độ tƣới, chế độ tiêu…Mức độ chi tiết của đánh giá này tuỳ theo yêu cầu và theo phạm vi diện tích của vùng quy hoạch. Ví dụ, cấp xã thì phải xây dựng chi tiết, cấp huyện và tỉnh thì có mức khái quát hơn, đối với cả nƣớc chỉ có mức tổng quát.
Việc đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho việc xây dựng phƣơng hƣớng sử
dụng đất và phƣơng hƣớng phát triển của các ngành các lĩnh vực trong tƣơng lai.
+ Hiện trạng và dự báo khả năng sử dụng tài nguyên khoáng sản: xác định số lƣợng và trữ lƣợng các loại khoáng sản có trong vùng. Khảo sát, đánh giá việc khai thác các loại khoáng sản hiện nay, ý nghĩa của việc khai thác với phát triển kinh tế-xã hội thể hiện ở việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, đóng góp nguồn lực tài chính cho phát triển của địa phƣơng. Đánh giá số lƣợng và trữ lƣợng các loại khoáng sản có thể khai thác sử dụng trong tƣơng lai. Đây là cơ sở định hƣớng quy hoạch các ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế tạo…gắn với các nguồn khoáng sản của địa phƣơng. Bên cạnh đó, việc đánh giá nguồn khoáng sản còn tạo ra nguồn lực để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu của địa phƣơng trong tƣơng lai.
+ Hiện trạng và dự báo khả năng sử dụng tài nguyên rừng: xác định diện tích rừng, trữ lƣợng gỗ và các loại lâm sản. Đánh giá khả năng khai thác rừng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phƣơng. Đánh giá khả năng trồng rừng, phục hồi diện tích rừng chặt phá làm tăng độ che phủ và nâng cao chất lƣợng rừng. Bên cạnh đó, cần đánh giá độ che phủ rừng có liên quan đến các vấn đề bảo vệ đất chống xói mòn bảo vệ nguồn nƣớc và bảo vệ không khí.
+ Hiện trạng và dự báo khả năng sử dụng tài nguyên biển và ven biển: xác định việc khai thác sử dụng tài nguyên biển của địa phƣơng bao gồm đánh bắt thuỷ hải sản ven bờ, xa bờ, nuôi trồng thuỷ sản ven bờ, khai thác bờ biển, cảnh quan biển trong việc phát triển du lịch dịch vụ, dịch vụ hàng hải. Bên cạnh đó, đánh giá khả năng khai thác sử dụng tài nguyên biển trong tƣơng lai của vùng nghiên cứu, thể hiện khả năng có thể khai thác thủy sản ở vùng nƣớc nông, vùng nƣớc sâu, phát triển dịch vụ biển và khả năng phát triển dịch vụ hàng hải. Với điều kiện biển của Việt Nam thì phát triển dịch vụ biển là hết sức quan trọng nhằm phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven biển. Hiện nay, công nghiệp du lịch đã đƣợc các nƣớc trên thế giới phát triển rất mạnh nhƣng ở nƣớc ta còn rất khiêm tốn. Đây là tiềm năng lớn để khai thác phát triển trong tƣơng lai.
b. Phân tích, đánh giá về thực trạng môi trường và những vấn đề đặt ra trong quy
hoạch
80
Trong những năm vừa qua, các vùng đã và đang tập trung phát triển kinh tế, khai thác các nguồn lực phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên là nguy cơ gây tổn thất cho môi trƣờng, làm cho môi trƣờng đứng trƣớc nguy cơ suy thoái. Trong nội dung này, cần tập trung phân tích, đánh giá chất lƣợng môi trƣờng và công tác quản lý, giám sát môi trƣờng với các vấn đề sau đây:
- Môi trƣờng nƣớc và những vấn đề đặt ra: đánh giá chất lƣợng, trữ lƣợng nguồn nƣớc của vùng nghiên cứu, khả năng đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống của hiện tại và tƣơng lai. Đánh giá khả năng gây ra ô nhiễm nguồn nƣớc từ hoạt động sản xuất của địa phƣơng nhƣ sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, nƣớc thải các nhà máy xí nghiệp và các khu công nghiệp, nƣớc thải sinh hoạt của khu vực nông thôn và khu vực đô thị.
- Môi trƣờng không khí và những vấn đề đặt ra: đánh giá môi trƣờng không khí thể hiện chất lƣợng, nguồn gây ra ô nhiễm không khí. Đánh giá lƣợng bụi trong không khí thông qua việc vận chuyển đất đá, khí thải của các nhà máy xí nghiệp.
- Môi trƣờng công nghiệp và đô thị: ngoài việc đánh giá về nguồn nƣớc, không khí, đất đai, cần đánh giá môi trƣờng công nghiệp và đô thị bao gồm những vấn đề nhƣ tiếng ồn, cảnh quan kiến trúc đô thị, môi trƣờng sống công nghiệp và đô thị liên quan tới công nghiệp hóa và đô thị hoá tại vùng nghiên cứu.
- Môi trƣờng rừng và cây xanh: độ che phủ và tỷ lệ cây xanh phải đƣợc đánh giá
để xác định khả năng bảo vệ môi trƣờng đất, môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí.
- Môi trƣờng sinh thái tổng hợp theo lãnh thổ (khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, khu vực nông thôn): đánh giá môi trƣờng sinh thái tổng thể có ý nghĩa trong công tác quy hoạch vì phải xác định các vùng trong môi trƣờng tổng hợp có mối quan hệ tác động qua lại với nhau tức là phát triển của một vùng phải đạt trong hệ sinh thái tổng hợp chứ không phải là các chỉ tiêu môi trƣờng độc lập.
1.2. Đặc điểm dân số, dân cƣ, nguồn nhân lực
Trong thời gian qua, dân số gia tăng nhanh theo cấp số nhân, còn lƣơng thực, thực phẩm tăng theo cấp số cộng. Tất cả sẽ dẫn đến dƣ thừa dân số, lao động và việc làm. Hiện tại, cứ mỗi giây thì dân số thế giới tăng thêm 172 ngƣời. Nhƣ vậy, mỗi năm tăng khoảng 90 triệu ngƣời, chủ yếu ở châu Á và châu Phi và hầu hết sự gia tăng dân số diễn ra ở các nƣớc nghèo.
Dân số tăng đã đòi hỏi nhiều vấn đề gia tăng cả về vật chất và tinh thần, hay nói cách khác giữa tăng dân số và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Dân số tăng, nhiều ngƣời đƣợc học hành, sẽ có nhiều phát minh và khoa học công nghệ sẽ phát triển. Điều này hoàn toàn đúng nếu chúng ta xem xét suốt quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Sự gia tăng dân số dẫn tới nguồn lao động dồi dào. Đây sẽ là nguồn cung cấp lao động cho các ngành và nhƣ vậy sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng lên. Dân số đông dẫn đến nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật đƣợc xây dựng nhƣ đƣờng sá, hệ thống tƣới tiêu, sân bay, bến cảng. Tuy nhiên, dân số tăng cũng có những tác động xấu cho sự phát triển bền vững, đặc biệt là vấn đề bảo vệ
81
môi trƣờng. Bảo vệ môi trƣờng đã trở thành sự nghiệp phát triển của từng nƣớc và của toàn thế giới.
Hiệu quả của gia tăng dân số đến sự phát triển thể hiện ở các khía cạnh sau: - Ảnh hƣởng đến vấn đề phát triển kinh tế xã hội: nếu quan sát tình hình gia tăng dân số và trình độ tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc thì ta sẽ thấy một thực tế là đối với nhiều nƣớc chậm phát triển trong khi GDP/đầu ngƣời rất thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lại rất cao. Ngƣợc lại, đối với các nƣớc phát triển, tuy có mức GDP/đầu ngƣời rất cao song tỷ lệ gia tăng dân số lại thấp đặc biệt là tỷ lệ sinh rất thấp.
- Ảnh hƣởng đến vấn đề đô thị hoá: đô thị hoá cũng là một trong những hậu quả của gia tăng dân số. Dân số tăng nhanh, diện tích đất canh tác bị giảm dần do xây dựng nhà ở, phát triển công nghiệp cho phù hợp với nhu cầu con ngƣời và phát triển mở rộng đô thị.
- Ảnh hƣởng đến việc sử dụng tài nguyên và môi trƣờng: dân số tăng, áp lực về của cải vật chất tăng dẫn tới việc con ngƣời tìm mọi cách khai thác các nguồn tài nguyên để phục vụ cho quyền lợi của mình. Cụ thể, con ngƣời đã khai thác sử dụng đất đai ngày càng triệt để hơn, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, khoáng sản…đang có nguy cơ suy thoái và khai thác cạn kiệt.
- Giải quyết thảm họa: xã hội càng phát triển tất yếu sẽ có vấn đề này sinh nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt nhất là những tài nguyên quý hiếm. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cũng có nhiều thảm họa xảy ra nhƣ vấn đề nghèo đói, thiên tai… Những vấn đề này phải đƣợc con ngƣời giải quyết bằng những giải pháp thích hợp ở từng giai đoạn khác nhau.
Nội dung phân tích đánh giá đặc điểm dân số, nguồn nhân lực: phân tích, đánh giá và dự báo quy mô, chất lƣợng dân số và nguồn nhân lực, những vấn đề xã hội. Tập trung vào 4 lĩnh vực sau:
- Phân tích, đánh giá quá trình biến đổi về số lƣợng và chất lƣợng dân số trong 10 năm qua và những yếu tố tác động đến biến đổi số lƣợng và chất lƣợng dân số trong thời gian tới. Dự báo quy mô và chất lƣợng dân số đến năm 2015, 2020, 2025.
- Phân tích, đánh giá đặc điểm dân cƣ và tình hình phân bố dân cƣ ảnh hƣởng của đặc điểm dân cƣ và phân bố dân cƣ, các yếu tố văn hoá, nhân văn…đến phát triển kinh tế của vùng quy hoạch thời gian vừa qua và dự báo tác động của nó đến phát triển kinh tế trong thời gian tới.
- Phân tích, đánh giá về quá trình biến đổi số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực, tình hình khai thác và sử dụng nguồn nhân lực, tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phƣơng. Dự báo quy mô và chất lƣợng nguồn nhân lực cho thời kỳ quy hoạch.
- Phân tích dự báo vấn đề xã hội có liên quan chặt chẽ tới dân số nhƣ vấn đề văn
hoá, lối sống, thẩm mỹ, phong tục tập quán, bản sắc dân tộc…
Để làm rõ những nội dung trên, có thể sử dụng những chỉ tiêu đánh giá: - Quy mô, cơ cấu dân số: xác định dân số qua các thời kỳ 5 năm, 10 năm, 20 năm, cơ cấu theo độ tuổi, theo giới tính. Nhƣ vậy, đánh giá đƣợc số lƣợng, diễn biến về tính chất dân số. Đối với các nƣớc đang phát triển, chủ yếu là cơ cấu dân số trẻ, lực lƣợng
82
lao động dồi dào và ngƣợc lại các nƣớc phát triển thì cơ cấu dân số già, ảnh hƣởng tới lực lƣợng lao động trong các ngành. Cơ cấu giới tính phản ánh chất lƣợng nguồn lao động và nó có ảnh hƣởng tới sự phát triển xã hội trong tƣơng lai.
- Dân số thành thị dân số nông thôn: phản ánh cơ cấu thành thị nông thôn. Đối với các nƣớc, các vùng phát triển thì tỷ lệ dân số đô thị cao. Nhƣ vậy, chỉ tiêu này cũng phản ánh sự phát triển của vùng, thể hiện sự tiếp cận với điều kiện sống ở đô thị với ngƣời dân. Hiện nay, hiện tƣợng di dân từ nông thôn ra thành thị diễn ra ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Nguyên nhân của sự di dân về lý thuyết dựa vào mô hình Todaro có hai giả thuyết sau:
+ Thứ nhất, giả thuyết rằng di dân chủ yếu là một hiện tƣợng kinh tế mà đối với cá nhân ngƣời di dân có thể là một quyết định hoàn toàn hợp lý cho dù có tình trạng thất nghiệp ở thành thị.
+ Thứ hai, quyết định di cƣ phụ thuộc vào sự chênh lệch thu nhập “dự kiến ” sẽ có đƣợc chứ không phải thu nhập thực tế giữa nông thôn và thành thị. Chênh lệch thu nhập “dự kiến ” đƣợc xác định bởi sự tác động qua lại giữa 2 yếu tố, đó là chênh lệch về đồng lƣơng thực tế giữa nông thôn – thành thị và xác suất thành công trong tìm việc làm ở thành thị. Ngƣời lao động trong hiện tại và tƣơng lai sẽ di cƣ nếu thu nhập “dự kiến” có đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị cao hơn thu nhập hiện có ở nông thôn.
- Mật độ dân số: các vùng đồng bằng thƣờng có mật độ cao hơn miền núi, phản ánh đƣợc mức độ khai thác sử dụng tài nguyên, chủ yếu là đất đai của vùng. Ngoài ra, mật độ dân số còn phản ánh những vấn đề của xã hội có liên quan. Những vùng đất chật ngƣời đông thì những vấn đề xã hội môi trƣờng nhƣ an ninh trật tự, vấn đề văn hoá, xử lý rác thải…phức tạp hơn ở vùng có mật độ dân cƣ thấp.
- Tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, sự chuyển dịch cơ cấu lao
động phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng.
- Năng suất lao động: xác định đƣợc thu nhập và mức sống trên đầu ngƣời thông qua phƣơng thức sản xuất và trình độ, tay nghề của ngƣời lao động. Nhƣ vậy, năng suất lao động phản ánh hai vấn đề, đó là bản thân ngƣời lao động nhƣ trình độ, tay nghề…và vấn đề áp dụng khoa học trong sản xuất.
- Tuổi thọ bình quân: phản ánh đời sống vật chất tinh thần của ngƣời dân. Ngoài ra, môi trƣờng sống càng trở nên quan trọng khi các yếu tố vật chất ngày càng đƣợc đáp ứng cao hơn.
- Tỷ lệ lao động có trình độ: đánh giá sự biến đổi về chất của lực lƣợng lao động thông qua nhiều chỉ tiêu cụ thể nhƣ tỷ lệ ngƣời biết chữ, tỷ lệ mù chữ, phổ cập giáo dục, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trƣờng, tỷ lệ ngƣời đƣợc đào tạo nghề, tỷ lệ đại học, tỷ lệ trung học…
- Tỷ lệ suy dinh dƣỡng: phản ánh đời sống vật chất và sự phát triển của mạng lƣới dịch vụ y tế. Đối với các vùng nông thôn, giải quyết vấn đề suy dinh dƣỡng rất nan giải vì việc làm tăng thu nhập, nâng cao trình độ của ngƣời dân nông thôn gặp nhiều khó khăn.
83
- Các chỉ tiêu khác: bảo hiểm con ngƣời, vấn đề văn hoá, lối sông dân cƣ, tác
phong làm việc của ngƣời lao động…
1.3. Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở vật chất, trình độ công nghệ, tình hình phát triển và phân bố các ngành, các lĩnh vực và hiện trạng phát triển theo lãnh thổ. Đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội nhằm đạt đựơc các mục đích:
- Mục đích của nhiệm vụ này là làm rõ trình độ phát triển (vị thế của địa phƣơng trong tổng thể nền kinh tế cả nƣớc) đã đạt đến mức độ nào? Thành tựu chủ yếu, yếu kém cơ bản và những nguyên nhân chủ yếu.
- Đƣa ra những đánh giá có ý nghĩa kết luận về thành quả đạt đƣợc trong giai đoạn 5 năm, 10 năm vừa qua. Bên cạnh đó, cần phân tích đƣa ra những khó khăn, nguyên nhân, và hƣớng giải quyết những khó khăn trong phát triển kinh tế ở giai đoạn tới (5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc xa hơn).
Yêu cầu đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội: phân tích, đánh giá thực trạng không mô tả chung chung mà phải có luận cứ thông qua phân tích các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và kinh tế ngành. Tập trung và phân tích đánh giá các nội dung chủ yếu sau:
- Phân tích, đánh giá tăng trƣởng kinh tế - Phân tích, đánh giá quá trình phát triển cơ cấu kinh tế - Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ
lực
- Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng - Phân tích thực trạng và chủ trƣơng đầu tƣ phát triển - Phân tích hiện trạng phát triển theo lãnh thổ - Phân tích, đánh giá về thực trạng môi trƣờng và những vấn đề đặt ra trong quy
hoạch thời kỳ tới
- Phân tích đánh giá tác động của các cơ chế, chính sách đang thực hiện phát triển
kinh tế - xã hội
- Phân tích đánh giá tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã
hội trong giai đoạn vừa qua
Nội dung cụ thể:
1.3.1. Phân tích, đánh giá tăng trưởng kinh tế
Phân tích đánh giá tăng trƣởng kinh tế thông qua chỉ tiêu GDP chung và GDP của từng ngành nhƣ công nghiệp – xây dựng, nông – lâm – ngƣ nghiệp, dịch vụ - thƣơng mại và chỉ tiêu giá trị sản xuất. Tính toán và xử lý các tài liệu, tƣ liệu đánh giá về thực trạng phát triển thời kỳ 10 năm để phân tích và nêu bật đƣợc:
- Những thành tựu đạt đƣợc về tăng trƣởng kinh tế so với mục tiêu quy hoạch,
các chỉ tiêu của các kế hoạch 5 năm đã đƣợc xây dựng của địa phƣơng.
- Những yếu tố chủ yếu tác động đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế (vốn đầu tƣ, lao động, đất đai, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm và sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa của địa phƣơng).
84
1.3.2. Phân tích, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tƣơng quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lƣợng và chất lƣợng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể. Nhƣ vậy, cần phải hiểu cơ cấu ngành kinh tế theo các nội dung sau đây:
- Số lƣợng các ngành kinh tế đƣợc hình thành: số lƣợng này không cố định mà luôn đƣợc hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội. Nguyên tắc ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội, biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ. Các ngành kinh tế đƣợc phân thành 3 khu vực hay gọi là 3 nhóm ngành: khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp, khu vực II là các ngành công nghiệp – xây dựng, khu vực III là các ngành dịch vụ-thƣơng mại.
- Cơ cấu kinh tế thể hiện mối quan hệ tƣơng hỗ giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ này thể hiện cả mặt số lƣợng và chất lƣợng. Mặt số lƣợng thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Mặt chất lƣợng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Sự tác động cùng chiều và ngƣợc lại, còn mối quan hệ gián tiếp đƣợc thể hiện theo các cấp độ khác nhau. Nói chung, mối quan hệ của các ngành cả số lƣợng và chất lƣợng đều thƣờng xuyên biến đổi và ngành càng trở nên phức tạp theo sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nƣớc và quốc tế.
Tên nƣớc Bảng 2.1. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nƣớc trong khu vực Dịch vụ 1990 Nông nghiệp 1990 Công nghiệp 1990 1999 1999 1980 1980 1980 1999
30,1 27,1 17,1 48,5 41,6 49,7 21,4 31,3 32,9
Trung Quốc Indonesia Malaysia Thái Lan Việt Nam 24,8 23,2 50,0 19,4 15,2 12,5 38,7 19,4 10,7 10,3 25,4 43,3 28,7 23,1 39,1 42,2 37,2 22,7 44,9 46,2 40,1 34,5 31,9 48,1 26,9 41,5 42,6 50,3 38,6 35,7 43,1 49,6 40,1
Nguồn: ADB, 2000
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần tập trung vào những vấn đề chính sau: - Cơ cấu giữa các nhóm ngành: nông – lâm – ngƣ nghiệp, công nghiệp – xây
dựng và dịch vụ - thƣơng mại
- Cơ cấu trong nội bộ các ngành - Cơ cấu theo thành phần kinh tế - Cơ cấu theo lãnh thổ (mối tƣơng quan giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng
theo nhóm.
Nội dung phân tích cần tập trung vào những vấn đề chính sau: - Phân tích những mặt đƣợc, mặt chƣa đƣợc trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành gắn với cơ cấu đầu tƣ và cơ cấu sử dụng lao động.
85
- Phân tích về chất của cơ cấu kinh tế nhƣ mối quan hệ giữa các ngành, giữa các
thành phần kinh tế và giữa khu vực thành thị và nông thôn.
- Nguyên nhân tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.3.3. Nội dung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực
a. Công nghiệp và sản phẩm công nghiệp chủ lực
- Phân tích, đánh giá về sự phát triển cơ cấu tiểu ngành công nghiệp, sản phẩm
mũi nhọn và sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng một số phân ngành và sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Tập trung làm rõ các sản phẩm công nghiệp chính nhƣ sản phẩm gì, khả năng, thị phần của sản phẩm và mức độ cạnh tranh thị trƣờng.
- Phân tích, đánh giá về phát triển công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thể hiện ở các nội dung sau: đánh giá các chủ trƣơng, chính sách về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn gắn với việc giải quyết việc làm và thu hút lao động, phát triển ngành nghề và tạo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến… - Phân tích, đánh giá việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghiệp: thể hiện trong các nội dung cụ thể nhƣ trình độ công nghệ, các tiến bộ kỹ thuật đƣợc áp dụng trong sản xuất, quy trình sản xuất sản phẩm. Trong những năm qua, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ là chìa khóa thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
- Phân tích, đánh giá về phân bố công nghiệp: tình hình phát triển các khu công nghiệp nhất là các khu công nghiệp vừa và nhỏ, điểm công nghiệp làng nghề. Sự phân bố về không gian cần đánh giá phát triển theo trục phát triển, hành lang phát triển. Trên cơ sở đó, xác định đƣợc việc khai thác tiềm năng, khả năng hội nhập của ngành trong xu thế phát triển chung của cả nƣớc cũng nhƣ trên thế giới. Ví dụ: vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang phát triển Đông – Tây…cần đánh giá sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống theo không gian các trục, hành lang phát triển.
- Phân tích, đánh giá về các giải pháp và chính sách đã thực hiện để phát triển công nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong giai đoạn tới. Đây là những vấn đề quan trọng phải đƣợc đƣa ra từ những thành công cũng nhƣ không thành công của phát triển công nghiệp trong thời gian qua, là cơ sở quan trọng cho việc đƣa ra định hƣớng phát triển. Nó có thể ảnh hƣởng tích cực hoặc cũng có thể tiêu cực đến công tác quy hoạch tổng thể về sau. b. Nông, lâm, ngư nghiệp và sản phẩm chủ lực
- Phân tích, đánh giá về sự phát triển, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các sản phẩm nông nghiệp mũi nhọn của địa phƣơng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Cần đánh giá trong thời gian 10 năm, 20 năm để thấy đƣợc sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất đang đƣợc tất cả các địa phƣơng thực hiện thông qua nhiều chƣơng trình, nội dung hành động cụ thể nhƣ tăng vụ, chuyển sang trồng cây có giá trị kinh tế cao, chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản…Nhƣ vậy, dần
86
dần hình thành những vùng sản xuất hàng hoá có thế mạnh hay những sản phẩm chủ lực của địa phƣơng. Trong quá trình chuyển đổi này cũng nảy sinh không ít khó khăn và tồn tại. Đó là sự bền vững về kinh tế và môi trƣờng, vấn đề lao động dƣ thừa ở vùng nông thôn, vấn đề kết cấu bề mặt đất bị thay đổi lớn cũng có thể ảnh hƣởng đến việc sử dụng trong tƣơng lai.
- Phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
nông nghiệp, giống, công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản, chế biến.
- Phân tích, đánh giá về bố trí sản xuất nông, lâm nghiệp theo lãnh thổ bao gồm: + Nông nghiệp (cơ cấu sản xuất, các vùng tập trung, giống, kỹ thuật bảo quản, công nghệ chế biến): tình hình phát triển các sản phẩm hàng hoá từ các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu. Đánh giá về quy mô và cơ cấu sản phẩm theo từng loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu, những thành công và tồn tại.
+ Lâm nghiệp (cơ cấu sản xuất, vùng nguyên liệu, cây đặc sản, phủ xanh đất trống đồi núi trọc): tình hình phát triển các sản phẩm hàng hoá từ rừng, những thành công và tồn tại trong quá trình phát triển lâm nghiệp theo hƣớng hàng hoá. Đánh giá sự kết hợp chặt chẽ và hợp lý giữa trồng rừng đƣa lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trƣờng, vừa nâng cao đời sống của ngƣời dân bản địa vừa cải tạo và bảo vệ môi trƣờng của cả cộng đồng.
+ Ngƣ nghiệp (cơ cấu sản xuất, phát triển các vùng nuôi tập trung, giống, kỹ thuật bảo quản, công nghệ chế biến, năng lực đánh bắt…): tình hình đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, thị trƣờng mặt hàng thủy sản, những thành công và yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm có ý nghĩa cho phát triển ngƣ nghiệp trong giai đoạn tới.
- Phân tích, đánh giá về phát triển kinh tế nông thôn theo các mục tiêu. Kinh tế vùng nông thôn gắn chặt với sản xuất nông lâm ngƣ nghiệp. Nhƣ vậy, phát triển nông thôn theo các tiêu chí của sự phát triển bền vững đòi hỏi nông nghiệp phải nằm vai trò quan trọng nhất, quyết định sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn.
- Phân tích, đánh giá về các giải pháp và chính sách đã thực hiện thời gian vừa qua, giải pháp, cơ chế nào còn phù hợp hay đề nghị nên điều chỉnh bổ sung nhƣ thế nào cho phù hợp. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm có ý nghĩa cho phát triển trong giai đoạn tới. c. Khu vực dịch vụ thương mại và các sản phẩm dịch vụ
- Phân tích, đánh giá về sự phát triển, phân bố sản phẩm mũi nhọn và sức cạnh
tranh trên thị trƣờng.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng một số lĩnh vực và sản phẩm dịch vụ chủ yếu. Tập trung làm rõ các sản phẩm chính: sản phẩm gì, khả năng, thị phần của sản phẩm và mức độ cạnh tranh thị trƣờng.
- Phân tích, đánh giá về các giải pháp và chính sách đã thực hiện để phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm có ý nghĩa cho phát triển dịch vụ trong giai đoạn tới. Tập trung vào một số lĩnh vực sau:
+ Thƣơng mại nội địa, tiếp thị và sức cạnh tranh (đánh giá và tổng kết các trung tâm thƣơng mại ở thành phố và các huyện, thƣơng mại nông thôn) + Lĩnh vực xuất nhập khẩu, các sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu chủ yếu
87
+ Các hoạt động dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm + Phát triển kinh tế cửa khẩu + Các hoạt động dịch vụ sản xuất và tiêu dùng
d. Hiện trạng phát triển và phân bố các ngành văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, giáo dục, thể thao, phát thanh truyền hình
- Sự phát triển phân bố cơ sở vật chất của từng lĩnh vực, những thành tựu và tồn
tại.
- Tình hình thực hiện các chƣơng trình quốc gia trên lãnh thổ của từng địa
phƣơng.
- Phân tích, đánh giá về các giải pháp và chính sách đã thực hiện. Nguyên nhân và bài kinh nghiệm có ý nghĩa cho phát triển trong giai đoạn tới. Tập trung phân tích một số lĩnh vực sau:
+ Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình + Việc làm và giải quyết việc làm + Giáo dục + Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân + Văn hoá, thông tin, phát thanh truyền hình + Thể dục thể thao + Hoạt động khoa học và công nghệ + Hoạt động xoá đói giảm nghèo + Một số vấn đề bức xúc về xã hội (tệ nạn, các vấn đề tôn giáo, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa…)
1.3.4. Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng
Phân tích đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng của địa phƣơng cần làm rõ thực trạng hiện nay, trình độ phát triển đến đâu? Những thuận lợi và những vấn đề cần đặt ra cho quy hoạch thời kỳ tới. Nội dung và đối tƣợng phân tích đánh giá kết cấu hạ tầng tập trung vào:
- Các cửa khẩu đất liền, đầu mối giao thông đƣờng bộ. - Các trục giao thông chính mang tính liên vùng, liên tỉnh, các trục đƣờng chính. - Mạng cấp điện, bƣu chính viên thông, công nghệ thông tin (sử dụng internet,
trang bị máy tính và nối mạng điện tử…).
- Hệ thống cấp, thoát nƣớc. - Mạng lƣới các ngân hàng, các cơ sở tài chính, tín dụng. - Trình độ công nghệ của các ngành, khả năng áp dụng và sáng chế khoa học công nghệ. Nhu cầu đổi mới công nghệ (gắn với khả năng cạnh tranh của hàng hoá, tăng năng suất lao động).
1.3.5. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển
- Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tƣ xã hội thời gian qua, tổng đầu tƣ xã hội qua
các thời kỳ, cơ cấu vốn đầu tƣ theo ngành và theo lãnh thổ.
- Cơ cấu nguồn vốn đầu tƣ xã hội, tình hình huy động và các giải pháp đã thực
hiện nhằm huy động vốn đầu tƣ đối với từng loại nguồn vốn.
88
- Đánh giá hiệu quả vốn đầu tƣ đối với từng vùng, từng lĩnh vực, từng ngành.
1.3.6. Hiện trạng phát triển lãnh thổ
Phân tích tình trạng phân hoá, tính hài hoà cần thiết ở từng vùng lãnh thổ, chênh
lệch theo lãnh thổ về trình độ phát triển và đời sống dân cƣ:
- Mức độ phân dị thành các tiểu vùng và những khác biệt cơ bản. - Mức độ tập trung tiềm lực kinh tế gắn với phát triển mạng lƣới đô thị, khu,
cụm công nghiệp và các hành lang kinh tế.
- Tình hình phát triển các tiểu vùng và mức độ chênh lệch giữa các tiểu vùng.
1.3.7. Phân tích đánh giá tác động của các cơ chế, chính sách đang thực hiện phát triển kinh tế - xã hội
Mục tiêu của nội dung này là thông qua việc phân tích, đánh giá các cơ chế, chính sách đang thực thi trên địa bàn quy hoạch có tác động và đem lại hiệu quả nhƣ thế nào trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội thời gian qua. Từ đó, rút ra những nhận xét mang tính tổng kết để có luận cứ cho nghiên cứu các nhiệm vụ quy hoạch giai đoạn tới.
1.3.8. Phân tích, đánh giá tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội
Thông qua việc phân tích đánh giá sự tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển thời gian qua nhƣ thế nào, từ đó rút ra những nhận xét mang tính tổng kết để có luận cứ đề xuất các nhiệm vụ quy hoạch trong thời gian tới.
Tác động của yếu tố quản lý và các chính sách đến phát triển kinh tế - xã hội của địa
phƣơng trong thời gian qua và dự báo tác động trong quy hoạch thời kỳ tới.
1.4. Phân tích, đánh giá các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển (bối cảnh kinh tế quốc tế, mối quan hệ kinh tế- xã hội trong nƣớc và liên vùng)
Phân tích, đánh giá các yếu tố bên ngoài nhằm mục đích dự báo bối cảnh quốc tế, trong nƣớc nhằm làm rõ sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế, tác động của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp vĩ mô đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng.
Yêu cầu khi phân tích đánh giá: - Tập trung làm rõ các vấn đề có liên quan trực tiếp đến địa phƣơng về bối cảnh
quốc tế, khu vực tác động đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng.
- Phân tích sự tác động của các yếu tố đó đến quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội (tác động gì và nhƣ thế nào).
- Từ các phân tích đó rút ra đƣợc những gì cần đón bắt cơ hội, cần né tránh trong
xây dựng quy hoạch.
- Để thực hiện nhiệm vụ này cần phối hợp với các Bộ, Ngành trung ƣơng để trao
đổi cung cấp thông tin về những vấn đề trên.
1.4.1. Phân tích sự báo tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế
89
Tuỳ theo đặc thù của từng vùng, cần phối hợp với các Bộ, Ngành trung ƣơng để
làm rõ những vấn đề chủ yếu sau:
- Tình hình phát triển kinh tế, chính trị của khu vực và khả năng hợp tác kinh tế
giữa vùng với bên ngoài.
- Phân tích dự báo tác động của yếu tố hội nhập quốc tế đến nền kinh tế của vùng: phân tích tình hình thị trƣờng thế giới và dự báo nhu cầu, khả năng tiêu thụ, sức cạnh tranh của các mặt hàng chủ yếu của tỉnh trên thị trƣờng thế giới.
- Dự báo triển vọng thị trƣờng và khả năng hợp tác đầu tƣ thu hút vốn nƣớc ngoài
(FDI, ODA…)
1.4.2. Phân tích tác động của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp vĩ mô đến phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Đối với nhiệm vụ này, tùy theo đặc thù của địa phƣơng, cần phối hợp với các Bộ,
Ngành và các địa phƣơng liền kề để làm rõ:
- Phân tích và dự báo vị trí, vai trò của địa phƣơng trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế - xã hội chung của cả nƣớc và vùng.
- Yêu cầu đặt ra của vùng đối với địa phƣơng. - Dự báo triển vọng thị trƣờng trong nƣớc và mối quan hệ liên vùng: phân tích tình hình và dự báo triển vọng thị trƣờng trong nƣớc, xác định xu thế ảnh hƣởng đối với vùng về trao đổi hàng hoá và các nguồn lực (nguyên liệu, năng lƣợng, thiết bị hàng tiêu dùng vốn đầu tƣ nguồn, nhân lực…). Phân tích khả năng hợp tác, cạnh tranh đối với các khu vực khác trong cả nƣớc.
1.5. Phân tích lợi thế, hạn chế và thách thức
- Phân tích có tính chất so sánh các dạng tiềm năng của vùng dự án với các vùng
khác để rút ra các lợi thế so sánh có khả năng khai thác vào mục tiêu phát triển.
- Nguyên nhân của những thành tựu và tồn tại về phát triển kinh tế - xã hội của
vùng thời gian qua. Rút ra các bài học kinh nghiệm để khắc phục trong thời gian tới.
- Tác động của yếu tố quản lý và các chính sách đến phát triển kinh tế - xã hội
trong tƣơng lai.
- Thách thức trƣớc bối cảnh quốc tế, xu thế biến động của thế giới có nguy cơ ảnh
hƣởng tích cực, tiêu cực đến sự phát triển của vùng.
- Thách thức trƣớc những biến động khó dự báo đƣợc về các nguồn lực, về khoa
học kỹ thuật, về môi trƣờng, về thị trƣờng…
- Thách thức trƣớc nhu cầu về vật chất, tinh thần tăng lên không ngừng của ngƣời
dân.
2. LUẬN CHỨNG QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN
2.1. Luận chứng các quan điểm phát triển và mục tiêu tổng quát
Luận chứng các quan điểm mục tiêu phát triển đạt đƣợc các mục đích sau:
90
- Đƣa ra những quan điểm cơ bản mang tính chủ đạo về phát triển (cả về quy mô, chất lƣợng và thời gian đạt đƣợc), về những khâu bứt phá, những vấn đề có tính chất bao quát nhất.
- Đƣa ra những mục tiêu tổng quát và cụ thể, luận chứng các giải pháp chủ yếu
để đạt đƣợc mục tiêu phát triển.
Yêu cầu khi xây dựng luận chứng: - Phải luận chứng tính toán các phƣơng án tăng trƣởng để lựa chọn quan điểm và
mục tiêu phát triển.
- Tập trung vào luận chứng và phân tích các nội dung sau: + Luận chứng quan điểm, mục tiêu (trên cơ sở tính toán các phƣơng án phát triển). + Luận chứng các giải pháp quy hoạch phát triển các ngành và lĩnh vực theo mục
tiêu lựa chọn.
2.1.1. Xác định quan điểm phát triển
Xác định các quan điểm mang tính chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ quy hoạch, cả về quy mô và chất lƣợng phát triển, quan điểm về các khâu bứt phá. Căn cứ vào chiến lƣợc phát triển của cả nƣớc, quy hoạch tổng thể phát triển của cấp trên mà địa phƣơng xác định các quan điểm nhƣ:
- Quan điểm mang tính chỉ đạo về phát triển kinh tế, trong đó có vấn đề then chốt
là tăng trƣởng nhanh tạo ra các khâu đột phá và làm giàu.
- Quan điểm về trình độ phát triển cần đạt tới trong bối cảnh hƣớng ngoại mạnh
mẽ.
- Quan điểm về hiệu quả kinh tế - xã hội môi trƣờng trong cân nhắc lựa chọn. - Quan điểm phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ an ninh, quốc phòng . - Quan điểm về phát huy nội lực, tận dụng những thế mạnh của địa phƣơng trong
phát triển.
2.1.2. Xác định mục tiêu phát triển
Đây là mục tiêu xuất phát từ lợi ích của toàn xã hội, của toàn nền kinh tế trên cơ
sở phát triển bền vững. Việc xây dựng hệ thống mục tiêu đƣợc mô phỏng theo sơ đồ sau:
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu 2 Mục tiêu 1 Mục tiêu 3
Chỉ tiêu cụ thể Chỉ tiêu cụ thể Chỉ tiêu cụ thể
Sơ đồ 2.1: Tổ chức hệ thống mục tiêu
91
Những mục tiêu cụ thể đó là những mục tiêu cần đạt đƣợc trong các hoạt động kinh tế xã hội của địa phƣơng. Đƣợc sắp xếp theo thứ tự ƣu tiên phù hợp với đặc thù của vùng.
2.2. Luận chứng các mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạn quy hoạch
Có nhiều cách tiếp cận để xây dựng các phƣơng án phát triển. Đối với tình hình
hiện nay của các địa phƣơng thì hai cách tiếp cận sau đây tƣơng đối hợp lý:
- Cách tiếp cận theo mục tiêu: từ những mục tiêu đƣợc lựa chọn một cách hợp lý cho sự phát triển của địa phƣơng trong từng giai đoạn (nhƣ việc thu hẹp khoảng cách về thu nhập, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đạt đến một trình độ phát triển nào đó…), các phƣơng án tăng trƣởng sẽ đƣợc phân tích xây dựng cho toàn bộ nền kinh tế, cho các ngành, khu vực chủ yếu.
- Cách tiếp cận từ tiềm năng phát triển: từ các yếu tố về tiềm năng phát triển, một số ngành chủ lực và mối quan hệ liên ngành, xây dựng phƣơng án tăng trƣởng cho các ngành chủ yếu. Từ đó, tổng hợp thành phƣơng án phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
2.2.1. Đối với cách tiếp cận theo mục tiêu
Bước 1: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế Từ mục tiêu tổng quát chung của cả nƣớc và các vùng lãnh thổ, nhìn chung, các
địa phƣơng đều xác định mục tiêu phát triển kinh tế theo những hƣớng sau:
- Thu hẹp khoảng cách: mục tiêu đặt ra có thể là việc thu hẹp khoảng cách tƣơng đối giữa địa phƣơng mình với mức trung bình của cả nƣớc (vùng) vào cuối thời kỳ quy hoạch. Ví dụ: tại thời điểm xây dựng hay rà soát quy hoạch GDP bình quân đầu ngƣời của địa phƣơng mới bằng 60% mức bình quân của cả nƣớc, mục tiêu đặt ra cho đến hết thời kỳ quy hoạch trên 90% hay đuổi kịp bình quân cả nƣớc.
- Đạt tới một cơ cấu kinh tế thích hợp: với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, nhiều địa phƣơng muốn trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tạo nên sức tăng trƣởng nhanh cho các ngành. Mục tiêu về cơ cấu có thể lựa chọn giữa tỷ trọng các ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp, giữa nông nghiệp – công nghiệp - dịch vụ…
- Đạt tới một mục tiêu nhất định: một số địa phƣơng có điều kiện phát triển đi trƣớc có thể xác định mục tiêu phát triển nhanh hơn, chẳng hạn có mức tăng trên 2 lần GDP/ngƣời trong 10 năm hoặc tốc độ tăng trƣởng GDP cao hơn mức bình quân cả nƣớc (vùng)…Tƣơng tự nhƣ vậy, có thể đặt ra với mốc về thu nhập bình quân đầu ngƣời tính theo USD. Tỷ trọng GDP của địa phƣơng so với vùng cấp trên.
Bước 2: Xác định nhịp độ tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng bình quân cho từng
giai đoạn trong thời kỳ quy hoạch.
Với thông tin về hiện trạng phát triển và dự kiến mục tiêu đề ra, bằng các tính toán đơn giản có thể xác định nhịp độ tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng bình quân cho từng kế hoạch 5 năm trong thời kỳ quy hoạch.
Bước 3: Luận chứng nhịp tăng trƣởng tƣơng ứng của các ngành kinh tế chủ yếu
đảm bảo nhịp độ tăng trƣởng của toàn bộ nền kinh tế theo mục tiêu trên.
92
Từ nhịp tăng trƣởng theo mục tiêu đƣợc ƣớc tính ở bƣớc 3, dự kiến và tham khảo ý kiến chuyên gia về nhịp độ tăng trƣởng tƣơng ứng của các ngành kinh tế chủ yếu (nông nghiệp, công nghiệp, - xây dựng – dịch vụ). Luận chứng về phƣơng án phù hợp dựa trên việc tính toán nhiều phƣơng án, phân tích lựa chọn trên cơ sở các suy luận hợp lý và ý kiến các chuyên gia. Trong nhiều trƣờng hợp có thể kết hợp đồng thời bƣớc 2 và 3.
Bước 4: Phân tích tính hiện thực của các mục tiêu, lựa chọn mục tiêu thích hợp. Từ các phƣơng án hợp lý, xem xét khả năng thực hiện của các phƣơng án dựa trên những thông tin phân tích về nguồn vốn lao động và những tiến bộ của khoa học và công nghệ. Từ đó, có đƣợc các phân tích về các mục tiêu thích hợp.
2.2.2. Đối với cách tiếp cận từ tiềm năng phát triển
Ý tƣởng chính của cách tiếp cận là từ tiềm năng phát triển của các ngành kinh tế, đánh giá tiềm năng phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Với trình độ phát triển hiện nay, hai ngành nông – lâm –ngƣ nghiệp và công nghiệp có lợi thế về mặt thống kê hiện vật trên phạm vi nhất định. Những sản phẩm chủ lực có số lƣợng không nhiều. Do vậy, ƣớc tính đƣợc nhịp độ tăng trƣởng của nhóm sản phẩm này có thể dự tính đƣợc tốc độ phát triển của hai ngành. Tốc độ tăng trƣởng của ngành dịch vụ có thể suy ra từ mối tƣơng quan của hai ngành trên.
Bước 1: Ƣớc tính tăng trƣởng của các ngành sản xuất vật chất. - Xuất phát từ tiến bộ khoa học và công nghệ và chuyển đổi cơ cấu sản phẩm: thực tiễn những năm vừa qua cho thấy, ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc, năng suất vật nuôi, cây trồng đã có những chuyển biến lớn do ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ. Các địa phƣơng đã chuyển đổi cơ cấu sản phẩm nông – lâm – ngƣ nghiệp và đã thu đƣợc những thành tựu đáng kể. Những thông tin về năng suất các giống mới, về chuyển đổi cơ cấu sản phẩm của các địa phƣơng trong vùng (hoặc trên cả nƣớc) là cơ sở để ƣớc tính giá trị sản xuất của các sản phẩm nông nghiệp cũng nhƣ giá trị sản xuất của các ngành theo giác độ tiềm năng. Các nguồn thông tin định mức cũng cho phép xác định nguồn đầu tƣ để khai thác đƣợc các tiềm năng sản xuất.
- Căn cứ trên sự thay đổi của năng lực sản xuất và nhu cầu thị trƣờng: trong phạm vi địa bàn quy hoạch, có thể theo dõi và ƣớc tính sự thay đổi năng lực sản xuất của các cơ sở nông nghiệp chủ lực trong thời kỳ quy hoạch và giả thiết tỷ trọng các sản phẩm mới của ngành. Những thông tin này cho phép tính toán giá trị sản xuất của ngành.
- Dựa trên lao động và năng suất lao động. Thông tin về tăng khả năng tăng năng suất lao động và thay đổi cơ cấu lao động (của các địa phƣơng trong vùng hoặc trên cả nƣớc) cho phép hỗ trợ việc ƣớc tính giá trị sản xuất của các ngành, đặc biệt đối với ngành nông nghiệp và xây dựng. Trong phần này, có thể xem xét các phƣơng án chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành, nhu cầu đầu tƣ tƣơng ứng và tác động đến tăng trƣởng của các ngành.
Bước 2: Ước tính tăng trưởng của khối ngành dịch vụ Dựa trên mối tƣơng quan giữa các ngành có thể ƣớc tính nhịp tăng trƣởng của khối ngành dịch vụ thông qua nhịp độ tăng trƣởng của hai khối ngành nông – lâm –ngƣ nghiệp và công nghiệp – xây dựng.
93
Bước 3: Ước tính tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Từ nhịp tăng trƣởng của 3 khối ngành nông – lâm – ngƣ, công nghiệp – xây dựng
và dịch vụ có thể dễ dàng tính toán nhịp tăng trƣởng chung cho toàn bộ nền kinh tế.
2.2.3. Lựa chọn các phương án phát triển
Hai cách tiếp cận nêu trên bổ sung cho nhau về căn cứ tính toán và nội dung kinh tế. Do vậy, việc xem xét đối chiếu các phƣơng án tính toán cho phép lựa chọn các phƣơng án tăng trƣởng phù hợp với thời kỳ phát triển căn cứ trên những điều kiện về khả năng thu hút vốn đầu tƣ, lao động, tài nguyên có thể huy động đƣợc vào phát triển trong thời kỳ quy hoạch, các yêu cầu về cơ chế chính sách để xây dựng phƣơng án cơ sở (còn gọi là phƣơng án xu thế hay phƣơng án chủ) và các phƣơng án dự phòng (còn gọi là phƣơng án đối lập).
- Phƣơng án cơ sở là phƣơng án có nhiều khả năng xảy ra nhất. - Các phƣơng án đối lập bao gồm các phƣơng án có giả thiết về điều kiện phát
triển thuận lợi hoặc khó khăn hơn dự kiến.
2.3. Luận chứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các phƣơng án tăng trƣởng kinh tế và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ
Từ phƣơng án chọn của quy hoạch đƣợc xác định ở trên, tiến hành luận chứng về
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Việc luận chứng này tiến hành theo các bƣớc sau:
Bước 1: Luận chứng cơ cấu GDP giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông
nghiệp.
Bước 2: Luận chứng cơ cấu GDP giữa hai khu vực sản xuất và dịch vụ. Bước 3: Luận chứng và lựa chọn cơ cấu kinh tế chung theo GDP giữa ba khu vực
kinh tế.
Trên cơ sở tính toán luận chứng theo hai chiều giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, sản xuất và dịch vụ, tiến hành luận chứng cơ cấu kinh tế chung giữa 3 khu vực công nghiệp – xây dựng, nông – lâm –ngƣ nghiệp và dịch vụ.
Bảng 2.2. Mẫu bảng “Kết quả của phƣơng án chọn cơ cấu kinh tế chung”
Cơ cấu kinh tế chung (%) Nhịp độ tăng trƣởng kinh tế bình quân thời kỳ (%) Chỉ tiêu
2005 2010 2015 2020 2006- 2010 2011- 2015 2016- 2020 2006- 2020
lâm, ngƣ
GDP theo phƣơng án chọn Nông, nghiệp Công nghiệp – xây dựng Dịch vụ
94
Để lựa chọn cơ cấu kinh tế chung này, phải trên cơ sở quan điểm và mục tiêu đã xác định, tiếp cận với xu hƣớng về quá trình phát triển kinh tế của địa phƣơng trên cơ sở khai thác triệt để, có hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý, về tài nguyên, về nguồn lực…để nhanh chóng đổi mới cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng nhanh tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp có ƣu thế (ngành mũi nhọn) và các sản phẩm chủ lực.
Từ phƣơng án chọn về tốc độ tăng trƣởng và cơ cấu kinh tế chung, tiến hành luận
chứng phƣơng hƣớng phát triển các ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ lực.
Tiêu chuẩn để lựa chọn phương án tăng trưởng kinh tế - Tiêu chuẩn về sự gia tăng sản phẩm: đó là sự tăng thêm về vật chất của ngƣời
dân trong vùng.
- Tiêu chuẩn về sự phát triển ổn định bền vững: sự tăng trƣởng ổn định trong thời
gian dài, có sự kết hợp giữa tăng trƣởng kinh tế với bảo vệ nguồn tài nguyên.
3. LUẬN CHỨNG PHƢƠNG HƢỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ CÁC LĨNH VỰC
Nghiên cứu phƣơng hƣớng phát triển các ngành, các lĩnh vực phải giải quyết các
vấn đề và câu hỏi chủ yếu sau:
- Vị trí, vai trò của ngành hoặc lĩnh vực với nền kinh tế quốc dân của địa phƣơng, vùng và cả nƣớc (phải căn cứ vào quy hoạch của ngành và quy hoạch của vùng để xác định)?
- Tốc độ tăng trƣởng bao nhiêu để thể hiện vị trí, vai trò đó? - Cơ cấu ngành và sản phẩm chủ lực là gì? - Công nghệ phải nhƣ thế nào? - Giải pháp về đầu tƣ, tổ chức sản xuất ra sao?
3.1. Phƣơng hƣớng phát triển các ngành kinh tế chủ yếu 3.1.1. Đối với ngành công nghiệp
- Phân tích tổng quan vị trí, vai trò của ngành, các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp (nguyên liệu, vốn, công nghệ, lao động, hạ tầng công nghiệp…), dự báo thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, xuất phát điểm ngành công nghiệp của địa phƣơng, ý đồ chiến lƣợc phát triển công nghiệp của Trung ƣơng trên địa bàn. - Mục tiêu tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành. - Phƣơng hƣớng phát triển ngành, sản phẩm chủ lực và ứng dụng tiến bộ khoa học
– công nghệ trong sản xuất công nghiệp của địa phƣơng.
- Phát triển công nghiệp nông thôn. - Phân bố công nghiệp, bao gồm cả các khu, cụm công nghiệp. - Các dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5 năm). - Các giải pháp và chính sách.
3.1.2. Đối với nông, lâm, ngư nghiệp
- Phân tích các yếu tố tác động đến phát triển nông, lâm, ngƣ nghiệp (tài nguyên đất, tập đoàn giống, trình độ canh tác của ngƣời lao động, hệ thống hạ tầng phục vụ nông
95
nghiệp…), xuất phát điểm của ngành, dự báo nhu cầu thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu, ý đồ chiến lƣợc của ngành trung ƣơng, của vùng và cả nƣớc về phát triển nông, lâm, ngƣ nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
- Mục tiêu tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành. - Phƣơng hƣớng phát triển ngành, sản phẩm chủ lực và ứng dụng tiến bộ khoa học
– công nghệ trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp
- Phƣơng hƣớng bố trí sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp theo lãnh thổ: + Nông nghiệp (cơ cấu sản xuất, phát triển các vùng tập trung, giống, kỹ thuật bao
quản, công nghệ chế biến).
+ Lâm nghiệp (cơ cấu sản xuất, vùng nguyên liệu, cây đặc sản, phủ xanh đất trống
đồi núi trọc).
+ Ngƣ nghiệp (cơ cấu sản xuất, phát triển các vùng nuôi tập trung, giống, kỹ thuật
bảo quản, công nghệ chế biến, năng lực đánh bắt…).
- Phát triển kinh tế nông thôn. - Các chƣơng trình và dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5 năm). - Các giải pháp và chính sách.
3.1.3. Dịch vụ - thương mại
- Phân tích tổng quan vị trí, vai trò của các ngành, các yếu tố tác động đến phát triển, xuất phát điểm các ngành, dự báo nhu cầu thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ chủ yếu, ý đồ chiến lƣợc của vùng và cả nƣớc về phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn nghiên cứu.
- Mục tiêu tăng trƣởng, chuyển dịch và các sản phẩm dịch vụ chủ yếu cấp tỉnh. - Phƣơng hƣớng phát triển ngành dịch vụ và các sản phẩm dịch vụ chủ yếu cấp
tỉnh.
- Tổ chức phát triển dịch vụ theo lãnh thổ. - Các chƣơng trình và dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5 năm). - Các giải pháp và chính sách. Theo các nội dung trên, phân tích và luận chứng cụ thể với từng lĩnh vực dịch vụ:
+ Thƣơng mại nội địa + Lĩnh vực xuất nhập khẩu, các sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu chủ yếu + Du lịch và các sản phẩm du lịch chủ yếu + Các hoạt động dịch vụ ngân hàng tài chính, bảo hiểm + Phát triển kinh tế cửa khẩu + Các hoạt động dịch vụ sản xuất và tiêu dùng
3.2. Phƣơng hƣớng phát triển các lĩnh vực xã hội và môi trƣờng 3.2.1. Phát triển nguồn lực
Nghiên cứu đề xuất các định hƣớng, giải pháp về đảm bảo chất lƣợng nguồn nhân
lực cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng:
- Phƣơng hƣớng thực hiện vấn đề kế hoạch hoá gia đình.
96
- Nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực, dự kiến phát triển nguồn nhân
lực, yêu cầu về chất lƣợng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế của từng địa phƣơng.
- Lao động và việc làm (có chia ra khu vực thành thị và khu vực nông thôn), nhu
cầu việc làm cần bố trí để thu hút lao động qua từng thời kỳ.
- Các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
a. Dân cư và lao động trong kinh tế xã hội
Con ngƣời tạo nên mọi giá trị sản phẩm và cũng là ngƣời sử dụng, tiêu dùng các giá trị đó. Mục tiêu của xã hội, đặc biệt là của xã hội xã hội chủ nghĩa trong phát triển nhân cách con ngƣời là đấu tranh, nâng cao liên tục hiệu quả sản xuất và năng suất lao động, tạo các tiền đề hình thành và phát triển khả năng sáng tạo của ngƣời lao động. Nhu cầu vật chất và văn hóa dân cƣ khác nhau về cơ bản do quy mô và cơ cấu, đặc biệt là sự phân bố dân cƣ lãnh thổ xác định. Quy mô và chất lƣợng của nguồn lao động xã hội phụ thuộc vào số lƣợng dân, cơ cấu dân và phân bố dân trên lãnh thổ. Cơ cấu dân cƣ giữa vùng lãnh thổ khác nhau do các nguyên nhân khác nhau về tự nhiên, xã hội, kinh tế và khoa học kỹ thuật. Tạo lập các tiền đề, điều kiện phát triển tối ƣu dân cƣ và lao động là nhiệm vụ của Nhà nƣớc và địa phƣơng, đặc biệt là các tiền đề, cơ sở để quy hoạch xây dựng các công trình cần thiết về sản xuất và dịch vụ, cũng nhƣ để xác lập và thực hiện các chính sách và biện pháp phát triển dân số và lao động của quốc gia và của mỗi vùng.
Nhiệm vụ quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng là cùng với các cơ quan quy hoạch của các ngành, tạo ra các điều kiện không gian hợp lý nhất để phát triển lực lƣợng lao động và dân cƣ tại những nơi họ làm việc, sinh hoạt và tại vùng lãnh thổ bao quanh, tạo nên sự nhất quán hợp lý giữa phát triển dân cƣ và việc làm, nhà ở, các công trình dịch vụ và hạ tầng cơ sở xã hội và kỹ thuật.
Cơ cấu dân cƣ của vùng là đặc trƣng hoá và phân loại dân cƣ, đặc biệt là lao động phát triển trong phạm vi một vùng theo các tiêu chí cơ cấu và tỷ lệ dân số, kể cả phân bố dân cƣ trong địa phận lãnh thổ vùng (giai cấp và giai tầng, tuổi và giới tính, quy mô gia đình và căn hộ, nghề nghiệp, động thái tự nhiên (sinh, tử) và động thái không gian (di dân, dao động con lắc trong lao động). Các thành tố tác động đến phát triển dân số nhƣ tăng tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử, số lƣợng di dân đến, di dân đi (tăng tự nhiên và tăng cơ học) là rất khác nhau giữa các nƣớc trên thế giới và giữa các vùng trong một nƣớc do các lý do cá nhân và xã hội, mà các lý do này lại phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh tế…của bối cảnh chung và bối cảnh riêng. b. Xu hướng phát triển dân cư và phân bố lao động
Với vai trò quyết định của yếu tố con ngƣời trong sự phát triển xã hội, sự phát triển dân số của các quốc gia trong tƣơng lai sẽ không theo xu hƣớng tăng khối lƣợng mà là nâng cao tuổi thọ của con ngƣời. Song song với việc nâng cao điều kiện sống, trọng tâm của vấn đề này là giữ tỷ lệ sinh đẻ phù hợp với nhu cầu của mỗi gia đình và toàn xã hội. Quá trình phát triển dân số sẽ dần dần cân bằng và tháp tuổi dân cƣ sẽ chuyển từ hình tam giác sang hình trụ. Tuy vậy, quá trình này còn phụ thuộc vào chế độ chính trị phát triển của từng quốc gia. Cần phân tách và phân loại phát triển dân số tự nhiên và cơ học theo vùng để xác định hƣớng phát triển dân số và tính tổng hợp của dân cƣ trong vùng, xác định việc phân dân cƣ và lao động trong toàn lãnh thổ cũng nhƣ trong toàn vùng.
97
Đặc biệt có ý nghĩa trong phát triển dân cƣ toàn quốc hay trong các vùng là tăng
cơ học hay còn gọi là di dân. Quá trình di dân diễn ra theo các xu hƣớng sau:
- Di dân đến một nơi khác hoàn toàn ngoài phạm vi vùng đã cƣ trú và đã làm
việc.
- Di chuyển dân cƣ trong lao động hàng ngày hay hàng tuần từ nơi thừa đến nơi thiếu lao động hay từ nơi ở đến nơi làm việc không thay đổi chỗ ở (hiện tƣợng di dân con lắc trong lao động). Hiện tƣợng di dân này chủ yếu trong các vùng hay trong khoảng cách gần, chủ yếu từ nông thôn vào các đô thị, từ các đô thị nhỏ vào các đô thị lớn hay trung tâm công nghiệp.
Di dân đi nơi khác phát triển theo các xu hƣớng: - Di dân đi từ các điểm dân cƣ nhỏ đến điểm dân cƣ lớn hơn, từ nông thôn ra các
đô thị nhất là các đô thị lớn.
- Di dân từ các vùng có điều kiện sống và lao động, cảnh quan và môi trƣờng xấu
đến nơi có điều kiện tốt hơn.
- Cƣờng độ và quy mô di dân giảm dần, khi khoảng cách từ nơi đi, nơi đến tăng
lên.
- Di dân trong nội vùng mạnh hơn di dân ra ngoài phạm vi vùng. Nguyên nhân cơ bản của di dân là do sự khác nhau về điều kiện sống và lao động,
sự phát triển của việc làm giữa các vùng vì các lý do sau:
- Sự thay đổi chức năng của điểm dân cƣ do xây dựng mới và mở rộng các cơ sở
sản xuất và dịch vụ.
- Đô thị hoá nông thôn với sự gia tăng lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ.
- Tập trung hoá cơ sở hạ tầng trong một điểm dân cƣ kéo theo nhu cầu lao động. - Làm việc theo nhiều ca, kíp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ… Di dân là một hiện tƣợng tồn tại phát triển khách quan và cần thiết cho phát triển kinh tế quốc gia hay của từng vùng. Nó trợ giúp giải quyết các nhiệm vụ dài hạn về phát triển cơ cấu kinh tế, sản xuất, sử dụng và phân bố có hiệu quả nguồn lao động xã hội nói riêng và lực lƣợng sản xuất nói chung.
Di dân con lắc (dao động con lắc trong lao động) cũng đóng góp đáng kể vào tính hiệu quả sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong vùng. Công nghiệp hoá và đô thị hoá càng cao thì loại di chuyển dân cƣ này càng tăng lên. Ở các nƣớc công nghiệp phát triển, có tới 1/3 tổng số ngƣời lao động của xã hội đi làm việc ở ngoài phạm vi hành chính điểm dân cƣ nơi ở, chủ yếu trong nội huyện, nội tỉnh.
Di dân con lắc trong dao động vừa có ƣu điểm và nhƣợc điểm. Nhiệm vụ của quy hoạch là thông qua giải pháp của quy hoạch phân bố lực lƣợng hợp lý nhất để khai thác và sử dụng tối đa ƣu điểm (tính năng động điều phối lao động, chi phí thấp cho xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng do không phải thay đổi chổ ở, nhà ở…) và hạn chế ảnh hƣởng của nhƣợc điểm (chi phí cho giao thông vận chuyển, hao phí nhiều thời gian đi làm, căng thẳng, mệt mỏi cho ngƣời lao động…).
Trong mỗi vùng, sự phát triển của dân cƣ (gia tăng dân số, và di chuyển con lắc
trong lao động) cũng khác nhau giữa các điểm dân cƣ và giữa các vùng kinh tế.
98
Gia tăng dân số cơ học (di dân vào) Sự di chuyển dân số nội vùng phát triển theo các xu hƣớng: - Quy mô của các điểm dân cƣ càng lớn (chủ yếu là đô thị), sự gia tăng dân từ các điểm dân cƣ quy mô nhỏ hơn (chủ yếu là điểm dân cƣ nông thôn) di chuyển vào cũng càng lớn. Trong quá trình này, các điểm dân cƣ nông thôn hoặc sang quy mô lớn hơn, hoặc mất đi do sát nhập vào các điểm dân cƣ khác.
- Quy mô di dân ở các vùng nông thôn lớn sang quy mô ở các vùng công nghiệp
và đô thị lớn (do tỷ lệ đô thị hoá thấp nên cơ cấu di dân biến đổi mạnh hơn).
Di dân con lắc trong dao động (trao đổi lao động) Di dân con lắc trong nội vùng hình thành và phát triển chủ yếu là từ các điểm dân cƣ nông thôn vào các đô thị, từ các đô thị nhỏ vào các đô thị lớn. Di dân con lắc theo chiều ngƣợc lại, hình thành và phát triển ở quy mô và cƣờng độ hạn hẹp. Phân biệt theo các vùng kinh tế, ta thấy quy mô và cƣờng độ của di dân con lắc trong lao động ở các vùng đô thị lớn và công nghiệp lớn hơn so với quy mô cƣờng độ các vùng nông nghiệp. c. Định hướng phân bố dân cư và lao động
Quy hoạch và tạo lập có kế hoạch các mối quan hệ tƣơng hỗ giữa phát triển kinh tế
và phát triển dân số trong vùng, các điểm dân cƣ sẽ tạo điều kiện:
- Dự báo phát triển dân cƣ trong các vùng, đặc biệt là nguồn lao động và các biện
pháp tác động theo mục tiêu phát triển đó.
- Dự báo dài hạn phân bố địa điểm lực lƣợng. - Quy hoạch cải tạo và phát triển các cơ cấu dân cƣ và các giai đoạn thực hiện
quy hoạch đó.
Trên cơ sở đƣờng lối chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc và với sự nhất quán của các mục tiêu trong các dự thảo, phải đảm bảo tỷ lệ cân đối và hài hòa giữa cơ cấu dân cƣ và cơ cấu lao động. Cụ thể là nhiệm vụ:
- Tạo ra tỷ lệ cân đối hài hòa giữa lực lƣợng lao động, khả năng phát triển việc làm với việc duy trì sự phát triển nguồn lao động và việc làm (tái sản xuất lực lƣợng lao động).
- Tạo ra tỷ lệ cân đối hài hoà thƣờng xuyên, liên tục giữa cơ sở hạ tầng xã hội của
vùng và các điểm dân cƣ với sự phát triển của cơ cấu dân cƣ.
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng phải cân đối trên toàn lãnh thổ quốc gia hay các vùng dân cƣ lực lƣợng lao động và khối lƣợng của hạ tầng cơ sở. Do đó, trong quá trình quy hoạch và cân đối, cần phải xem xét các yêu cầu của các xí nghiệp về lực lƣợng lao động cũng nhƣ nhu cầu của họ về quy mô, công suất của cơ sở hạ tầng xã hội. Trên cơ sở các tiêu chuẩn phát triển và nhu cầu, cần phải tác động điều chỉnh sao cho tƣơng ứng và đáp ứng, đồng thời cũng phải xác định nguồn lao động xã hội cũng nhƣ khối lƣợng của cơ sở hạ tầng xã hội trong vùng. Tiền đề để giải quyết các vấn đề trên là sự phát triển của dân số, của di dân con lắc trong lao động (trao đổi lao động trong vùng). Phƣơng châm giải quyết là sử dụng nguồn lao động và công trình cơ sở hạ tầng, xuất phát từ việc tăng cƣờng tổ chức không gian lao động xã hội (tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá cao hơn) từ mục tiêu đạt đƣợc tƣơng quan hiệu quả không gian - thời gian giữa các nơi ở và làm việc cũng nhƣ từ mục tiêu nâng cao mức
99
sống dân cƣ. Với yêu cầu hoàn thiện công tác kế hoạch hoá và quản lý, cần phải nâng cao nghiệp vụ trong quy hoạch phát triển dân cƣ và lực lƣợng lao động, đặc biệt đi sâu vào khai thác giá trị kinh tế của nguồn lao động xã hội, một yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất xã hội. Đó là hợp lý hoá lực lƣợng lao động theo lãnh thổ, nâng cao hiệu suất lao động (tăng tỷ lệ ngƣời trực tiếp sản xuất và giảm ngƣời gián tiếp sản xuất), tận dụng tốt thời gian lao động trong các cơ sở sản xuất, giảm lao động theo thời vụ.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quy hoạch phân bố dân cƣ là dự báo chuyển biến dân số. Từ dự báo này, cho ta dự định sự thay đổi về lƣợng dân số trong thời kỳ quy hoạch để có phƣơng hƣớng sử dụng, di chuyển dân hợp lý với mục đích sử dụng tốt hơn nguồn lao động sẵn có, nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội.
Giải quyết tốt vấn đề về dự báo dân số trong quy hoạch cho phép chúng ta quyết định đúng đắn các nhiệm vụ thực tiễn về xác định nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, tổ chức lĩnh vực dịch vụ, xác định tiềm năng nguồn lao động và phân bố chúng hợp lý giữa các ngành và một loạt các vấn đề khác về tổ chức sản suất, giao thông, trang thiết bị máy móc.
Số lƣợng dân số trong tƣơng lai phù hợp với mức độ phát triển sản suất trong quy hoạch. Nhƣng thông thƣờng, giữa số lƣợng dân theo tính toán quy hoạch và lƣợng dân tính theo phát triển tự nhiên có sự khác nhau, nghĩa là có sự chênh lệch về nguồn lao động. Để sử dụng chúng hợp lý, phải có những biện pháp cân đối lao động, tổ chức dân số đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế của vùng.
Dự báo dân số tương lai - Xác định khả năng phát triển dân số tự nhiên (Nt): Căn cứ vào dân số hiện tại, tốc độ tăng dân số tự nhiên (cho phép), hệ số quy đổi lao động để xác định dân số qua các thời kỳ trong vùng và từng tiểu vùng, từ đó tính ra số lƣợng lao động trong toàn vùng và tiểu vùng.
Cách tính dân số phát triển tự nhiên:
Nt = N0 [1 + (p +/- v)/100]t
Trong đó:
Nt – dân số tƣơng lai (ngƣời) N0 – dân số hiện trạng (ngƣời) p- tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình (%) v - tỷ lệ tăng, giảm cơ học (do nhập vào hay chuyển đi) (%) t - số năm trong giai đoạn dự báo Dựa vào cơ cấu lao động, ta tính đƣợc số lao động tự nhiên. - Xác định khả năng phát triển dân số theo nhu cầu lao động (Nk): Căn cứ vào mục tiêu và cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất của các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, định mức lao động trong từng ngành, từng đối tƣợng (loại cây trồng, loại gia súc, loại công việc) để xác định nhu cầu lao động qua các thời kỳ trong vùng và tiểu vùng.
Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật, năng suất lao động, hiện thực quy trình công nghệ,
xác định yêu cầu trình độ lao động, nghề nghiệp:
Nk = A * 100/[100 – (B + C) ]
Trong đó:
100
Nk - Dân số theo nhu cầu lao động (ngƣời) A - Tổng số lao động trực tiếp trong các ngành sản xuất (lao động) B (%) - Tỷ lệ dân số lao động gián tiếp, phục vụ (B thƣờng có tỷ lệ 8 – 10%) C (%) - Tỷ lệ dân số không tham gia lao động (trẻ em, ngƣời già, ngƣời tàn tật, C
= 50%)
Biện pháp tổ chức lao động So sánh dân số phát triển tự nhiên và dân số tính theo nhu cầu lao động để nghiên
cứu giải pháp phân bố dân cƣ.
Ta có:
Nk – Nt = │∆N│
- Khi │∆N│ > 10% so với Nk: Nt > Nk dân số lớn, lao động dƣ thừa, biện pháp hữu hiệu di chuyển dân đi nơi
khác.
Nt < Nk dân ít, lao động thiếu cho phép nhập dân đến. - Khi │∆N│< 10% so với Nk: có thể cân đối lao động tại chỗ, bằng cách mở rộng
ngành nghề.
3.2.2. Phát triển giáo dục – đào tạo
- Đào tạo phổ thông: nhu cầu đào tạo, mục tiêu đào tạo và các giải pháp thực hiện
mục tiêu.
- Đào tạo nguồn nhân lực: mục tiêu phát triển nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo và
các giải pháp đào tạo.
- Luận chứng các chƣơng trình và dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5
năm).
3.2.3. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân
- Mục tiêu phát triển, nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khoẻ, các giải pháp thực
hiện.
- Luận chứng các chƣơng trình và dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5
năm).
3.2.4. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
- Mục tiêu, nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khoẻ, các giải pháp thực hiện. - Luận chứng các chƣơng trình và dự án đầu tƣ (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5
năm).
3.2.5. Mức sống dân cư, xoá đói giảm nghèo
- Mục tiêu, giải pháp thực hiện. - Luận chứng các vấn đề ƣu tiên trong việc nâng cao mức sống và xóa đói giảm
nghèo (có phân kỳ theo từng giai đoạn 5 năm).
3.2.6. Bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
- Luận chứng các phƣơng án và lựa chọn phƣơng án sử dụng tài nguyên thiên nhiên:
101
+ Tài nguyên đất + Các tài nguyên khác - Bảo vệ môi trƣờng: đảm bảo môi trƣờng không bị suy thoái trƣớc sự phát triển
không ngừng của công nghiệp và các ngành khác.
4. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN (QUY HOẠCH VÙNG LÃNH THỔ) 4.1. Quy hoạch phát triển không gian chung (phân bố lãnh thổ)
Đây có thể coi nhƣ quy hoạch tổng thể về bố trí mặt bằng không gian của địa phƣơng đến năm quy hoạch. Trong đó, chủ yếu là trên nền cơ sở địa lý thể hiện quy hoạch sử dụng đất. Trên đó, thể hiện các đối tƣợng sau:
- Khu công nghiệp theo quy mô, cấp quản lý và theo thời kỳ quy hoạch. - Các điểm đô thị phân theo chức năng và cấp đô thị (hiện có và quy hoạch). - Mạng lƣới giao thông trục trên địa bàn nghiên cứu theo loại đƣờng (đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thuỷ (nếu có)), cấp quản lý (cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và đƣờng sá) theo chất lƣợng đƣờng (bê tông, nhựa, cấp phối, đƣờng đất) và theo tình hình (hiện có, nâng cấp, cải tạo, mở rộng và quy hoạch).
- Phân bố các công trình ƣu tiên đầu tƣ theo quy mô (vốn đầu tƣ) theo lĩnh vực và
theo thời điểm quy hoạch (2010 – 2015 – 2020).
- Dự báo sử dụng mặt bằng quỹ đất: căn cứ vào nhu cầu đất đai của các ngành
các lĩnh vực, định mức sử dụng đất, quy mô đất đai của vùng nghiên cứu.
- Quy hoạch phát triển các tiểu vùng, vùng sản xuất: căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, sự phân vùng các yếu tố tự nhiên, phƣơng hƣớng sản xuất chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp.
- Quy hoạch phát triển các trục kinh tế, các khu vực đặc biệt: xây dựng vùng động lực, các hành lang phát triển. Đây sẽ là những vùng phát triển về mọi mặt hoặc một mặt nào đó, và sẽ là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển của toàn vùng và nhũng vùng khác.
4.2. Quy hoạch phát triển sản xuất 4.2.1. Sản xuất trong phát triển kinh tế xã hội
Quy hoạch phát triển sản xuất là tổ chức trong không gian vùng các hệ thống sản xuất của nền kinh tế quốc dân và kinh tế vùng. Các thành phố chính là các đặc điểm của các cơ sở sản xuất có sự khác nhau về chuyên môn hoá, về quy mô và chức năng, trong mối liên hệ đan xen của chúng và trong mối quan hệ với các thành phần khác của các vùng (cơ cấu cƣ dân, cấu trúc hạ tầng…). Nó đƣợc thể hiện trong các hình thức tổ chức lãnh thổ vùng và theo ngành trên cơ sở phân công của toàn xã hội (chuyên môn hoá, tập trung hoá, liên kết hoá, hợp tác hoá) theo nguyên tắc bố cục đồng đều về chất và hài hoà tỷ lệ về lƣợng, phân bố có kế hoạch các cơ sở sản xuất, là cơ sở và động lực quan trọng để phát triển cơ cấu và sản xuất của vùng.
Phân bố các cơ sở sản xuất có ảnh hƣởng quan trọng đến quyết định phân bố dân cƣ và lao động, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ cấu dân cƣ của vùng. So với các cơ cấu thành phần khác, cơ cấu sản xuất có đặc trƣng đa dạng, đặc biệt và phức tạp. Chỉ có
102
một số ngành sản xuất là phân bố đặc điểm đồng đều trong lãnh thổ của quốc gia hay của vùng (sản xuất và chế biến lƣơng thực, thực phẩm). Có hai hình thức tổ chức không gian sản xuất của vùng:
- Các tổ hợp địa điểm sản xuất của vùng: đó là sự tập trung các cơ sở sản xuất của một ngành hoặc nhiều ngành trong những địa khu cụ thể của vùng. Các địa điểm sản xuất này hình thành nên cơ cấu sản xuất của vùng
- Các hệ thống địa điểm sản xuất lãnh thổ: các tổ hợp địa điểm khác nhau trong vùng của một ngành sản xuất, đồng thời cũng là một bộ phận của tổ chức sản xuất lãnh thổ và tạo thành hệ thống địa điểm phân bố trên lãnh thổ toàn quốc. Đó là tổ chức không gian của sản xuất theo ngành hay theo nhóm ngành.
Trong quy hoạch và phát triển cơ cấu sản xuất vùng, cần phải: - Kết hợp hài hòa và hợp lý giữa phân bố địa điểm sản xuất theo các tổ hợp sản
xuất của vùng với các hệ thống sản xuất của ngành trong phạm vi toàn quốc.
- Tạo sự thống nhất năng động và mềm dẻo, thƣờng xuyên liên tục giữa bộ khung cứng của các điểm sản xuất đã hình thành và sự phát triển động của sản xuất để nâng cao tính ổn định và hiệu quả kinh tế của cơ cấu sản xuất vùng.
Tóm lại, cơ cấu sản xuất của mỗi vùng cần phải đƣợc xác định và phát triển
- Xử lý hài hoà các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động ảnh hƣởng đến sản xuất. Các yếu tố tác động bên trong xuất phát từ cơ cấu sản xuất và đòi hỏi của nền kinh tế quốc dân. Các yếu tố tác động bên ngoài xuất phát sự tồn tại phát triển của cơ cấu thành phần khác, từ mối quan hệ giữa cơ cấu sản xuất và các cơ sở hạ tầng, điều kiện thiên nhiên... Các yếu tố bên ngoài này tạo điều kiện, địa điểm cho phát triển sản xuất vùng. tổng hợp, hài hoà và cân đối, hợp lý nhất, phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng.
4.2.2. Các mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu sản xuất
Mục tiêu phát triển cơ cấu sản xuất của vùng là tổng hợp đa ngành nhƣng có trọng
tâm, trọng điểm (chuyên môn hoá ngành mũi nhọn) trên cơ sở:
- Sử dụng tối đa hiện trạng phân bố địa điểm sản xuất (cấu trúc địa điểm) của vùng và có kế hoạch cải tạo phát triển, xây dựng bổ sung và hoàn thiện cơ cấu sản xuất theo định hƣớng của quy hoạch lãnh thổ và định hƣớng phát triển kinh tế vùng.
- Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng và tiềm lực của vùng, các quy luật kinh tế, các mối quan hệ sản xuất trong và ngoài vùng, kể cả hợp tác quốc tế để phát triển sản xuất vùng. Tăng cƣờng nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, khai thác tối đa lợi thế của các mối quan hệ sản xuất và khoa học trong việc tổ chức và phát triển sản xuất vùng.
- Đáp ứng hài hoà các yêu cầu của các cơ cấu thành phần trong quá trình xây dựng và phát triển cơ cấu sản xuất vùng (cơ cấu dân cƣ và lao động, cơ cấu tài nguyên, cơ sở hạ tầng…).
Xu hƣớng phát triển sản xuất của các vùng nên nhƣ sau: - Trong các vùng công nghiệp và các vùng đô thị lớn cần hoàn thiện mở rộng quy mô sản xuất trên các cơ sở sản xuất hiện có song song với chuyển đổi cơ cấu sản xuất, liên kết sản xuất công nghiệp của vùng. Khi các điều kiện địa điểm của vùng đã có không
103
đáp ứng yêu cầu của sản xuất phát triển thì cần bổ sung các điểm mới có thể trong vùng hoặc trong các khu vực khác.
- Trong các vùng công nghiệp hoá thấp, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hƣớng mở rộng quy mô, ngành nghề. Trên cơ sở đó, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xoá bỏ dần cơ cấu độc canh nông nghiệp, đồng thời là những vùng đất hỗ trợ quá trình giải toả các vùng đô thị lớn đang quá tải.
- Trong các vùng này, tiến hành xây dựng các trung tâm hay cơ sở sản xuất công nghiệp mới để nâng cao khả năng phát triển và năng suất lao động, phát triển và hoàn thiện các quan hệ sản xuất. Đồng thời, qua đó cải thiện và nâng cao điều kiện sống và lao động của nhân dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp. Thông qua chuyên môn hoá, tập trung hoá và hợp tác trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao trình độ sản xuất và phạm vi quan hệ, tổ chức trong và giữa các ngành công nghiệp chế biến, thu gom, tạo cơ sở hình thành các tổ hợp công nông nghiệp theo ngành và theo vùng.
4.2.3. Các mối quan hệ sản xuất không gian
So với các loại quan hệ khác, quan hệ sản xuất trong không gian lãnh thổ có bán kính xa nhất. Từ các quy luật phân bố địa điểm của sản xuất, từ các chức năng giới hạn của kinh tế, công nghệ và kỹ thuật trong quá trình sản xuất đa tầng, các mối quan hệ của sản xuất công nghiệp trong không gian (quan hệ cung cấp, hỗ trợ, và tiêu thụ sản phẩm) chỉ tồn tại và phát triển ở quy mô hẹp trong lãnh thổ của vùng. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, giao thông vận tải, khoảng cách trong phát triển và phân bố địa điểm công nghiệp trong lãnh thổ mà các yếu tố lao động (nhất là lao động đã đƣợc đào tạo), lợi thế của các công trình và cơ sở khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật chiếm vị trí hàng đầu. Do vậy, địa khu để xác định địa điểm đã mở rộng lớn hơn và động thái hơn. Kết luận trên đã đƣợc chứng minh ở nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới nhƣ ở Tiệp Khắc trƣớc đây, giá vận chuyển chỉ chiếm 4-8% giá sản xuất (1971), ở Cộng hoà liên bang Đức chỉ chiếm 6,8% giá sản xuất (1961). Những mối quan hệ không gian gần cận phần lớn hình thành phát triển ở một số ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến lƣơng thực thực phẩm, công nghiệp vật liệu xây dựng, thuỷ nông, thuỷ lợi và cấp thoát nƣớc cho sản xuất và sinh hoạt.
Khối công nghiệp
- Vật liệu xây dựng
Phân loại theo quy mô và độ chuyên hoá sản xuất của các cơ sở công nghiệp cho thấy xu hƣớng trong một ngành xuất công nghiệp, cơ sở công nghiệp nào có quy mô lớn hơn, có độ chuyên môn hoá cao hơn thì các mối quan hệ sản xuất của chúng có bán kính xa hơn các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ hơn hay độ chuyên môn hoá thấp hơn. Bảng 2.3. Quan hệ sản xuất của các khối công nghiệp Quan hệ cung cấp (đầu vào) Chủ yếu trong vùng hay trong tỉnh Quan hệ không gian xa trong vùng hay tỉnh chỉ có Quan hệ tiêu thụ (đầu ra) Chủ yếu trong vùng hay trong tỉnh Quan hệ không gian xa trong vùng hay tỉnh chỉ có - Hoá chất - Cơ khí
104
- Điện tử - Chế tạo máy công cụ - Công nghiệp nhẹ - Công nghiệp thực phẩm - Năng lƣợng và chất đốt phần nhỏ hẹp hình thành và phát triển Chủ yếu trong vùng và trong tỉnh Quan hệ không xa
- Kinh tế nƣớc
Chủ yếu quan hệ không gian gần phần nhỏ hẹp hình thành và phát triển Chủ yếu trong vùng và trong tỉnh Chủ yếu cho vùng ngoại thị Chủ yếu cho vùng ngoại thị
4.2.4. Quy hoạch cơ cấu và phân bố sản xuất trong vùng
Nhiệm vụ, tổ chức và công cụ quy hoạch cơ cấu sản xuất trong vùng do các yêu cầu đòi hỏi sản xuất trong quá trình tái sản xuất xã hội xác định. Những tiền đề cơ bản cho quy hoạch cơ cấu sản xuất trong lãnh thổ và vùng là:
- Mục tiêu xã hội về phát triển quan hệ và hiệu quả sản xuất. - Các yêu cầu đòi hỏi quy luật của kinh tế liên quan đến các yếu tố kinh tế - kỹ
thuật của các khối kinh tế, các ngành sản xuất.
- Các điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên trong các địa phƣơng, phân bố địa
Những tiền đề này đƣợc đề cập, nghiên cứu cụ thể trong đánh giá phân tích, dự
điểm từng ngành trong lãnh thổ và trong vùng. tính và dự báo tƣơng lai trong quá trình quy hoạch. Đó là:
- Các yêu cầu về địa điểm phân bố mới hoặc mở rộng trong vùng phải đƣợc đáp ứng. Chúng phụ thuộc vào chủng loại, khối lƣợng sản phẩm cũng nhƣ công nghệ sử dụng và tổ chức sản xuất.
- Những suy luận về phát triển sản xuất của ngành, xuất phát từ các yêu cầu địa
điểm và hình thức tổ chức hệ thống sản xuất riêng của ngành.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu địa điểm của các vùng, các địa khu trong vùng. - Quy hoạch cơ cấu sản xuất và phân bố địa điểm sản xuất trong vùng phải dựa trên cơ sở của quy hoạch cơ cấu sản xuất và phân bố địa điểm sản xuất toàn lãnh thổ, cơ sở các quy hoạch hệ thống sản xuất của các ngành sản xuất.
- Phát triển kinh tế của quốc gia đòi hỏi phải có một sự tổ chức sản xuất hợp lý trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, theo ngành và theo lãnh thổ. Mục tiêu đặt ra là phân bố địa điểm lực lƣợng sản xuất đúng và khai thác tối đa các điều kiện của vùng để đảm bảo vững chắc và sự phát triển của các ngành chủ đạo trong vùng. Trong đó, điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu trên là sự chuyên môn hoá hợp lý và sự phát triển có tính tổng hợp cao của vùng. Điều đó có nghĩa là phải hình thành, phát triển các mối quan hệ chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ sở sản xuất và giữa các bộ phận lãnh thổ của vùng nhằm phục vụ, đáp ứng vị thế và nhu cầu của các ngành chủ đạo.
Các ngành sản xuất công nghiệp chủ đạo của các vùng theo phân vùng kinh tế có
thể là:
105
a. Vùng nông nghiệp: - Cơ khí và chế tạo máy, công cụ - Công nghiệp nhẹ - Công nghiệp chế biến lƣơng thực, thực phẩm b. Vùng công nghiệp: - Điện tử điện gia dụng, công cụ điện - Cơ khí và chế tạo máy, công cụ - Công nghiệp nhẹ - Công nghiệp chế biến lƣơng thực, thực phẩm c. Vùng đô thị lớn: - Điện tử, điện gia dụng, công cụ điện - Cơ khí và chế tạo máy, công cụ - Công nghiệp nhẹ - Công nghiệp dệt - Công nghiệp chế biến lƣơng thực, thực phẩm Trong dự thảo dài hạn phân bố địa điểm sản xuất của vùng, của tỉnh, phải đề cập
các nội dung sau:
- Sự phát triển bình diện sản xuất của vùng, của tỉnh và của các bộ phận trong
vùng, trong tỉnh.
- Sự hoàn thiện tổ chức không gian của sản xuất ở các mặt chuyên môn hoá, tập trung hoá và hợp tác hoá sản xuất hợp lý trong vùng, trong tỉnh, các nhiệm vụ và các cơ sở trọng điểm để tăng cƣờng sản xuất, để phân bổ vốn có hiệu quả cho hợp lý hoá sản xuất.
- Đẩy mạnh việc áp dụng những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật, giảm bớt nhu
cầu nguyên vật liệu trong sản xuất.
- Đầu tƣ bổ sung cần thiết trong các khối, các ngành sản xuất với địa điểm cụ thể
và nhu cầu nguyên vật liệu.
- Các khả năng và điều kiện cho việc bố trí các cơ sở sản xuất với địa điểm cụ thể
và nhu cầu nguyên vật liệu.
- Các khả năng và điều kiện cho việc bố trí các cơ sở công nghiệp mới, ở trong
vùng, trong tỉnh.
- Những yêu cầu, đòi hỏi và điều kiện để liên kết hợp lý trong không gian của vùng về sản xuất phải hài hòa với cơ cấu cƣ dân, cơ cấu hạ tầng cơ sở và môi trƣờng, cảnh quan.
- Phát triển cân đối và phân bố địa điểm hợp lý khối lƣợng xây dựng cơ bản trong
vùng, tỉnh.
- Các điều kiện, khả năng và hƣớng đi để hình thành và phát triển hợp lý các tổ
hợp sản xuất của vùng, của tỉnh.
Những dự thảo này là kiến nghị của vùng, cần phải đƣợc Nhà nƣớc trung ƣơng điều chỉnh và xét duyệt, cần đƣợc cụ thể hoá để định hƣớng và là cơ sở ban đầu cho kế hoạch 5 năm của các cơ quan, ban ngành có liên quan. Để hợp lý hoá quan hệ sản xuất giữa các cơ sở sản xuất trong và ngoài vùng, cần tiến hành các biện pháp:
106
- Tập trung và liên hợp các cơ sở công nghiệp hiện có, song song với cải tạo, cơ giới hoá và tự động hoá, chuyển đổi cơ cấu và chuyên môn hoá hợp lý. Giảm bớt sự phân tán của sản xuất công nghiệp trong vùng, tăng cƣờng hợp lý liên kết quan hệ sản xuất hiệu quả hơn, kinh tế hơn.
- Sát nhập hoặc giải thể các cơ sở sản xuất, dịch vụ nhỏ không có hiệu quả. - Phân bố và xây dựng mới các cơ sở sản xuất dùng nguyên vật liệu, tài nguyên
tại mỗi vùng, hoặc hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất ngoài vùng.
- Phát triển về cả chiều rộng, chiều sâu các cơ sở sản xuất, dịch vụ phục vụ nhu
cầu mỗi vùng.
Để hình thành phát triển cân đối hài hòa, có hiệu quả các mối quan hệ sản xuất trong không gian của vùng, theo kết quả nghiên cứu của nƣớc ngoài, lao động công nghiệp của vùng nên phân bố:
- 10 – 20% tổng số lao động làm việc trong các cơ sở chủ yếu có quan hệ và chức
năng phục vụ trong phạm vi điểm dân cƣ.
- 30 - 40% tổng lao động công nghiệp làm việc trong các cơ sở chủ yếu có quan
hệ và chức năng phục vụ phạm vi vùng.
- 40 – 50% tổng lao động công nghiệp làm việc trong các cơ sở chủ yếu có quan
hệ và chức năng phục vụ ngoài vùng.
4.3. Quy hoạch phát triển mạng lƣới đô thị và hệ thống điểm dân cƣ nông thôn 4.3.1. Cư dân trong phát triển kinh tế xã hội
Cơ cấu cƣ dân là toàn bộ các điểm dân cƣ của một nƣớc, một tỉnh trong một vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hòa cân đối trong mỗi điểm và giữa các dân cƣ trong một đơn vị lãnh thổ. Cơ cấu cƣ dân là một cấu trúc tổng hợp và tƣơng đối bền vững, là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng. Trong cơ cấu cƣ dân, các mặt cơ bản của các cơ cấu thành phần cũng đƣợc thể hiện (cơ cấu dân cƣ, cơ cấu sản xuất, cơ cấu hạ tầng, cơ cấu tài nguyên…).
Các thành tố của cơ cấu cƣ dân là các đô thị và làng bản, tạo thành môi sinh của con ngƣời. Tại đây, con ngƣời kiến tạo các quan hệ xã hội, các điều kiện sống và lao động để phát triển nhân cách toàn diện.
Các điểm dân cƣ là các hình thái tổ chức cơ sở của xã hội, của quá trình tái sản xuất, của các hình thái tổ chức tập trung, liên hợp các nơi làm việc, các công trình, trang thiết bị phụ trợ và các mạng lƣới của hạ tầng cơ sở. Trong các điểm dân cƣ, con ngƣời sống, làm việc, học hành và nghỉ ngơi, giao tiếp. Cuộc sống chính trị, xã hội, vật chất, văn hoá tinh thần đƣợc con ngƣời và cộng đồng phát triển.
Đô thị và làng bản là hai hình thức cƣ trú của con ngƣời, có quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Tính tổng hợp, quy mô, chất lƣợng và trang thiết bị khác nhau của các đô thị và làng bản về cơ sở làm việc, về nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, các điều kiện nghỉ ngơi cũng nhƣ các công trình và trang thiết bị của hạ tầng kỹ thuật ảnh hƣởng lớn đến sự phân cấp, tính tổng thể, hiệu quả và sự hài hòa nhằm đáp ứng nhu cầu con ngƣời. Phát triển và đáp ứng nhu cầu của con ngƣời chỉ đƣợc thực hiện trong điều
107
- Sự phát triển của phân công lao động và chức năng của các điểm dân cƣ. - Sự phân bố của các nơi làm việc, của các công trình phục vụ, dịch vụ và nghỉ
kiện có sự phân công xã hội và lãnh thổ, Cho nên, các điều kiện sống và lao động trong các điểm dân cƣ và quan hệ giữa các điểm dân cƣ chịu sự tác động của: ngơi giải trí. - Quá trình tái sản xuất của các điểm dân cƣ (dân số và vốn đầu tƣ…), các điểm dân cƣ phân biệt với nhau về quy mô, cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mối quan hệ phân công chức năng trong toàn bộ cơ cấu cƣ dân của quốc gia trong một vùng. Cho nên, trong quy hoạch cơ cấu cƣ dân phải lƣu ý các mối quan hệ tƣơng hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng điểm dân cƣ, cũng nhƣ cơ cấu của toàn bộ trong một nhóm các điểm dân cƣ cụ thể. Trong quá trình thay đổi chức năng xã hội của các điểm dân cƣ và quan hệ phân công chức năng giữa các điểm dân cƣ, quỹ vật thể đã xây dựng (hiện trạng) cũng dần phải thay đổi và cải tạo, và tác động ảnh hƣởng trở lại đến tổ chức phát triển chức năng lãnh thổ trong vùng, trong và giữa các điểm dân cƣ. Do đó, cơ cấu cƣ dân trong quá trình quy hoạch phát triển, nhất thiết phải đề cập nghiên cứu và giải quyết tốt quan hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội và quan hệ chức năng xã hội, quan hệ chức năng với hiện tƣợng xây dựng (quỹ vật chất kỹ thuật) của các điểm dân cƣ. Vì vậy, quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn cần phải tiến hành đồng bộ và hợp tác chặt chẽ. Do thay đổi chức năng và quan hệ chức năng của các điểm dân cƣ và của cơ cấu dân số diễn biến nhanh hơn nhiều so với thay đổi hiện trạng xây dựng của chúng, cần phải nghiên cứu và tìm ra tỷ lệ tƣơng xứng hợp lý nhất giữa thay đổi chức năng và thay đổi hiện trạng của cơ cấu dân cƣ nói chung và điểm dân cƣ nói riêng. Sự biến động trong cơ cấu dân số của cả nƣớc hay của một vùng phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của dân vào sự phát triển dân số (tự nhiên và cơ học), vào tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng nhƣ tăng năng suất và phân bố địa điểm của cơ cấu sản xuất, cơ cấu hạ tầng cơ sở và cơ cấu tài nguyên. Trên cơ sở đó, vị thế của các điểm dân cƣ và tƣơng quan tỷ lệ giữa chúng trong cơ cấu cƣ dân cũng tự biến đổi. Các cơ cấu thành phần của vùng cũng đƣợc tác động vào tƣơng quan tỷ lệ phát triển của cơ cấu cƣ dân (tính hài hòa cân đối) thông qua việc nâng cao sử dụng vốn xã hội và nâng cao vốn đầu tƣ cho các lĩnh vực, các ngành trong điểm dân cƣ, thông qua các hình thức tổ chức của các lĩnh vực, các ngành trong các điểm dân cƣ, cũng nhƣ thông qua các hình thức tổ chức nghiên cứu, quy hoạch và cải tạo trong mối quan hệ tƣơng hỗ với các cơ cấu thành phần của vùng. Trong quá trình hình thành và phát triển lâu dài của phƣơng thức cƣ trú, còn có sự khác nhau về số lƣợng, chất lƣợng, chức năng lãnh thổ, đô thị và nông thôn…Cần phải sáng tạo và phát triển các mô hình tổ chức, quy hoạch và cải tạo cơ cấu dân cƣ mới có chất lƣợng, phù hợp với các đòi hỏi đang biến động và phát triển của xã hội, cũng nhƣ những khả năng kinh tế của quốc gia, của vùng.
4.3.2. Mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu cư dân
108
Mục tiêu phát triển cơ cấu cƣ dân toàn lãnh thổ hay vùng là hình thành một mạng lƣới các điểm dân cƣ hài hòa thống nhất với nhau trong phân công chức năng, tƣơng xứng tỷ lệ trong quy mô và cân bằng trong phát triển, nhằm:
- Đáp ứng một cách thuận lợi và kinh tế trong quy hoạch, tổ chức và phát triển
sản xuất các ngành kinh tế.
- Đáp ứng và thoả mãn tốt nhất nhu cầu của nhân dân về việc làm, nhà ở, giao
tiếp cũng nhƣ các nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần và nghỉ ngơi giải trí.
- Đáp ứng những yêu cầu tạo lập hài hòa và phong phú, đa dạng cảnh quan và
bảo vệ môi trƣờng.
- Đáp ứng những yêu cầu về phòng hộ, an toàn và an ninh xã hội. - Tiết kiệm đất đai xây dựng, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp. Nhìn chung, có hai xu hƣớng chính là tập trung hóa các điểm dân cƣ và trung tâm hoá các cụm, các tổ hợp cƣ dân.
Điều kiện sống và lao động của dân cƣ và khả năng nâng cao, cải thiện chúng sẽ càng khó khăn khi quy mô của các điểm dân cƣ càng nhỏ. Trong các điểm dân cƣ nhỏ, chi phí của nền kinh tế quốc dân và của cá nhân từng ngƣời về thời gian và sản xuất phần nhiều là ít thuận lợi hơn so với ở trong các điểm dân cƣ lớn. Quá trình tập trung hóa và trung tâm hóa trong cơ cấu dân cƣ nhỏ có hƣớng tụt hậu về chức năng, dân cƣ, lao động và xuống cấp xây dựng. Cần phải song song kết hợp với việc phát triển hợp lý các mối quan hệ phân công chức năng giữa các địa điểm dân cƣ trong cơ cấu cƣ dân, nhất là trên các địa bàn nông thôn ở các vùng nông nghiệp. Tập trung hoá cơ cấu cƣ dân sẽ giảm bớt số lƣợng đáng kể các điểm dân cƣ quá nhỏ, để tăng quy mô các điểm dân cƣ, tạo thuận lợi cho tổ chức phát triển sản xuất, tổ chức mạng lƣới cơ sở hạ tầng và có điều kiện để nâng cao điều kiện sống và lao động của nhân dân nông thôn.
Trung tâm hoá cơ cấu cƣ dân là hình thành và phát triển một mạng lƣới các trung tâm cụm dân. Đó là mạng lƣới các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn và trung bình. Phân bố và phát triển mạng lƣới các trung tâm cụm dân cƣ (trung tâm vùng và tiểu vùng) sẽ góp phần xoá bỏ dần những khác biệt cơ bản về điều kiện sống và lao động của nhân dân giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nƣớc, thông qua một mạng lƣới giao thông thuận lợi nối liền các trung tâm này với nhau, và vùng ngoại thành với trung tâm.
Cơ cấu dân cƣ của một vùng hay tiểu vùng cần phải đƣợc quy định và phát triển sao cho ngƣời dân trong điểm dân cƣ có thể tiếp nhận thuận lợi các cơ sở làm việc và hạ tầng cơ sở để thoả mãn những nhu cầu của họ về lao động, nhà ở, về cung cấp và dịch vụ, về giáo dục đào tạo, về tham gia các hoạt động tinh thần văn hoá, về nghỉ ngơi giải trí…Để đạt đƣợc điều đó, cần phải tận dụng triệt để và hợp lý quan hệ liên kết giữa các điểm dân cƣ, giữa đô thị và nông thôn sao cho có hiệu quả. Đồng thời, loại bỏ dần những hạn chế, khiếm khuyết của cơ cấu dân cƣ do lịch sử phát triển để lại.
Không những trong các điểm dân cƣ, mà trong các vành đai bao quanh chúng, các điểm thu gom, xử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt cũng phải đƣợc quy hoạch hợp lý. Cần dành đất trồng cây xanh thoả đáng (vành đai xanh) vừa để đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi
109
của nhân dân trong và ngoài đô thị, vừa để tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trƣờng. Xoá bỏ dần sự tản mạn, manh mún của cơ cấu cƣ dân, đồng thời góp phần tăng thêm vẻ đẹp và hấp dẫn của phong cảnh đồng quê, cân bằng sinh thái học thực vật.
Sự phát triển của đô thị cần phải cân đối, đồng bộ, tƣơng xứng, cần hạn chế sự phát triển quá tải, sự tập trung quá chồng chất trong các đô thị lớn, trong các vùng đô thị lớn và sự tụt hậu, nghèo nàn của các đô thị nhỏ đang có xu hƣớng nông thôn hoá.
Trên các địa bàn nông thôn và miền núi, mạng lƣới các điểm dân cƣ chủ yếu bao gồm các làng bản, lại phân bố tản mạn manh mún. Công nghiệp hoá trong sản xuất nông lâm nghiệp, khai thác tài nguyên, khoáng sản…đã tạo thêm các cơ sở để mở rộng và phân bố mới các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, mở rộng và hoàn thiện hạ tầng cơ sở. Quá trình đô thị hoá đã thúc đẩy quá trình tập trung hoá và trung tâm hoá cơ cấu dân cƣ. Tập trung dân cƣ vào các cụm dân cƣ (là các đô thị nhỏ hay thị tứ (điểm dân cƣ theo kiểu đô thị)), giảm bớt số lƣợng các điểm dân cƣ nhỏ. Các đô thị nhỏ ở trung tâm nông thôn này là những địa bàn phân bố lực lƣợng sản xuất nông lâm nghiệp và chế biến lƣơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và phân bố các công trình trang thiết bị cơ sở hạ tầng phục vụ cho các cụm dân cƣ, nâng cao điều kiện sống của nhân dân nông thôn.
Mạng lƣới các điểm dân cƣ của vùng hay lãnh thổ quốc gia, các đô thị và làng bản,
tuy có khác nhau, cần phải đƣợc phát triển theo các xu hƣớng sau:
- Các đô thị lớn và trung bình (loại lớn) đều có ý nghĩa nổi trội trong mạng lƣới của trung tâm quốc gia hay vùng. Đó là thủ đô, thủ phủ của các miền, hay tỉnh lỵ cũng nhƣ các trung tâm công nghiệp lớn và vừa, có ý nghĩa quốc gia. Vùng ảnh hƣởng của các đô thị này khá lớn và chúng cần phải đảm bảo cho nhân dân trong vùng có điều kiện sống tốt, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Trong tƣơng lai, cũng cần phát triển và mở rộng các khu công nghiệp vệ tinh để có thể dãn dân và lao động với mục tiêu là tránh sự phát triển quá tải của các đô thị lớn. Muốn khai thác lợi thế đô thị lớn và tài nguyên của vùng cần phải quy hoạch hợp lý, phát triển các mối quan hệ giữa đô thị với ngoại thị, nhất là các mối quan hệ trao đổi lao động, hệ thống giao thông. Các đô thị này sẽ có tốc độ phát triển nhanh, nhất là lĩnh vực sản xuất và cơ sở hạ tầng.
- Các đô thị vừa (loại nhỏ) và đô thị nhỏ cần phải đƣợc phát triển cả về lƣợng và chất. Chúng là các huyện lỵ, các trung tâm liên xã hay các trung tâm công nghiệp nhỏ nhằm hỗ trợ, bổ sung chức năng cho hệ thống các trung tâm cao cấp. Các đô thị này cần đƣợc tăng cƣờng phát triển sản xuất công nghiệp - dịch vụ, hoàn thiện và mở rộng cơ sở hạ tầng, phát triển dân số và lao động thu hút từ nông thôn để chúng không những là các trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế - xã hội, văn hoá tinh thần, hỗ trợ giảm bớt tăng dân quá tải của các đô thị lớn, kích thích sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá trên địa bàn huyện.
- Các làng lớn sẽ phát triển thành các điểm sản xuất công nông nghiệp (thị tứ). Chúng là các trung tâm của xã hoặc liên xã và là các điểm tập trung các biện pháp và đầu tƣ để nâng cao điều kiện sống và lao động của nhân dân nông thôn, giảm bớt sự cách biệt còn tồn tại giữa đô thị và nông thôn. Dân số sẽ phát triển ít nhất là 500 ngƣời trở lên.
110
- Các làng nhỏ trong tƣơng lai xa vẫn còn là nơi ở, nơi sản xuất, nghỉ ngơi của nhân dân nông thôn và là một thành viên của cơ cấu cƣ dân. Việc quy hoạch và nâng cao có hiệu quả các điều kiện sống và lao động cho nhân dân trong các làng nhỏ này chỉ có thể thực hiện đƣợc và bảo đảm trong phạm vi của các đơn vị lãnh thổ lớn nhƣ cụm điểm dân cƣ (xã, liên xã).
- Các xóm, ấp là các điểm dân cƣ có quy mô quá nhỏ. Điều kiện sống và lao động thấp kém, không đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời dân, phân bố tản mạn manh mún và không có cơ hội phát triển, hoặc không có hiệu quả kinh tế - xã hội. Để phát triển, các điểm dân cƣ này trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cần phải xoá bỏ, sát nhập vào các điểm dân cƣ lớn hơn.
4.3.3. Phân loại điểm dân cư
Để có cơ sở thống nhất cho việc quy hoạch phát triển cơ cấu cƣ dân trong cả nƣớc và đặc biệt, trong vùng các điểm dân cƣ cần phải đƣợc phân loại (phân hạng). Đó là phƣơng tiện trợ giúp quan trọng cho mọi cấp quy hoạch, đặc biệt là cấp tỉnh.
Phân loại các điểm dân cƣ căn cứ vào đặc điểm cơ bản thống nhất hay giống nhau (điều kiện sống và lao động, chức năng, số lƣợng dân cƣ, vị trí trong cơ cấu dân cƣ, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế…). Phân loại điểm dân cƣ có ý nghĩa cần thiết và quan trọng trong việc phân tích đánh giá hiện trạng phát triển của cơ cấu dân cƣ cũng nhƣ phƣơng pháp quy hoạch dài hạn.
Có nhiều cách phân loại điểm dân cƣ tùy theo mục đích sử dụng. Trong quy hoạch phát triển cơ cấu cƣ dân nói chung và điểm dân cƣ nói riêng, thƣờng vận dụng cách phân loại chung và phân loại theo cơ cấu lao động trong các lĩnh vực kinh tế. a. Cách phân loại chung
Dựa trên các tiêu chí sau: - Các chức năng hiện tại, trang bị hạ tầng cơ sở và quy mô điểm dân cƣ. - Mục tiêu phát triển chức năng xã hội (phân công chức năng) trong tƣơng lai. - Các điều kiện phát triển của lãnh thổ và của vùng (chủ yếu là thực trạng tài
nguyên).
- Các khả năng kinh tế, vốn phát triển dân cƣ và vốn đầu tƣ. Do điều kiện dân cƣ mỗi quốc gia khác nhau, dựa vào các tiêu chí trên, cách phân loại điểm dân cƣ giữa quốc gia có khác nhau (quy mô dân số…). Song, có thể có các nhóm loại sau đây: + Đô thị rất lớn
Là trung tâm của cả nƣớc, liên bang hay thủ phủ các miền lãnh thổ (hay bang). Các đô thị này là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, dịch vụ du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế…của quốc gia, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nƣớc (đặc biệt là đô thị loại 1). + Đô thị lớn
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế…của nhiều tỉnh hay một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ (đô thị loại 2).
111
+ Đô thị trung bình
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch của một tỉnh hay một vùng lãnh thổ của tỉnh. Có thể tùy theo quy mô dân số và sự khác nhau của cơ sở hạ tầng, phân thành đô thị trung bình lớn và nhỏ (đô thị loại 3 và 4). + Đô thị nhỏ
Là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá xã hội, dịch vụ kinh tế của một huyện
hay liên xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một xã hay nhiều điểm dân cƣ. + Làng lớn
Là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá - xã hội, dịch vụ kinh tế của một xã,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một xã hay nhiều điểm dân cƣ. + Làng nhỏ
Là nơi ở, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông-lâm-nghiệp…của nhân dân trong xã.
+ Các xóm, ấp, trại
Là các điểm dân cƣ nhỏ nhất với các điều kiện sống rất thấp kém. Trong tƣơng lai,
các điểm dân cƣ này cần xoá bỏ, sát nhập thành các điểm dân cƣ lớn hơn. b. Phân loại theo cơ cấu kinh tế của lao động tại điểm dân cư
Cơ sở phân loại các điểm dân cƣ theo cơ cấu kinh tế lao động tại điểm dân cƣ, dựa
trên tỷ lệ lao động ở 3 khối kinh tế:
- Nông, lâm và ngƣ nghiệp (nông nghiệp) - Công nghiệp và xây dựng (công nghiệp) - Các ngành còn lại (dịch vụ): giao thông, bƣu điện, thƣơng nghiệp cũng nhƣ các
ngành hành chính sự nghiệp, dịch vụ khác.
Theo nghiên cứu của nƣớc ngoài, cách phân loại điểm dân cƣ theo cơ cấu kinh tế
tham khảo tại bảng 2.4.
Bảng 2.4. Phân loại điểm dân cƣ theo cơ cấu kinh tế
Tên gọi loại điểm dân cƣ Ký hiệu
Tỷ lệ lao động trong các khối kinh tế so với tổng số lao động của điểm dân cƣ (%) Công nghiệp (Khối II) Nông nghiệp (Khối I) Dịch vụ (Khối III)
L > 60
< 40 < 40 LM 40-60
40 -60 < 20 40-60 LT
40-60 40-60 < 20 LI 1. Điểm dân cƣ nông thôn - Điểm dân cƣ nông nghiệp nổi trội - Điểm dân cƣ nông nghiệp hỗn hợp - Điểm dân cƣ nông nghiệp có dịch vụ phát triển - Điểm dân cƣ nông nghiệp có nông nghiệp phát triển
112
M 20-40 20-40 20 -40
MI > 40 < 40 20-40
MT 20-40 > 40 < 40
40 – 60 40 – 60 < 20 S
< 20 < 40 > 40 SI
< 20 > 40 < 40 ST
2. Điểm dân cƣ hỗn hợp (kiểu đô thị) - Điểm dân cƣ đặc trƣng - Điểm dân cƣ hỗn hợp có công nghiệp phát triển - Điểm dân cƣ hỗn hợp có dịch vụ 3. Điểm dân cƣ đô thị - Điểm dân cƣ đô thị hỗn hợp đặc trƣng - Đô thị có công nghiệp phát triển - Đô thị có dịch vụ phát triển c. Cách phân loại theo tỷ lệ giữa lao động ở ngoài và lao động của điểm dân cư đi ra làm việc ở bên ngoài (trao đổi lao động)
Cách phân loại này có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong quy hoạch vùng, nhất là trong các quyết định giữ lại, sát nhập hay xóa bỏ điểm dân cƣ, trong quá trình cải tạo mạng lƣới các điểm dân cƣ của vùng. Có thể phân theo ba loại:
- Điểm dân cƣ sản xuất - Điểm dân cƣ sản xuất và ở hỗn hợp - Điểm dân cƣ ở (chức năng ở là chính)
Bảng 2.5. Phân loại điểm dân cƣ theo quan hệ trao đổi lao động
Trao đổi lao động Tỷ lệ lao động ra/lao động vào (R/V)
Chức năng điểm dân cƣ
Điểm dân cƣ hỗn hợp Lao động đi ra/tổng số lao động (%) Điểm dân cƣ nhập lao động Điểm dân cƣ xuất lao động
Điểm dân cƣ sản xuất < 40
40- 60 0,75 < V/R < 1,25 V/R >1,25 V/R < 0,75 Điểm dân cƣ sản xuất và ở hỗn hợp
Điểm dân cƣ ở (cƣ trú) > 60
4.3.4. Hệ thống điểm dân cư và chiến lược phát triển đô thị ở Việt Nam
a. Hệ thống đô thị Đô thị là nơi tập trung dân cƣ sinh sống trong một khu vực không gian có giới hạn và thực hiện các hoạt động kinh tế không gắn trực tiếp với đất đai. Có 3 tiêu chuẩn cơ bản xác định đô thị:
- Quy mô dân số: đô thị phải là một khu vực dân cƣ có quan hệ chặt chẽ về mặt kinh tế với một quy mô dân số nhất định. Ngƣỡng tối thiểu về quy mô dân số của đô thị ở
113
các nƣớc thƣờng có sự khác nhau do những đặc điểm về kinh tế, địa lý, xã hội…Ví dụ: ở Hoa Kỳ là 2.500 ngƣời, Canada là 1.000 ngƣời, Pháp là 2.000 ngƣời, Việt Nam là 4.000 ngƣời.
- Chức năng và đô thị: hoạt động của con ngƣời trong đô thị không liên quan trực tiếp với đất đai. Đó là các hoạt động thủ công nghiệp, công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. Đối với những hoạt động này thì đất đai chỉ là mặt bằng diện tích để hoạt động chứ không phải là phƣơng tiện sản xuất trực tiếp nhƣ trong nông nghiệp (không gian). Do đó, để một khu vực dân cƣ đƣợc coi là một đô thị thì nó phải đạt đƣợc một tỷ lệ dân cƣ phi nông nghiệp nhất định nào đó. Ở Việt Nam, hiện nay đang quy định mức tối thiểu dân số phi nông nghiệp của đô thị phải là 65%.
- Không gian kiến trúc, phong cảnh: tiêu chuẩn này liên quan đến mật độ dân cƣ. Một số nơi quy định cụ thể về tiêu chuẩn này. Ví dụ: ở Canada mật độ tối thiểu của cƣ dân vùng đô thị phải không nhỏ hơn 400 km2/ngƣời, ở Pháp thì quy định khoảng cách giữa các công trình kiến trúc trong đô thị không quá 200 m, ở Việt Nam quy định mật độ dân số thấp nhất cho đô thị loại 5 là 2.000 ngƣời/km2. Hệ thống đô thị ở Việt Nam bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn, và đƣợc chia làm 6 loại đô thị. Việc phân loại đô thị Việt Nam căn cứ vào 5 tiêu chí là chức năng, quy mô dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, mật độ dân số và cơ sở hạ tầng. Có thể tóm lƣợc hệ thống đô thị ở Việt Nam trong bảng 2.6.
Bảng 2.6: Hệ thống đô thị ở Việt Nam
Chức năng Quy mô Mật độ dân số Cơ sở hạ tầng Loại đô thị Lao động phi nông nghiệp
Loại đặc biệt Từ 90% trở lên Từ 1,5 triệu ngƣời trở lên Từ 15.000/km2 trở lên Về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh
Loại I Từ 85% trở lên Từ 12.000/km2 trở lên Nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh Từ 500.000 ngƣời trở lên
Thủ đô hoặc đô thị trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong nƣớc và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong nƣớc và quốc tế. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nƣớc.
114
Loại II Từ 80% trở lên Từ 10.000/km2 trở lên Từ 250.000 ngƣời trở lên Nhiều mặt tiến tới tƣơng đối đồng bộ và hoàn chỉnh
Loại III Từ 75% trở lên Từ 8.000/km2 trở lên Từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh Từ 100.000 ngƣời trở lên
Loại IV Từ 70% trở lên Từ 6.000/km2 trở lên Từ 50.000 ngƣời trở lên
Đã hoặc đang đƣợc xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh
Loại V Từ 65% trở lên Từ 2.000/km2 trở lên Từ 4.000 ngƣời trở lên
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nƣớc. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nƣớc Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong tỉnh, hoặc vùng liên tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh. Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lƣu trong tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh. Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã. Đã hoặc đang xây dựng nhƣng chƣa đồng bộ và hoàn chỉnh
b. Phân loại điểm dân cư nông thôn
Các điểm dân cƣ nông thôn chƣa có quy định cụ thể của Nhà nƣớc Việt Nam ban hành. Song, có thể tham khảo cách phân loại của một số nƣớc trên thế giới. Phân loại
115
điểm dân cƣ nông thôn nhƣ sau: điểm dân cƣ nông thôn gồm các làng, xóm và các điểm dân cƣ của các xí nghiệp, cơ quan nằm ngoài ranh giới điểm dân cƣ đô thị. Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh tế - xã hội, điểm dân cƣ nông thôn đƣợc chia thành các kiểu dân cƣ:
- Điểm dân cƣ nông nghiệp: ở đó ngƣời dân trực tiếp tham gia sản xuất nông
nghiệp.
- Điểm dân cƣ vùng ngoại ô: ở đó có thành phần xã hội và nghề nghiệp của ngƣời dân không đồng nhất, thƣờng là công nhân của các xí nghiệp công nghiệp, xây dựng, giao thông, tính chất nông nghiệp mất dần và chuyển dần thành điểm dân cƣ đô thị.
- Điểm dân cƣ công nghiệp nông thôn: ở đó ngƣời dân làm trong các xí nghiệp
chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, ngành nghề thủ công…
- Điểm dân cƣ du lịch, dịch vụ: ở đó ngƣời dân hoạt động kinh doanh dịch vụ,
Dựa vào quy mô và phân bố dân cƣ, các điểm dân cƣ nông thôn đƣợc phân
nhà hàng, các hoạt động du lịch sinh thái, du lịch dựa vào cộng đồng. thành các hình thức phân bố dân cƣ nhƣ sau:
- Hình thức tập trung: điểm dân cƣ lớn, có từ trên 2/3 tổng số dân của một đơn vị
trung tâm của đơn vị sử dụng đất.
- Hình thức cụm lớn: gồm các điểm dân cƣ phân bố thành từng nhóm lớn trên
lãnh thổ đơn vị sử dụng đất.
- Hình thức cụm nhỏ: gồm các điểm dân cƣ phân bố thành từng nhóm nhỏ và
phân bố đều trên lãnh thổ đơn vị sử dụng đất.
- Hình thức rải rác: gồm các điểm dân cƣ nhỏ tách biệt, phân bố rải rác trên lãnh
thổ.
- Hình thức tuyến: gồm các điểm dân cƣ phân bố theo các trục đƣờng giao thông,
hoặc theo sông, rạch với quy mô nhỏ và kéo dài.
4.3.5. Quy hoạch cơ cấu cư dân
Những nguyên lý quy hoạch và tạo lập cơ cấu cƣ dân xuất phát từ vị trí cơ cấu cƣ dân trong cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu vùng, từ tính chất của các điểm dân cƣ là môi trƣờng sống (môi sinh) của con ngƣời, từ cƣờng độ sử dụng cao và tái sản xuất dài hạn của quỹ vật thể (các yêu cầu khách quan của tính tổng hợp, tính cân đối và tính hiệu quả của cơ cấu cƣ dân).
Phát triển cân đối và kế hoạch cơ cấu cƣ dân là bộ phận của hệ thống quy hoạch và quản lý nhà nƣớc với sự cộng tác và quan hệ tƣơng hỗ của các cấp lãnh đạo địa phƣơng, của tỉnh và các huyện. Bộ Kế hoạch và đầu tƣ, đặc biệt là Viện Quy hoạch vùng, lãnh thổ và Trung tâm khoa học nghiên cứu lãnh thổ, soạn thảo phƣơng hƣớng và kế hoạch phát triển dài hạn cơ cấu cƣ dân cả nƣớc trên cơ sở những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của kinh tế quốc dân. Đồng thời, soạn thảo các nguyên tắc và hƣớng dẫn quy hoạch cũng nhƣ các chính sách về cƣ dân cho toàn quốc và cho các địa phƣơng (cơ cấu vi mô).
116
Nghiên cứu định hƣớng quy hoạch dài hạn phát triển dân cƣ, lao động, sản xuất hạ tầng cơ sở cho thủ đô, cho các đô thị cấp quốc gia và cấp tỉnh, do Bộ Kế hoạch và đầu tƣ cùng cộng tác với các cơ quan quy hoạch cấp tỉnh tiến hành (cơ cấu vĩ mô).
Đối tƣợng quan trọng của nghiên cứu quy hoạch cơ cấu cƣ dân là hình thành và phát triển tính cân đối hài hoà với các cơ cấu thành phần (dân cƣ, sản xuất, hạ tầng cơ sở và tài nguyên) trong và giữa các điểm dân cƣ, thể hiện qua phân công và hợp tác liên kết chức năng.
Trong phạm vi của quá trình quy hoạch, quy trình quy hoạch cơ cấu cƣ dân phụ
thuộc vào cơ cấu hành chính, chính trị của mỗi quốc gia, có thể có 2 hay 3 cấp. - Cấp trung ương (quốc gia, liên bang và bang)
Xuất phát từ các mục tiêu kinh tế, xã hội và tình hình cƣ dân cụ thể, các phƣơng hƣớng và cách thức để thể hiện ý tƣởng của cƣ dân đƣợc trình bày trong các nguyên tắc và hƣớng chỉ đạo chung về chính sách cƣ dân của toàn quốc gia (của liên bang và của bang). Tƣ liệu này luôn đƣợc hoàn thiện tiếp tục trong mối liên quan với dự thảo dài hạn phân bố địa điểm lực lƣợng sản xuất cho quốc gia, liên bang và bang. Đồng thời, trong mối liên quan với nghiên cứu phân bố địa điểm lực lƣợng sản xuất, cần phải tiến hành tính toán sự cân đối và liên kết để phát triển dài hạn dân cƣ, lao đông, sản xuất, và hạ tầng cơ sở cho các thành phố trọng điểm cấp quốc gia và cấp tỉnh. Các định hƣớng chỉ đạo về nội dung và phƣơng pháp cho quy hoạch cƣ dân ở các vùng sẽ đƣợc chuyển cho các Uỷ ban nhân dân tỉnh đó. Trong quá trình soạn thảo các tƣ liệu này, cần có sự tham gia của các Sở Kế hoạch và đầu tƣ, nhất là Ban Quy hoạch lãnh thổ của các tỉnh. Để có thể lƣu ý đến việc liên kết chức năng và hoạt động của các đô thị và làng bản trong cơ cấu cƣ dân, cần phải bổ sung thêm các hƣớng dẫn thực hiện định hƣớng phát triển cơ cấu cƣ dân, đặc biệt là các đô thị trọng điểm (những nhóm cụm, chùm điểm dân cƣ) có quan hệ chức năng với nhau trong các địa bàn tỉnh và huyện. - Cấp địa phương (tỉnh, vùng)
Cùng với cấp huyện, các cơ quan cấp tỉnh, trên cơ sở nguyên tắc, hƣớng dẫn và phƣơng pháp của chính sách cƣ dân quốc gia, trên cơ sở phân tích tình hình phát triển cơ cấu cƣ dân của tỉnh và dựa trên dự báo xu hƣớng phát triển khách quan tƣơng lai, tiến hành soạn thảo các dự thảo phát triển chính của cơ cấu cƣ dân trên quy mô tổng thể, quy mô điểm dân cƣ và các trung tâm cƣ dân (hệ thống và cụm điểm dân cƣ).
Các dự thảo phát triển cơ cấu cƣ dân cần đƣợc vận dụng và cụ thể hoá trong các kế hoạch trung và ngắn hạn của vùng, tỉnh trƣớc hết là các chƣơng trình xây dựng phát triển nhà ở, trong các kế hoạch đầu tƣ sản xuất (công nông nghiệp) và hạ tầng cơ sở (kể cả phân bố địa điểm của chúng), trong các quy hoạch tổng thể vùng, cũng nhƣ trong các dự thảo phát triển các đô thị trọng điểm, trong các quy hoạch tổng thể cơ sở hạ tầng cảnh quan môi trƣờng và các dự thảo phát triển cơ cấu cƣ dân tỉnh sẽ là cơ sở hình thành và phát triển vùng (các cụm cƣ dân).
Trong phân tích hiện trạng và quy hoạch tƣơng lai, cơ cấu cƣ dân cần dựa trên cơ sở phân loại (phân hạng) điểm dân cƣ (đô thị và làng bản) thống nhất trong toàn quốc, đặc biệt là trong quy hoạch vùng, tỉnh.
117
Tổ chức khu dân cƣ đƣợc tiến hành trong các đặc điểm sau:
+ Nhu cầu nâng cao đời sống, phát triển dân trí, đòi hỏi phải cải thiện không
+ Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và quá trình đô thị hoá. + Mối quan hệ giữa sử dụng quỹ đất sản xuất và nhu cầu phân phối đất trong
Trên cơ sở của hƣớng dẫn, của dự thảo phát triển và của phân loại điểm dân cƣ, tiến hành soạn thảo các tiêu chuẩn khung phân bố địa điểm sản xuất, trang thiết bị hạ tầng cơ sở (xã hội và kỹ thuật ) cho các loại điểm dân cƣ. Quy hoạch cơ cấu dân cƣ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hƣởng khác nhau và mỗi yếu tố này đƣa đến một phƣơng án phát triển có thể khác nhau (có khi lại đối ngƣợc nhau). Do đó, trong xét duyệt và quyết định quy hoạch, phải tính toán hiệu quả và sự cân đối một cách tổng hợp, đó là điều rất cần thiết. Việc tính toán này cần chú ý đến sự liên kết và cân đối các yếu tố đặc trƣng đƣợc lựa chọn (chẳng hạn kinh phí cho mở rộng và phát triển hạ tầng cơ sở, kể cả chi phí bảo dƣỡng duy trì, kinh phí xây dựng và phát triển nhà ở…). gian trong khu vực đất ở của gia đình và mở rộng lƣu thông của xã hội. xã hội. + Bảo vệ môi trƣờng.
Nội dung tổ chức khu dân cƣ bao gồm: xác định quy mô và phân bố các điểm dân
cƣ, các trung tâm sản xuất, các công trình văn hoá phúc lợi.
Xác định quy mô và phân bố các điểm dân cƣ bao gồm các vấn đề sau:
- Phân tích hiện trạng và phân bố dân cƣ - Phát triển đô thị và các điểm dân cƣ phi nông nghiệp - Xác định quy mô và phân bố điểm dân cƣ nông thôn
a. Nghiên cứu hiện trạng và phân bố dân cư
- Thu nhập số liệu về số dân, số lao động, số hộ phân bố ở trong các điểm dân cƣ đô thị và nông thôn. Từ đó, xác lập cơ cấu dân số, lao động, số hộ, xu hƣớng phát triển dân số trong vùng và tiểu vùng.
- Quy mô và sự phân bố của các kiểu và hình thức phân bố dân cƣ. Từ đó, đánh giá mức độ đáp ứng với yêu cầu đời sống và tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế trong vùng và tiểu vùng.
- Cơ cấu các công trình văn hoá, phúc lợi xã hội, quy mô tiện nghi và sự phân bố của
các công trình.
- Trang bị tiện nghi, vẽ thẩm mỹ và điều kiện vệ sinh, bảo vệ môi trƣờng trong các
điểm dân cƣ.
- Khả năng cải tạo và mở rộng điểm dân cƣ hiện tại và xây dựng khu dân cƣ mới.
b. Phát triển đô thị và điểm dân cư phi nông nghiệp
- Sự phát triển sản xuất hàng hoá, sự hình thành các đơn vị sản xuất công nghiệp chế biến, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các cơ sở dịch vụ sản xuất, đời sống, các công trình văn hoá phúc lợi xã hội với hình thức tập trung và các đầu mối lƣu thông tất yếu sẽ tiến đến sự hình thành phát triển đô thị và điểm dân cƣ phi nông nghiệp.
- Vị trí của đô thị và điểm dân cƣ phi nông nghiệp chính là nơi có điểm dân cƣ đông đúc, tập trung, có mối liên hệ thuận lợi với các điểm dân cƣ trong và ngoài vùng.
118
Ngƣời dân ở đây làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, dịch vụ sản xuất, đời sống, điều kiện địa lý, cảnh quan thiên nhiên và xây dựng thuận lợi.
- Ranh giới, diện tích của các thành phố, thị trấn, điểm dân cƣ phi nông nghiệp đƣợc xác định căn cứ vào tình hình hiện trạng và dự báo phát triển trong tƣơng lai theo xu hƣớng sản xuất hàng hoá, sản xuất công nghiệp, lƣu thông hàng hoá, sự hình thành thị trƣờng và tính toán theo tiêu chuẩn phân phối đất và định mức cấp đất theo quy định của pháp luật đất đai kết hợp với yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật của kiến trúc đô thị và bảo vệ môi trƣờng khỏi sự ô nhiễm.
- Quan hệ của vị trí ranh giới, quy mô diện tích thành phố, thị trấn, điểm dân cƣ phi nông nghiệp trong vùng lãnh thổ phải thống nhất với hệ thống đô thị hạt nhân của quốc gia. c. Xác định quy mô và phân bố điểm dân cư nông thôn
Xác định quy mô điểm dân cƣ là xác định số lƣợng ngƣời sống trong khu dân cƣ ấy phù hợp với tổ chức sản xuất có hiệu quả cao với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một đơn vị sử dụng đất.
Cách tính quy mô điểm dân cƣ nông nghiệp có thể dùng 2 phƣơng pháp đó là:
phƣơng pháp tính kết cấu và phƣơng pháp tính phƣơng án. - Phương pháp tính kết cấu: dùng để kết hợp phân tích quy mô sử dụng đất hợp lý, cơ cấu sản xuất, số lƣợng và quy mô điểm dân cƣ. Bản chất của phƣơng pháp tính kết cấu là từ cơ cấu sản xuất, cơ cấu đất đai, căn cứ vào khả năng tổ chức sản xuất, định mức quản lý đất của mỗi lao động trong từng ngành, xác định đƣợc quy mô điểm dân cƣ (ví dụ: lấy 4 phƣơng án với quy mô là 500 ngƣời, 1.000 ngƣời, 2.000 ngƣời và 3.000 ngƣời) tƣơng ứng với quy mô diện tích đơn vị sử dụng đất. Từ đó, xây dựng phƣơng án phân bố dân cƣ trong vùng.
Các phƣơng án đƣợc đánh giá bằng tổng các chi phí vận chuyển hàng hoá, chi phí xây dựng trang bị cho trung tâm sản xuất, chi phí xây dựng cho trang thiết bị tiện nghi cho điểm dân cƣ dự định.
Giá trị tổng chi phí nhỏ nhất tính trên 1 ha hay 100 ha đất nông nghiệp sẽ cho ta
nhận định về quy mô điểm dân cƣ thích hợp trong vùng. Cách tính tổng quát nhƣ sau:
ΣS = SVH + STT + STD
Trong đó, chi phí vận chuyển hàng hoá (SVH) bao gồm chi phí vận chuyển vật tƣ, sản phẩm hàng hoá và ngƣời đi lại làm việc từ khu dân cƣ ra các khu đồng và ngƣợc lại, trong nội bộ của đơn vị sử dụng đất, và dự tính chi tiết cho một phƣơng án theo công thức:
SVH = 0,1 c. a .m√p3
Trong đó:
SVH – chi phí vận chuyển hàng hoá 0,1 - Hệ số cố định c - Giá thành vận chuyển (đồng/tấn/km) a - Khối lƣợng hàng hoá vận chuyển từ một đơn vị diện tích (tấn) p - Diện tích đất của đơn vị sử dụng đất (ha) m - Hệ số chỉ hình dạng đơn vị sử dụng đối với vị trí điểm dân cƣ (0,6 - 0,8)
119
Đối với các phƣơng án khác, chi phí vận chuyển hàng hoá đƣợc tính theo công
thức:
SVH = SVH (1) √Pn/p1
Trong đó:
SVH(n) – chi phí vận chuyển của các phƣơng án thứ n SVH(1) – Chi phí vận chuyển của phƣơng án 1 Pn - Diện tích đất sử dụng của phƣơng án thứ n P1 - Diện tích đất sử dụng của phƣơng án 1 STT – Chi phí xây dựng, trạng bị cho trung tâm sản xuất, bao gồm các giá trị thiết bị, máy móc, vật tƣ phục vụ sản xuất nông nghiệp, xƣởng sữa chữa máy móc, xí nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, trạm giống cây trồng và con gia súc.
STD – Chi phí xây dựng trang thiết bị cho các điểm dân cƣ dự dịnh, đƣợc tính theo tài liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu xây dựng đô thị và kiến trúc nông thôn trên các đặc điểm của từng vùng lãnh thổ. - Phương pháp tính phương án: bản chất của phƣơng pháp tính phƣơng án là tính tổng số vốn đầu tƣ cho các phƣơng án phân bố dân cƣ khác nhau (về số điểm dân cƣ và về độ lớn điểm dân cƣ) và lựa chọn phƣơng án tốt hơn khi có tổng số đầu tƣ nhỏ nhất (trong điều kiện các đơn vị sử dụng đất có quy mô về diện tích đƣợc coi là hợp lý). Tổng số vốn đầu tƣ biểu thị bằng công thức:
R = E.ΣK + ΣT
Trong đó:
R - Tổng số vốn đầu tƣ theo các phƣơng án phân bố dân cƣ E - Hệ số so sánh hiệu quả vốn đầu tƣ (0,15- 0,20) ΣK - Tổng vốn đầu tƣ theo các phƣơng án về chi phí xây dựng, trang thiết bị cho điểm dân cƣ dự định, trung tâm sản xuất, chi phí cho các điểm dân cƣ hiện tại sau này sẽ bị xoá bỏ (tính đến khi bị xoá bỏ).
ΣT - Tổng số chi phí hàng năm về vận chuyển hàng hoá, hoạt động kinh doanh sản
xuất. Diện tích khu dân cƣ xác định dựa vào:
- Quy mô của điểm dân cƣ - Sự phát triển của dân số, và sự hình thành hộ trong tƣơng lai - Nhu cầu văn hoá, phúc lợi xã hội của điểm dân cƣ - Định mức sử dụng đất cho khu dân cƣ - Yêu cầu tiêu chuẩn vệ sinh và bảo vệ môi trƣờng
4.4. Luận chứng phƣơng hƣớng phát triển kinh tế - xã hội 4.4.1. Hạ tầng cơ sở trong phát triển kinh tế - xã hội
Cơ cấu hạ tầng cơ sở là toàn bộ các công trình và trang thiết bị của quá trình tái sản xuất xã hội, đƣợc tổ chức cân đối với nhau trong không gian. Chúng phục vụ cho những nhu cầu cung cấp dịch vụ của nhân dân, của bộ máy hành chính và các cơ sở sản xuất. Tính ổn định tƣơng đối cao, sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động kinh tế trong vùng và tuổi thọ tƣơng đối dài (thời gian sử dụng) của các công trình và mạng lƣới của cơ
120
sở hạ tầng đã đƣa chúng trở thành một yếu tố có ảnh hƣởng tới quá trình phân bố địa điểm của các ngành, các lĩnh vực kinh tế và là một cơ cấu thành phần của lãnh thổ và vùng.
Cơ cấu hạ tầng cơ sở bao gồm nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, từ các lĩnh vực sản xuất (hạ tầng kỹ thuật) đến các lĩnh vực phi sản xuất (y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục, văn hoa, dịch vụ thƣơng nghiệp gọi tắt là hạ tầng xã hội). Cơ cấu hạ tầng cơ sở có vai trò:
- Là điều kiện sản xuất và tiêu dùng cho cả xã hội (xí nghiệp, cơ sở làm việc…) trong các vùng. Một số ngành phục vụ cho khai thác và tái sản xuất tài nguyên (nƣớc, năng lƣợng). Các công trình thiết bị hạ tầng cơ sở cũng có ảnh hƣởng lớn đến tái sản xuất sức lao động.
- Công suất của hạ tầng cơ sở cần phục vụ mọi thời điểm. Quy mô của chúng cần
đáp ứng các thời gian cao điểm trong ngày, trong năm.
- Ảnh hƣởng tác động hạ tầng cơ sở đến quá trình sản xuất xã hội là tổng hợp, đồng
bộ, và thống nhất.
- Các công trình và thiết bị của hạ tầng cơ sở, so với các công trình trong công nghiệp có thời gian sử dụng lâu dài, nên cần khai thác sử dụng có hiệu quả trong cải tạo cũng nhƣ xây dựng mới.
Chức năng của hạ tầng cơ sở đƣợc phân thành:
- Chức năng vùng: Các công trình và trang thiết bị của hạ tầng cơ sở gắn chặt chẽ
với lãnh thổ vùng và có tính toàn diện, đồng bộ, chủ yếu phục vụ cho vùng.
- Chức năng quốc gia, quốc tế: Các công trình và trang thiết bị của chúng phục vụ cho một phần, cho toàn lãnh thổ quốc gia, quan hệ hợp tác quốc tế (đƣờng xuyên quốc gia, đƣờng dẫn điện, dầu, khí đốt…). Giữa các chức năng này có sự đan xen hỗ trợ nhau. Trong đó, chức năng phục vụ địa bàn lớn cũng đồng thời là chức năng phục vụ địa bàn nhỏ hơn, trong một số ngành hay một số thể loại công trình, trang thiết bị (hệ thống giao thông, công trình cơ sở hạ tầng xã hội). Do đó, trong quy hoạch và xây dựng các công trình trang thiết bị nặng phải tính đến chức năng phục vụ của riêng từng vùng và của chung nhiều vùng hay toàn quốc gia, quốc tế tổng hợp lại.
4.4.2. Mục tiêu và xu hướng phát triển cơ cấu hạ tầng
Sự phát triển và mức độ đáp ứng phục vụ của cơ cấu hạ tầng có ý nghĩa cao về kinh tế, chính trị xã hội. Vì vậy, mục tiêu phát triển của cơ cấu hạ tầng là tạo lập và phát triển hài hoà, cân đối và đồng bộ, phù hợp với sự phát triển của các cơ cấu thành phần khác trong vùng, nâng cao và đáp ứng nhu cầu toàn diện những nhu cầu của các hoạt động kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả năng suất lao động. Đồng thời, thoả mãn những nhu cầu sử dụng của ngƣời dân về số lƣợng, chất lƣợng ổn định và thƣờng xuyên đƣợc nâng cao. Giảm bớt sự chênh lệch trong cung cấp và trang bị của hạ tầng cơ sở giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng lãnh thổ trong quá trình xích lại gần nhau. Sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của mỗi vùng, tăng cƣờng sử dụng và hoàn thiện cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu vùng, sự gia tăng dân số và chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời ngày một cao đòi
121
hỏi cơ cấu hạ tầng phải thƣờng xuyên nâng cao chất lƣợng và mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Xu hƣớng phát triển của cơ cấu hạ tầng cơ sở trong vùng và lãnh thổ có thể là:
- Đẩy mạnh tập trung hoá, chuyên môn hoá trong quy hoạch và phát triển do các yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật. Tuy vậy, mỗi lĩnh vực cần phải phân tán để phục vụ tại chỗ hoặc trong khoảng lân cận với điểm sử dụng.
- Tăng cƣờng liên kết trong không gian giữa các ngành, các lĩnh vực của hạ tầng cơ sở để đáp ứng tổng hợp sự phát triển của phong cách sống và nhu cầu sống của con ngƣời. - Thay đổi tổ chức không gian và chức năng của các lĩnh vực, các ngành, các công trình và trang thiết bị cơ sở hạ tầng trong tái sản xuất xã hội để phù hợp với lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Thí dụ: khi hiện đại hoá và nâng cao các điều kiện phục vụ của giao thông, cƣờng độ sử dụng trong phạm vi nơi ở và vùng của các công trình sẽ giảm đi và bán kính sử dụng của chúng tăng lên (các công trình văn hoá-xã hội). Tập trung nhu cầu sử dụng làm cho chuyên môn hoá trong hạ tầng cơ sở phát triển, dẫn đến mở rộng phục vụ và khối lƣợng của các công trình đặc biệt (chuyên môn hoá và tập trung của mạng lƣới thƣơng nghiệp, của công trình giáo dục và dịch vụ, nâng cao chức năng phục vụ của một số công trình y tế, đặc biệt là một số công trình năng lƣợng…).
- Giảm bớt những sự khác nhau giữa các vùng, giữa các khu vực trong vùng về nhu cầu sử dụng hay điều kiện để thoả mãn nhu cầu sử dụng các công trình, trang thiết bị của hạ tầng cơ sở. Điều kiện sống và lao động ở nông thôn, nhờ công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ dần dần ngang bằng với các điều kiện ở đô thị. Gia tăng số lƣợng lao động trong các lĩnh vực và sự chênh lệch về trang thiết bị của hạ tầng cơ sở, giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn sẽ thu hẹp lại.
- Gia tăng số lƣợng lao động trong các lĩnh vực của hạ tầng cơ sở sẽ nhanh hơn nhiều so với các lĩnh vực khác của kinh tế quốc dân (nhất là tăng nhanh trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng xã hội và giao thông vận tải).
4.4.3. Cơ cấu và mối quan hệ của hạ tầng cơ sở xã hội a. Cơ cấu và mối quan hệ hạ tầng cơ sở xã hội * Cơ cấu hạ tầng cơ sở xã hội bao gồm các nhóm chức năng sau:
- Hành chính - Chính trị - Thƣơng nghiệp - Dịch vụ các loại - Văn hoá - xã hội - Y tế - chăm sóc xã hội - Giáo dục – đào tạo - Du lịch - nghỉ dƣỡng - thể thao…
Các nhóm chức năng này đƣợc phân loại theo: + Mức độ sử dụng thƣờng xuyên:
- Thời gian ngắn, đều đặn (hàng ngày) - Chu kỳ (hàng năm, hàng tháng) - Không theo chu kỳ đều đặn (hiếm hoi, nhất thời)
122
+ Ý tƣởng của sự phục vụ:
- Cho toàn dân - Cho từng nhóm dân theo quy định - Cho nội bộ
+ Mức độ ổn định:
- Phục vụ theo phân cấp hành chính - Phục vụ không theo phân cấp hành chính - Phục vụ thƣờng xuyên - Phục vụ không thƣờng xuyên
+ Hƣớng của công trình phục vụ, quan hệ: - Phục vụ tập trung (hƣớng tâm) - Phục vụ phân tán (ly tâm) + Bán kính phục vụ, quan hệ (chức năng phục vụ) - Cục bộ - Trong vùng (bao gồm cả cục bộ) - Ngoài vùng (bao gồm cả cục bộ và trong vùng)
Các mối quan hệ của công trình hạ tầng xã hội do cơ cấu tổ chức hành chính quy
* Các mối quan hệ phục vụ của hạ tầng cơ sở xã hội định, bao gồm các công trình của:
- Hành chính và các tổ chức quản lý kinh tế - Các cơ quan thanh tran, kiểm tra, quản lý - Đảng phái và tổ chức xã hội - Tài chính – ngân hàng – tín dụng - Truyền thông đại chúng (truyền hình, phát thanh, báo chí) - Giáo dục đào tạo, y tế… Phạm vi phục vụ của các công trình trên có thể bao gồm một hay nhiều xã, một hay nhiều huyện, một hay nhiều tỉnh hoặc cả nƣớc. Ý nghĩa phục vụ đối ngoại (ngoài nơi phân bố công trình) là chủ yếu và phù hợp với chức năng trung tâm đô thị.
Các mối quan hệ của công trình hạ tầng xã hội có vùng phục vụ, không quy định
cơ cấu tổ chức hành chính, bao gồm các công trình của: - Thƣơng nghiệp (bán buôn và bán lẻ) - Dịch vụ các loại - Xã hội, y tế - Văn hoá - Giáo dục, đào tạo đặc biệt - Du lịch Các mối quan hệ hƣớng tâm của các công trình (riêng du lịch cả hƣớng tâm và ly tâm) là cơ sở để phát triển tính tổng hợp, khối lƣợng và bán kính phục vụ của chúng. Trên cơ sở đó, xác định chức năng trung tâm của các đô thị và vùng ảnh hƣởng.
Quy mô và bán kính của các mối quan hệ giữa các công trình hạ tầng cơ sở xã hội,
nhất là giữa các công trình cung cấp và dịch vụ, phụ thuộc vào các yếu tố sau đây :
123
- Sự phát triển khác nhau của cơ sở vật chất và phân công chức năng phục vụ của
các ngành trong vùng.
- Mục tiêu chính sách xã hội về cung cấp dịch vụ của tầng lớp nhân dân các dân
tộc.
- Cơ cấu hành chính – chính trị cũng nhƣ quy hoạch và quản lý. - Nhu cầu đi lại của nhân dân. Các mối quan hệ trong thƣơng nghiệp, thông qua cƣờng độ sử dụng và số ngƣời tham dự là những mối quan hệ có vị trí hàng đầu và đại diện cho quan hệ ảnh hƣởng đối ngoại của các trung tâm dịch vụ. Trong đó, cƣờng độ và bán kính phục vụ của các công trình bán hàng lƣơng thực, thực phẩm thấp và nhỏ hơn cƣờng độ và bán kính phục vụ của các công trình bán hàng công nghiệp.
Các mối quan hệ trong dịch vụ sửa chữa của kinh tế gia đình, về hƣớng, bán kính và cƣờng độ cũng rất khác nhau và đa dạng do chủng loại dịch vụ rất rộng lớn và ý nghĩa của chúng trong đời sống gia đình cũng rất khác nhau, hình thức tổ chức dịch vụ cũng đa dạng (tại nhà, tại nơi thi nhận trực tiếp sửa chữa). Do đó, trong phân bố địa điểm không nhất thiết theo quy luật khoảng cách hay thời gian đi lại.
Các mối quan hệ trong dịch vụ y tế cũng khác nhau. Giữa lƣu trú chữa chạy tại bệnh viện và khám chữa bệnh ban đầu cần gần cận nơi có nhu cầu (nơi ở) thì các bệnh viện phân bố theo vùng phục vụ do cơ cấu hành chính xác định, phục vụ cho ít nhất một quận, huyện.
Các mối quan hệ trong giáo dục đào tạo chủ yếu phục vụ cho thanh thiếu niên, phân bố công trình tuân thủ theo quy định cấp và bán kính phục vụ. Giáo dục đào tạo ở mức càng cao, càng đặc biệt, thì bán kính phục vụ càng lớn.
Các công trình văn hoá cũng tƣơng tự nhƣ các công trình giáo dục đào tạo, nghĩa là chất lƣợng càng cao, càng đặc biệt, cƣờng độ sử dụng càng ít, thì bán kính phục vụ của các công trình này càng lớn, quy luật đó cũng hình thành trong phân bố các công trình thể thao.
Các công trình hành chính – chính trị có địa bàn phục vụ đƣợc quy định và mối
quan hệ trong địa bàn đƣợc phục vụ là nhƣ nhau. * Phân cấp nhu cầu sử dụng
Mỗi một thể loại công trình cung cấp và dịch vụ có một ý nghĩa khác nhau. Khi đáp ứng nhu cầu sử dụng của con ngƣời, chúng có bán kính phục vụ khác nhau (trừ các công trình hành chính – chính trị). Để tạo cơ sở quy hoạch mạng lƣới các công trình dịch vụ và cung cấp trong vùng, cần thiết phải phân cấp nhu cầu sử dụng của ngƣời dân trong vùng. Cơ sở để phân cấp là nhu cầu thƣờng xuyên và các yếu tố khác nhƣ tính ƣu tiên phục vụ, khả năng thông tin giao tiếp (đặc biệt là giao thông).
Theo tài liệu của nƣớc ngoài, nhu cầu sử dụng của ngƣời dân phân thành 4 cấp
(cấp phục vụ):
- Cấp 1: Nhu cầu cơ sở phạm vi hẹp (cần thiết và thƣờng xuyên) bao gồm các cửa hàng phục vụ hàng ngày, các nhà hàng ăn uống, cửa hàng phục vụ tổng hợp cho gia đình, cửa hàng cắt uốn tóc, thẩm mỹ thân thể, sửa chữa xe cộ, trạm xăng, trạm y tế, khám bệnh, hộ sinh, hiệu thuốc, nhà trẻ, mẫu giáo, trƣờng tiểu học và trung học cơ sở.
124
- Cấp 2: Nhu cầu cơ sở mở rộng (hàng tuần) bao gồm các cửa hàng tiểu thủ công nghiệp, bách hoá, nhà nghỉ, khách sạn cấp thấp, bệnh viện đa khoa, phòng khám đa khoa, hiệu thuốc, trƣờng trung học phổ thông, các trƣờng đặc biệt, trƣờng bổ túc, trƣờng đại học, trƣờng học nghề, của hàng dịch vụ tổng hợp, nhà văn hoá, rạp chiếu phim, thƣ viện.
- Cấp 3: Nhu cầu đặc biệt phạm vị hẹp (hàng tháng) bao gồm bệnh viện đa khoa cấp quận, huyện, bách hoá tổng hợp, các cửa hàng tiểu thủ công nghiệp chuyên doanh, khách sạn, trƣờng trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, các cửa hàng dịch vụ chuyên ngành đặc biệt, nhà văn hoá, thƣ viện tổng hợp…
- Cấp 4: Nhu cầu đặc biệt mở rộng (không theo chu kỳ, không thƣờng xuyên) bao gồm các trung tâm bán hàng lớn, siêu thị, các bách hoá chuyên doanh, khách sạn quốc tế, bệnh viện tỉnh, các bệnh viện chuyên khoa, trƣờng đại học và cao đẳng, nhà hát, phòng biểu diễn tổng hợp, phòng thi đấu vạn năng, bảo tàng, thƣ viện khoa học kỹ thuật, các xí nghiệp dịch vụ sửa chữa tổng hợp và đặc biệt cao cấp… * Phân cấp trung tâm dịch vụ công cộng trong vùng
Trên cơ sở ý nghĩa khác nhau của các công trình phục vụ và dịch vụ công cộng đối với nhu cầu sử dụng của dân cƣ trong vùng, sự phân bố khác nhau các công trình này trong các tiểu khu dân cƣ (chủ yếu là trong các đô thị), trên cơ sở ý nghĩa đối ngoại khác nhau của các trung tâm dịch vụ công cụ trong vùng, các trung tâm dịch vụ đƣợc phân loại nhƣ sau:
- Trung tâm liên xã (tiểu vùng): phục vụ cho nhiều xã hay phần lãnh thổ của
huyện.
- Trung tâm huyện: phục vụ cho nhiều huyện (hay một phần lãnh thổ của tỉnh). - Trung tâm tỉnh: phục vụ cho lãnh thổ của một tỉnh - Trung tâm liên tỉnh (trung tâm miền): phục vụ cho địa bàn của nhiều tỉnh. - Trung tâm đất nƣớc (thủ đô): phục vụ cho lãnh thổ cả quốc gia.
Giữa các cấp trung tâm cơ bản trên, có các trung tâm quá độ hay chuyển tiếp nhƣ sau: - Trung tâm xã: phục vụ cho một xã, thoả mãn và đáp ứng không đồng bộ nhu
cầu cấp 1. Trung tâm này có thể là một làng hay một thị tứ.
- Trung tâm huyện từng phần: phục vụ cho một số lĩnh vực cho toàn huyện, là
trung tâm chuyển tiếp giữa trung tâm liên xã và trung tâm huyện.
- Trung tâm liên huyện từng phần: phục vụ cho một huyện nhƣng có một hai thể loại công trình có phạm vi vƣợt ra ngoài huyện. Đây là trung tâm chuyển tiếp giữa trung tâm huyện và trung tâm liên huyện.
- Trung tâm tỉnh từng phần: phục vụ cho một số mặt hay lĩnh vực cho toàn tỉnh,
là trung tâm chuyển tiếp giữa trung tâm liên huyện và trung tâm tỉnh.
Giữa phân cấp của nhu cầu sử dụng và phân cấp của trung tâm dịch vụ công cộng
có mối quan hệ tƣơng ứng nhƣ sơ đồ 2.2.
Cần có sự nhất quán giữa địa bàn phục vụ của các chức năng dịch vụ công cộng với địa bàn phục vụ của các chức năng hành chính – chính trị. Trên cơ sở đó, sẽ đƣa ra các tiền đề cho quy hoạch và phát triển các trung tâm dịch vụ công cộng trong vùng.
Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn, quy hoạch vùng lãnh thổ ở các nƣớc trên thế giới có nhiều phƣơng pháp phân cấp trung tâm. Ngoài phƣơng pháp dựa trên ý nghĩa
125
Cấp nhu cầu sử dụng
Cấp trung tâm dịch vụ từng phần
Cấp trung tâm dịch vụ công cộng cơ bản
- Thủ đô
- Trung tâm miền
- Trung tâm tỉnh
g n ộ r
ở m
p ẹ h i v m ạ h p
- Trung
liên
tâm
t ệ i b
t ệ i b
huyện
c ặ đ
c ặ đ
p ẹ h i v m ạ h p ở s ơ c
g n ộ r ở m ở s ơ c
u ầ c
u ầ c
u ầ c
u ầ c
- Trung tâm huyện
- Trung tâm tỉnh từng phần - Trung tâm liên huyện từng phần - Trung tâm huyện từng phần - Trung tâm xã
u h N
u h N
u h N
u h N
- Trung tâm liên xã
phục vụ đối ngoại của các công trình phục vụ và dịch vụ công cộng nhƣ đã giới thiệu ở trên đƣợc đánh giá là có tính khoa học và thực tiễn nhất, còn có phƣơng pháp dựa trên sự chênh lệch giữa số máy điện thoại của điểm dân cƣ đó so với số máy điện thoại trung bình theo dân số của vùng, phƣơng pháp dựa trên số lƣợng cán bộ nhân viên của các cơ quan lãnh đạo quản lý các ngành kinh tế của điểm dân cƣ đó, phƣơng pháp dựa trên số lƣợng các cơ sở phục vụ của thƣơng nghiệp…
Sơ đồ 2.2: Quan hệ phân cấp trung tâm dịch vụ công cộng
b. Cơ cấu và các mối quan hệ của hạ tầng cơ sở kỹ thuật trong vùng
Tất cả các hoạt động và liên kết kinh tế - xã hội trong các điểm dân cƣ và trong vùng hay lãnh thổ quốc gia đều đòi hỏi yêu cầu có sự phục vụ của các công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật nhƣ giao thông, thông tin liên lạc, năng lƣợng, cấp thoát nƣớc, xử lý chất thải… * Giao thông và thông tin liên lạc
Có nhiều hình thức giao thông và thông tin liên lạc nhằm phục vụ các hoạt động và quan hệ liên kết kinh tế - xã hội, các quan hệ riêng lẽ và tổng hợp trong và giữa các điểm dân cƣ của vùng. Các đô thị là đầu mối giao thông, là trọng điểm của vận chuyển hành khách và hàng hoá, hình thành các không gian giao thông hƣớng tâm thu hút các hoạt động kinh tế - xã hội trong vùng. Cần phải có một mạng lƣới giao thông đƣờng bộ và thuận tiện để liên kết các hoạt động kinh tế - xã hội của các điểm dân cƣ, các ngành sản xuất trong vùng, mạng lƣới ấy bao gồm: - Giao thông đƣờng bộ
126
- Giao thông đƣờng sắt - Giao thông hàng không - Giao thông đƣờng thuỷ Trên cơ sở quy mô và mối quan hệ của vùng, mạng lƣới giao thông còn phân loại
theo: - Giao thông gần:
Bao gồm nội đô và khu vực ven đô có các quan hệ và chặt chẽ với nội đô. Trong địa bàn này, hệ thống giao thông hình thành, phát triển mạng và đa dạng (tàu điện ngầm, tàu điện nhanh, xe buýt, ô tô các loại…). - Giao thông vùng:
Bao gồm lãnh thổ vùng và vùng của các đô thị trong vùng. Hệ thống giao thông trong địa bàn này gồm tàu hoả, xe buýt, giao thông vận chuyển hang hoá, giao thông đƣờng thuỷ, hình thành theo diện và theo tuyến. - Giao thông xa:
Hệ thống giao thông hình thành theo tuyến trên cơ sở các đƣờng giao thông đối ngoại, nối các đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp lớn của quốc gia hay của các nƣớc trên thế giới nối với các vùng lãnh thổ lân cận. Hệ thống giao thông gồm tàu hoả các loại, giao thông hàng không, giao thông đƣờng thuỷ (sông, biển).
Ba hệ thống giao thông liên lạc trên hình thành và phát triển tạo nên nhiều hình thức phục vụ khác nhâu ở trong vùng, giao thông vùng cần phát triển theo diện, tiếp cận với mọi điểm trong vùng.
Mạng lưới thông tin liên lạc: Có nhiệm vụ đảm bảo sự liên hệ thông tin một cách nhanh nhất cho toàn vùng. Mạng lƣới thông tin liên lạc thƣờng chạy theo các tuyến đƣờng bộ của vùng. Tuy nhiên, một số trƣờng hợp để tiết kiệm, có thể bố trí đƣờng dây thông tin liên lạc theo đƣờng ngắn nhất. Hệ thống thông tin liên lạc còn có các trung tâm liên lạc viễn thông, trạm vi ba do chuyên ngành thiết kế. * Năng lượng
Để đảm bảo thoả mãn nhu cầu năng lƣợng của các cơ sở và hình thức sử dụng trong vùng, các điểm dân cƣ đô thị và nông thôn cần phải đƣợc tiếp nối vào các hệ thống và mạng lƣới cấp năng lƣợng của vùng, của quốc gia hay quốc tế.
Khối lƣợng năng lƣợng cần dùng cũng nhƣ hình thức sử dụng và chất lƣợng yêu cầu của các cơ sở và ngƣời sử dụng khác nhau trong điểm dân cƣ, không thể đƣợc thỏa mãn và đáp ứng trong phạm vi của vùng, vì nguồn năng lƣợng do khai thác tài nguyên và điều kiện thiên nhiên ngoại thành và trong vùng thƣờng là không nhiều. Do đó, cần phải trao đổi và vận chuyển năng lƣợng trong các khoảng cách xa. Ngƣợc lại, mạng lƣới và các công trình sử dụng tiêu thụ năng lƣợng lại đƣợc phân bố đều khắp trong vùng, trong các vành đai ngoại thành để đáp ứng yêu cầu về đất đai và phòng hộ, đảm bảo an toàn và ngăn ngừa độc hại, ô nhiễm. Do đó, trong tổ chức quy hoạch các mạng lƣới và công trình cung cấp năng lƣợng, khi phân bố địa điểm và tính toán khối lƣợng phải xét toàn vùng. Sự liên kết giữa các đô thị và ngoại thị trong vùng về các công trình thiết bị hạ tầng kỹ thuật năng lƣợng rất khác nhau và phụ thuộc vào các quan điểm kinh tế kỹ thuật cũng nhƣ quy luật
127
kinh tế của từng ngành năng lƣợng. Để có hiệu quả kinh tế và sử dụng, quy hoạch và thiết kế các mạng lƣới công trình năng lƣợng trong vùng cần phải có sự giao kết hợp lý với quy hoạch và phát triển các lĩnh vực, các ngành, các cơ cấu thành phần khác của vùng. * Cấp thoát nước
Những mối quan hệ liên kết về cấp thoát nƣớc trong vùng, giữa đô thị và ngoại thị phụ thuộc vào các điều kiện thiên nhiên và thuỷ học, phần lớn và chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển trong địa bàn của vùng. Các quan điểm vùng về kinh tế nƣớc trong quy hoạch các mạng lƣới và công trình cấp thoát nƣớc là:
- Khai thác và tinh chế nƣớc từ ngoại thành, ngoại thị (trừ trƣờng hợp phải lấy từ
xa).
- Tập trung xử lý nƣớc thải phần lớn tại ngoại thành, ngoại thị. - Bảo vệ nguồn nƣớc ở trong các đô thị, ven đô và điểm dân cƣ nông thôn. - Sử dụng nƣớc hợp lý theo lợi ích của các điểm dân cƣ đô thị và ngoại thị trong
vùng.
Nói chung, các điểm dân cƣ, đặc biệt là đô thị, những vấn đề nói trên, phụ thuộc
vào vùng ngoại thị và gây ảnh hƣởng tác động đến ngoại thị.
4.4.4. Quy hoạch cơ cấu hạ tầng cơ sở
Tạo ra sự phát triển cân đối và có kế hoạch là một nhiệm vụ của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đối với quốc gia và vùng lãnh thổ. Về mặt tổ chức không gian tổng thể của cơ cấu hạ tầng không gian lãnh thổ, trong vùng (cơ cấu hạ tầng trong nội bộ các ngành, giữa cơ cấu hạ tầng và các cơ cấu thành phần khác), quy hoạch cơ cấu hạ tầng là đối tƣợng quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng ở Trung ƣơng và địa phƣơng. Từng ngành là đối tƣợng quy hoạch của quy hoạch ngành ở Trung ƣơng và địa phƣơng. Bộ kế hoạch và đầu tƣ cùng với các Bộ, ngành chuyên môn và Sở Kế hoạch tỉnh cùng với các sở, ban ngành tƣơng ứng chịu trách nhiệm về quy hoạch phát triển hạ tầng cơ sở trong toàn quốc cũng nhƣ trong các địa phƣơng.
Hạ tầng cơ sở cần phải đƣợc quy hoạch và phát triển đồng bộ và phải luôn nhất quán với quy hoạch và phát triển dân cƣ, của sản xuất và của các điểm dân cƣ trong các vùng. Cho nên, Ủy ban nhân dân xã, huyện, tỉnh, đô thị phải chịu trách nhiệm về quy hoạch hạ tầng cơ sở của địa phƣơng mình. Nhiều lĩnh vực của hạ tầng cơ sở, đặc biệt của hạ tầng cơ sở xã hội, do các cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý. Cần tiến hành đồng bộ trong quy hoạch và phát triển bao gồm cả về cơ cấu và cả mối quan hệ liên kết giữa các ngành, các bộ phận của hạ tầng cơ sở, kể cả với các cấp hành chính.
Soạn thảo và ban hành các nguyên tắc quy chế thống nhất trong cả nƣớc, trong các vùng về phát triển hạ tầng cơ sở, trong phạm vi trách nhiệm và quản lý của các ban ngành. Các nguyên tắc và quy chế này đƣợc soạn thảo phải căn cứ vào tổng sơ đồ phân bố lực lƣợng sản xuất, đồng thời phải chú ý tới mối quan hệ hợp tác quốc tế của những cơ quan và đơn vị tham gia.
Các nguyên tắc quy chế và công cụ quy hoạch phát triển cơ sở có thể là: (1) Phù hợp với các chính sách kinh tế và xã hội, hạ tầng cơ sở cần phải đƣợc quy
hoạch đồng bộ, nhằm:
128
- Phục vụ hỗ trợ đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cho mở rộng quy mô sản xuất, đặc
biệt là các biện pháp gia tăng năng lƣợng và nguyên vật liệu.
- Thƣờng xuyên giảm bớt chi phí, giá thành và tăng khả năng phục vụ của hạ tầng cơ sở cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân thông qua đẩy mạnh tăng cƣờng trong các ngành, lĩnh vực hạ tầng cơ sở.
- Phục vụ cho việc thƣờng xuyên nâng cao mức sống của nhân dân và thu hẹp
khoảng cách trong mức sống giữa các lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn.
- Các mục tiêu cần phải đƣợc cụ thể hoá hơn khi xác định tỷ lệ cân đối cơ sở hạ tầng nói chung và từng lĩnh vực và khi phân bố địa điểm trong lãnh thổ. Trƣớc hết là trong việc xác định tỷ lệ lao động, xây dựng cơ bản, trang thiết bị cho cơ sở hạ tầng ở trong từng vùng, xây dựng nhà ở bổ sung và chuẩn bị hoàn thiện hạ tầng cơ sở kỹ thuật cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân.
(2) Tăng cƣờng cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng đã và có phát triển mới. Mở rộng mạng lƣới và công trình để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân với kinh phí thấp nhất, xoá bỏ dần sự chênh lệch về mức độ và chất lƣợng phục vụ giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn.
(3) Sự phân bố công trình và mật độ mạng lƣới hạ tầng cơ sở cần phải phù hợp với phân bố và mật độ sản xuất và dân cƣ. Các vùng có chức năng đặc biệt cần phải đƣợc trang bị hạ tầng cơ sở thích ứng. Chẳng hạn: cho thủ đô, thủ phủ các tỉnh, cho các vùng du lịch ...
(4) Quy hoạch hạ tầng cơ sở cần phải lƣu ý và tuân thủ các giới hạn tập trung tối đa (ngƣỡng tối đa) của các ngành, các lĩnh vực, do sự tập trung gia tăng của sản xuất và dân cƣ, nhất là trong các đô thị cũng nhƣ lƣu ý đến mở rộng các địa phận hay vùng phục vụ các công trình, trang thiết bị.
Quy hoạch vùng lãnh thổ cũng nhƣ quy hoạch hạ tầng cơ sở cần phải cộng tác để tìm ra cách giải quyết hợp lý, phù hợp với công nghệ, tổ chức và kinh tế đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội trong việc phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trong các vùng quá đông hoặc quá thƣa dân, nhất là trong các điểm dân cƣ nhỏ. Song, cần phải đề cập định hƣớng phát triển của dân trong tƣơng lai, đến tiêu chuẩn quy phạm quy hoạch và thiết kế cho các tầng loại tiểu dân cƣ.
(5) Gia tăng lực lƣợng lao động trong lĩnh vực, các ngành của cơ sở hạ tầng song phải cân xứng giữa các lực lƣợng lao động của hạ tầng cơ sở, lao động sản xuất vật chất, và trên nguyên tắc sử dụng lao động thấp mà vẫn đảm bảo công suất và chất lƣợng phục vụ, tỷ lệ cân đối hài hòa giữa nhu cầu và khả năng phục vụ, thông qua đồng bộ hóa giữa các ngành, các lĩnh vực với nhau, hiện đại hóa cơ sở hiện trạng và ứng dụng công nghệ mới.
(6) Cơ sở hạ tầng cần phải đƣợc quy hoạch và phát triển đồng bộ, đồng thời phải tính đến khả năng phục vụ trong tƣơng lai. Do đó, cần phải có dự thảo phát triển dài hạn và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn cho các ngành, các lĩnh vực, các cơ quan lãnh đạo, quản lý tham gia, và có sự cân đối giữa từng lãnh thổ và vùng.
(7) Các cơ quan chính quyền địa phƣơng cần phải xem xét và quyết định kế hoạch
tổng thể cho các nhiệm vụ và lĩnh vực của hạ tầng cơ sở sau:
129
- Các nhiệm vụ phát triển điều kiện ở của dân trong địa phƣơng mình, đặc biệt là
xây dựng nhà ở mới, đồng bộ, duy trì và cải tạo nhà ở và các công trình công cộng.
- Các đƣờng lối cơ bản phát triển giáo dục đào tạo, y tế xã hội, du lịch và nghỉ
dƣỡng cũng nhƣ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phƣơng mình.
- Nhiệm vụ phát triển giao thông do địa phƣơng quản lý, nhằm phát triển thƣơng
nghiệp và các lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật khác trên địa bàn lãnh thổ địa phƣơng.
Công cụ chính để thực hiện đƣờng lối chỉ đạo và các nguyên tắc phát triển hạ tầng cơ sở là kế hoạch trung hạn 5 năm. Trong đó, cần phân biệt lĩnh vực nào do Trung ƣơng và lĩnh vực nào do địa phƣơng phụ trách.
Sau đây là một số nội dung chủ yếu trong quy hoạch hệ thống hạ tầng sản xuất của
vùng: a. Bố trí hệ thống đường giao thông
Hệ thống đƣờng giao thông nhằm đảm bảo cho sự đi lại thuận lợi của nhân dân, tổ chức vận chuyển hàng hóa hợp lý, sử dụng tốt các phƣơng tiện giao thông, chủ yếu là đƣờng bộ và đƣờng thủy trong vùng.
Hệ thống đƣờng giao thông bao gồm: - Đƣờng trục chính: đƣờng nối từ quốc lộ, tỉnh lộ tới các trung tâm hành chính,
kinh tế, văn hóa, xã hội, các đầu mối giao thông (bến tàu xe), các tiểu vùng.
- Đƣờng liên xã: đƣờng nối giữa các xã, các đơn vị sản xuất, các đơn vị sử dụng
và thƣờng bố trí kết hợp với các loại đƣờng khác nhƣ trục chính, đƣờng cơ giới. Xây dựng hệ thống đƣờng giao thông bao gồm các nội dung sau: - Xác định khối lƣợng vận chuyển hàng hóa (trong vùng và từ trong vùng ra ngoài vùng), các điểm chu chuyển hàng hóa, xây dựng sơ đồ mối liên hệ giao thông, xác định hƣớng tuyến đƣờng trục.
- Xác định cƣờng độ vận tải (trọng lƣợng hàng hóa vận chuyển trong ngày) và
bậc (cấp) kỹ thuật đƣờng.
- Bố trí mạng lƣới đƣờng giao thông trên cơ sở: đảm bảo giao lƣu giữa các điểm dân cƣ, các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội trong vùng, tiểu vùng cũng nhƣ với các đơn vị sản xuất, các xí nghiệp; sử dụng ở mức cao nhất hệ thống đƣờng vào công trình (cầu, cống) sẵn có; đảm bảo sự lƣu thông giữa đƣờng nội bộ các đơn vị sản xuất, các xí nghiệp với quốc lộ, tỉnh lộ và đƣờng liên xã; vốn đầu tƣ cơ bản xây dựng đƣờng và công trình ít nhất; bảo vệ đất nông nghiệp có giá trị, đồng thời đảm bảo quy định kỹ thuật đƣờng; bảo vệ đất chống xói mòn và ngập nƣớc, các hậu quả khác do việc bố trí đƣờng giao thông gây ra.
Trong tổ chức xây dựng đƣờng giao thông phải xác định đƣợc: - Độ dài các tuyến đƣờng cải tạo lại và các công trình trên đó phải sửa chữa. - Độ dài các tuyến đƣờng và các công trình trên đó xây dựng mới. - Cấp kỹ thuật đƣờng cải tạo và đƣờng xây dựng mới, kế hoạch cải tạo và xây
dựng đƣờng.
- Diện tích đất xây dựng đƣờng (kể cả đất xây dựng lại).
b. Hệ thống thủy lợi và cấp thoát nước
Vấn đề nƣớc trong quy hoạch tổng thể đƣợc giải quyết theo hai nội dung:
130
- Hệ thống thủy lợi: luận chứng phát triển hệ thống thủy lợi cung cấp nƣớc cho sản
xuất nông nghiệp.
- Hệ thống nƣớc dùng trong sinh hoạt và dùng cho hoạt động của các ngành khác.
* Nội dung luận chứng quy hoạch thủy lợi – tưới, tiêu nước trong nông nghiệp
- Đánh giá nguồn nƣớc: đánh giá về khả năng và chất lƣợng nguồn nƣớc phục vụ
sản xuất, những ảnh hƣởng của chế độ nƣớc.
- Xác định diện tích cần tƣới, tiêu và sự phân bố diện tích cần tƣới tiêu trong vùng. - Xác định các phƣơng pháp tƣới tiêu thích hợp, hệ thống kênh mƣơng, số trạm
bơm trên toàn vùng và phân bố trong tiểu vùng.
- Khối lƣợng kênh mƣơng đào đắp, chi phí xây dựng và sử dụng hệ thống kênh
mƣơng.
- Biện pháp bảo vệ nguồn nƣớc và chống xói mòn. - Tiến độ thực hiện công tác thủy lợi.
* Nội dung quy hoạch nguồn nước dùng trong sinh hoạt và phục vụ các hoạt đông sản xuất của các ngành
- Xác định nhu cầu sử dụng nƣớc cho ngƣời, gia súc, máy móc, các ngành phi
nông nghiệp
- Xác định nguồn nƣớc, tiêu chuẩn vệ sinh nƣớc dùng. - Xác định các tháp nƣớc, bể nƣớc cần xây dựng, đƣờng kính và chiều dài ống dẫn
nƣớc. c. Luận chứng quy hoạch hệ thống điện * Xác định nhu cầu sử dụng điện
- Nhu cầu điện phục vụ sinh hoạt: phụ thuộc vào mật độ dân cƣ và mức độ đầu tƣ
trang thiết bị đồ dùng điện trong dân.
- Nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất: phụ thuộc vào mức độ công nghiệp hóa và
sự phát triển của các ngành nghề, các khâu dịch vụ. * Xác định nguồn điện
- Lƣới điện quốc gia: trong sử dụng lƣới điện quốc gia cần xác định vị trí, công suất, cấp điện áp của trạm biến thế trung gian của trạm biến thế khu vực. Mạng điện do Nhà nƣớc cung cấp.
- Hệ thống lƣới điện cao áp, hạ áp cần đầu tƣ, các trung tâm phụ tải điện và hệ
thống đƣờng dây, các trạm biến áp trung gian.
- Máy phát điện độc lập: sử dụng hệ thống máy phát điện loại nhỏ phục vụ phạm
vi gia đình và cụm dân cƣ nhỏ, thƣờng đƣợc sử dụng ở miền núi. d. Các công trình phục vụ sản xuất
Trung tâm sản xuất là một bộ phận của điểm dân cƣ nông nghiệp, một mặt có quan
hệ với khu dân cƣ, một mặt có tính độc lập tƣơng đối của các ngành sản xuất.
Trung tâm sản xuất bao gồm các cơ sở sản xuất và phục vụ sản xuất, xí nghiệp công nghiệp chế biến, xí nghiệp cơ khí công cụ và sửa chữa, trạm giống cây trồng và gia súc, trạm bảo vệ thực vật và vật nuôi, cửa hàng vật tƣ kỹ thuật.
Trung tâm sản xuất đƣợc phân loại theo ngành, tính chất chuyên môn hóa, vai trò
của trung tâm sản xuất đối với vùng, tiểu vùng và đơn vị sản xuất.
131
Sự phân bố trung tâm sản xuất dựa trên các căn cứ: - Đáp ứng với yêu cầu kinh tế tổ chức: có mối liên hệ thích hợp với khu dân cƣ,
ở gần nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, nƣớc dùng, điều kiện lƣu thông thuận tiện.
- Đảm bảo các điều kiện xây dựng: mực nƣớc ngầm ở sâu không ảnh hƣởng tới
công trình sản xuất, đời sống của ngƣời và gia súc.
- Bố trí hợp lý các công trình, các khoảng cách hợp lý giữa các công trình với
nhà ở khu dân cƣ, đảm bảo vệ sinh và bảo vệ môi trƣờng khỏi mọi sự ô nhiễm. e. Cơ sở hạ tầng xã hội
Các công trình văn hóa phúc lợi xã hội là một phần quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới, các công trình văn hóa, phúc lợi xã hội đƣợc xây dựng và phát triển phù hợp với những đặc điểm phân bố dân cƣ, điều kiện sản xuất, giao thông, sinh hoạt.
(i) Các công trình văn hóa phúc lợi xã hội đƣợc phân theo chức năng hoạt động: - Trƣờng học: nhà trẻ, mẫu giáo, các trƣờng phổ thông cơ sở (cấp I, II) phổ thông
trung học (cấp III).
- Bệnh viện: bệnh viện (đa khoa và chuyên khoa), bệnh xá, trạm cấp cứu, trạm y
tế, viện điều dƣỡng, hiệu thuốc.
- Cơ sở văn hóa: thƣ viện, rạp chiếu bóng, nhà hát, câu lạc bộ, nhà văn hóa. - Cơ sở thể dục thể thao: sân vận động, cung thể thao. - Cơ quan hành chính: trụ sở chính quyền, trạm truyền thanh, bƣu điện, ngân hàng,
trạm chữa cháy.
(ii) Các công trình văn hóa phúc lợi xã hội đƣợc phân bố theo các hình thức phục
vụ tập trung và phục vụ nhóm:
- Nhóm I: các công trình ở các điểm dân cƣ nhỏ, hoặc một phần dân cƣ lớn, bán
kính phục vụ 0,5-1km, gồm nhà trẻ, mẫu giáo, trạm cấp cứu, cửa hàng thƣơng nghiệp.
- Nhóm II: các công trình phục vụ một vài điểm dân cƣ, bán kính phục vụ 2-5km, gồm trƣờng phổ thông cơ sở (cấp I, II), gồm trạm y tế, bệnh xá, cửa hàng thƣơng nghiệp xƣởng sửa chữa, dịch vụ ăn uống.
- Nhóm III: các công trình phục vụ cho tiểu vùng, bán kính phục vụ 6-8km, gồm trƣờng phổ thông trung học (cấp III), bệnh viện khu vực, cơ sở văn hóa, thể dục thể thao, thƣơng nghiệp, khách sạn, nhà khách.
- Nhóm IV: các công trình phục vụ cho toàn vùng, bán kính phục vụ 10-20km, gồm trƣờng phổ thông trung học (cấp III), bệnh viện vùng, cơ sở văn hóa, thể dục thể thao, thƣơng nghiệp, khách sạn, nhà khách.
- Nhóm V: các công trình phục vụ của quốc gia, tỉnh đặt trong vùng gồm các trƣờng đại học và trung học chuyên nghiệp, viện bảo tàng, bệnh viện chuyên khoa, viện điều dƣỡng, nhà nghỉ mát.
(iii) Số lƣợng và địa điểm phân bố các công trình văn hóa, phúc lợi xã hội đƣợc xác định bởi các yếu tố chủ yếu sau: số dân đƣợc phục vụ, bán kính phục vụ, đặc điểm khu dân cƣ (vị trí, độ lớn), điều kiện lƣu thông liên lạc giữa các điểm dân cƣ.
(iv) Diện tích của công trình văn hóa, phúc lợi xã hội đƣợc tính toán theo các định
mức của các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành, trên cơ sở các đặc điểm cụ thể của vùng. Nội dung khái quát của quy hoạch hệ thống có cơ sở hạ tầng bao gồm các vấn đề:
132
- Phân tích các yếu tố tác động đến xây dựng và phát triển, ý đồ chiến lƣợc của ngành trung ƣơng, của vùng và cả nƣớc về phát triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn quy hoạch.
- Xác định mục tiêu và phƣơng hƣớng phát triển. - Bố trí mạng lƣới kết cấu hạ tầng trong vùng. - Xác định các giải pháp và dự án thực hiện.
4.5. Quy hoạch bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên và cảnh quan 4.5.1. Sự thống nhất của quy hoạch môi trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Nhƣ tài liệu “cứu lấy trái đất, chiến lƣợc cho cuộc sống bền vững” (1991) đã nêu “Chiến lƣợc nhằm đạt tới biện pháp tổng hợp bền vững của phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng trong một thể thống nhất. Những chiến lƣợc có hiệu quả đều đƣợc xây dựng trên thực tế và cần thiết cho các quyết định đúng đắn, hợp lý về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trƣờng và kết hợp cả hai quá trình này”. Trong tài liệu “Phát triển và môi trƣờng” của Ngân hàng thế giới đã chỉ ra rằng “Phát triển và môi trƣờng: một sự phân đôi sai lầm”. Điều đó có nghĩa là không đƣợc tách đôi, phát triển và môi trƣờng ở trong thể thống nhất với nhau. Các tài liệu về phát triển bền vững đều cho thấy mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Qua những điều trên cho ta thấy, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng bền vững là nhất thể hóa. Do đó, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch môi trƣờng cũng nhất thể hóa với nhau.
Thực tế cho thấy, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đã có quy hoạch môi trƣờng. Bất kỳ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào đều có hậu quả về môi trƣờng do bản thân quy hoạch gây ra. Dù không tính đến môi trƣờng, không quy hoạch môi trƣờng, nhƣng có một quy hoạch môi trƣờng vô thức thực sự bất đắc dĩ đi liền với quy hoạch kinh tế - xã hội đó. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội có tốt hay xấu nhƣ thế nào đi chăng nữa, thì kèm theo đó là hệ quả về môi trƣờng nhƣ là kết quả của một quy hoạch môi trƣờng của chính quy hoạch kinh tế - xã hội đó gây nên. Có thể kết quả kinh tế tốt, nhƣng kết quả môi trƣờng lại xấu, không kiểm soát đƣợc. Cụ thể, nhƣ vấn đề chặt rừng làm nƣơng rẫy, thì hậu quả là cây rừng bị chặt và đốt phá làm cho đất đai bị xói mòn, lũ lụt xảy ra làm ảnh hƣởng tới đời sống của dân cƣ trong vùng và những vùng khác. Kinh tế - xã hội phát triển trên không gian lãnh thổ, môi trƣờng cũng phát triển trên không gian lãnh thổ, nên kinh tế - xã hội cùng chung lãnh thổ, thống nhất với nhau. Điều đó có nghĩa là quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch môi trƣờng phải là một, có nhƣ thế thì mới tạo ra đƣợc sự phát triển bền vững.
Hiện nay quy hoạch môi trƣờng ở trong tình trạng nhƣ sau:
- Thẩm định về môi trƣờng cho các dự án quy hoạch kinh tế - xã hội thực hiện bởi đánh giá tác động môi trƣờng cho các dự án đó. Cũng có trƣờng hợp quy hoạch kinh tế - xã hội tiến hành trƣớc, sau đó làm một phân vùng quy hoạch bảo vệ môi trƣờng kèm theo một cách thụ động để đối phó với những phát sinh do quy hoạch gây ra. Quy hoạch môi trƣờng theo kiểu này nằm ngoài quy hoạch kinh tế - xã hội và chỉ là sự hứng chịu giải quyết hệ quả của quy hoạch kinh tế - xã hội.
133
- Cùng tiến hành đồng thời quy hoạch bảo vệ môi trƣờng và quy hoạch kinh tế - xã
hội trong một quy hoạch thống nhất của sự phát triển bền vững.
- Quy hoạch môi trƣờng có vai trò chủ đạo, đƣợc xem xét ƣu tiên trong chiến lƣợc
phát triển bền vững, buộc mọi quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải tuân theo.
Ở Việt Nam hiện nay chủ yếu ở tình trạng thứ nhất, nhƣng cũng chƣa thực hiện tốt. Nhiều dự án lớn về kinh tế - xã hội chƣa đƣợc đánh giá tác động đến môi trƣờng, gây nên những tranh cãi trong quá trình thực hiện dự án. Chƣa dự kiến hết đƣợc những biến cố về môi trƣờng khi thực hiện dự án kinh tế - xã hội. Những quy trình, quy phạm của quy hoạch kinh tế - xã hội chƣa tính tới hoặc đề cập chƣa đúng mức đến quy hoạch môi trƣờng. Chúng ta đang trên con đƣờng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, muốn phát triển bền vững tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
4.5.2. Môi trường thiên nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội
Môi trƣờng thiên nhiên là điều kiện của sản xuất và đời sống con ngƣời và là một
thành tố quyết định cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu vùng trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Thiên nhiên phục vụ cho con ngƣời thông qua việc cung cấp các sản phẩm động, thực vật, cũng nhƣ phục vụ những nhu cầu văn hóa, thẩm mỹ và tái tạo sức lao động. Một phần của môi trƣờng thiên nhiên nhƣ khí hậu, đất đai là những điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, con ngƣời không thể không xâm nhập vào chúng. Vì vậy, việc khai thác sử dụng và tạo lập môi trƣờng thiên nhiên là một nhiệm vụ của quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng.
Môi trƣờng thiên nhiên là một tổng thể của nhiều quá trình, nhiều yếu tố khác
nhau và cũng tiếp cận, thâm nhập khác nhau vào quá trình tái sản xuất xã hội gồm có:
a. Các tiềm năng thiên nhiên - Tiềm năng tích lũy - Tiềm năng sản xuất, sản sinh - Tiềm năng tải trọng (nền cho công trình xây dựng) - Tiềm năng thủy học - Tiềm năng làm sạch và loại trừ - Tiềm năng nghỉ dƣỡng b. Các tài nguyên dự trữ thiên nhiên - Tài nguyên địa chất (khoáng chất, năng lƣợng) - Tài nguyên nƣớc - Không khí - Đất đai c. Thiết bị không gian thiên nhiên Tiềm năng thiên nhiên hình thành và tồn tại khách quan trong thiên nhiên, tạo thành các quá trình tự nhiên liên hoàn, biến đổi thể chất và năng lƣợng. Tài nguyên dự trữ thiên nhiên là sự tập trung dự trữ khoáng chất tự nhiên có ý nghĩa kinh tế vùng, kinh tế lãnh thổ.
134
Thiết bị không gian thiên nhiên là sự tổng hợp tiềm năng và tài nguyên dự trữ
thiên nhiên của một vùng hay một địa danh.
Các điều kiện thiên nhiên khác nhau trong lãnh thổ, là một lĩnh vực cơ bản hay một thành phần cơ bản của quy hoạch lãnh thổ. Chúng là các điều kiện khống chế và là đối tƣợng quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng.
4.5.3. Các mục tiêu và xu hướng khai thác sử dụng môi trường thiên nhiên
Sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, của mỗi vùng đòi hỏi sử dụng và khai thác có hiệu quả tiềm năng và dự trữ thiên nhiên, đồng thời sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên. Do đó, cần phải tìm hiểu và nhận biết những tác động ảnh hƣởng qua lại giữa tiềm năng thiên nhiên, tài nguyên dự trữ thiên nhiên, thiết bị không gian thiên nhiên và quá trình tái sản xuất xã hội trong sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, trong các quy hoạch phân bố địa điểm. Chỉ có vậy mới nâng cao đƣợc hiệu quả sản xuất kinh tế, và bảo đảm vững chắc quá trình nâng cao đó. Đồng thời, có thể loại trừ đƣợc những thiệt hại và tổn thất không mong muốn nhƣ hoang hóa đất đai, ô nhiễm môi trƣờng.
Song song với khai thác và sử dụng, cần phát triển và bảo vệ các tiềm năng thiên nhiên để đáp ứng các yêu cầu của đẩy mạnh phát triển sản xuất xã hội, đặc biệt là sản xuất nông lâm nghiệp. Cần phải có biện pháp để duy trì tiềm năng sản xuất, sinh sản của đất và cảnh quan nông thôn. Muốn áp dụng các phƣơng pháp và quy trình sản xuất công nghiệp trong sản xuất nông nghiệp thì sự tản mạn, manh mún của hệ thống cƣ dân cần phải đƣợc cải tạo để giảm bớt số lƣợng các điểm dân cƣ nhỏ lẻ, phân tán, tăng quy mô của các điểm dân cƣ.
Tiềm năng nghỉ dƣỡng của môi trƣờng thiên nhiên cần phải đƣợc phát huy phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, du lịch ngày càng tăng của nhân dân. Do đó, cần phải kết hợp nhiều loại hình sử dụng hay tăng khả năng sử dụng của môi trƣờng thiên nhiên.
Các nguồn nƣớc cần phải đƣợc quy hoạch khai thác và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, bảo vệ độ trong sạch của nguồn nƣớc mặt và ngầm, có biện pháp chống ô nhiễm. Trong quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng, cần xác định vị trí xây dựng các hồ chứa nƣớc dự trữ, các mạng lƣới dẫn nƣớc từ xa để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong từng vùng, nhất là cho các đô thị lớn hay trung tâm công nghiệp tập trung khối lƣợng lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp và dân cƣ. Thông qua những sách lƣợc phân bố địa điểm có kế hoạch và các biện pháp hợp lý hóa lãnh thổ theo mục đích, có thể hạn chế đƣợc sự tập trung quá mức việc sử dụng nƣớc trong các điểm sản xuất và dân cƣ. Các nguồn nƣớc thải sản xuất và sinh hoạt nhất thiết phải đƣợc xử lý trƣớc khi hòa nhập vào nƣớc mặt.
Không khí cần phải đƣợc bảo vệ, duy trì trong sạch. Các chất độc hại, nhiễm bẩn cần phải đƣợc ngăn chặn xử lý ngay tại nơi phát sinh trƣớc khi thải vào bầu không khí chung. Phải có diện tích cây xanh phòng hộ và bảo vệ diện tích rừng để tái tạo không khí trong lành, giảm ô nhiễm trong các đô thị và trung tâm công nghiệp lớn nhƣ hạn chế phƣơng tiện xe cơ giới, thay chất đốt than củi bằng khí, điện và nguồn năng lƣợng khác.
Đất đai, tài sản của thiên nhiên không thể thay thế đƣợc cần phải đƣợc sử dụng hợp lý và có biện pháp bảo vệ chống sa mạc hóa, hoang hóa. Đó là yêu cầu đối với ngành
135
sản xuất nông nghiệp – công nghiệp – xây dựng và khai thác tài nguyên, khoáng sản. Hạn chế lấy đất nông nghiệp sử dụng vào các mục đích khác. Sử dụng đất nông nghiệp trong các điểm dân cƣ, đặc biệt trong các đô thị phải tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế. Một trong những nhiệm vụ của quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng là từ nhiều phƣơng án của quy hoạch, chọn lấy phƣơng án sử dụng đất đai tối ƣu và hợp lý với các đƣờng lối chính sách kinh tế - xã hội.
Các chất thải rắn từ sản xuất và sinh hoạt cần phải đƣợc thu gom tập trung ở các điểm trong các vành đai bao quanh các điểm dân cƣ. Đặc biệt là các đô thị, phải phân loại xử lý để hạn chế ô nhiễm môi trƣờng, nhiễm bẩn nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm. Giữ gìn cảnh quan thiên nhiên môi trƣờng, thu lại một phần giá trị kinh tế qua tái sinh và sản xuất năng lƣợng, phân bón.
Sử dụng kết hợp đồng thời nhiều tiềm năng và tài nguyên dự trữ thiên nhiên khác nhau trên cùng một diện tích sẽ mang lại nhiều hiệu quả, nhƣng chỉ khi nào các mục đích sử dụng không mâu thuẫn nhau.
Trong các đô thị, sử dụng đất đai hiệu quả bằng các giải pháp tăng tỷ lệ tầng cao xây dựng công trình và kết hợp nhiều chức năng sử dụng trong một công trình phân bố ở các tầng khác nhau. Ví dụ: các tầng dƣới dành cho thƣơng nghiệp, dịch vụ và các chức năng công cộng khác, tầng trên để ở hay làm việc.
Nhịp độ hoạt động và sự căng thẳng của cuộc sống, nhất là trong các đô thị lớn, ngày một gia tăng do sự phát triển của công nghiệp hóa và đô thị hóa tác động. Mặt khác, giao lƣu văn hóa quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển, cho nên du lịch và nghĩ dƣỡng đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia, của nhiều vùng lãnh thổ. Ngoại thành, nông thôn, miền núi, miền biển là các địa bàn thu hút khách tham quan, du lịch và nghĩ dƣỡng. Vì vậy, các địa khu trong vùng, trong lãnh thổ có các công trình, di tích thiên tạo và nhân tạo, có cảnh quan thiên nhiên đẹp và hấp dẫn, có các điều kiện thiên nhiên thích ứng với nghỉ dƣỡng cần đƣợc khai thác và sử dụng có hiệu quả và phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trƣờng, duy trì cảnh quan. Quy hoạch phát triển nghỉ dƣỡng cần phải có sự nhất quán và hỗ trợ của các quy hoạch phát triển chuyên ngành khác nhƣ hạ tầng cơ sở xã hội và kỹ thuật, văn hóa… Nghỉ cuối tuần sẽ dần là nhu cầu cơ bản của nhân dân. Do đó, xu hƣớng tạo nơi ở thứ hai ở các khu nghỉ gần trong vùng đã tạo thêm điều kiện phát triển cho nhiều địa danh và điểm dân cƣ trong vùng.
4.5.4. Quy hoạch môi trường thiên nhiên và cảnh quan
Để đạt đƣợc hiệu quả xã hội cao thông qua việc tổ chức không gian hợp lý, kiến tạo và bảo vệ môi trƣờng, cảnh quan thiên nhiên, quy hoạch vùng cũng nhƣ quy hoạch lãnh thổ cần đảm bảo các mục tiêu và nguyên tắc sau:
- Quy hoạch và phát triển vùng lãnh thổ phải khai thác và sử dụng ở mức độ cao
các tiềm năng tài nguyên dự trữ thiên nhiên có ở trong vùng.
- Thƣờng xuyên bảo vệ và giữ gìn khả năng hoạt động của các hệ thống sinh thái thiên tạo và nhân tạo nhƣ là một cơ sở sản xuất và đời sống của con ngƣời trong quy hoạch phân bố các địa điểm lực lƣợng sản xuất trong vùng.
136
- Thực hiện tốt hơn các loại hình sử dụng nhiều tầng, nhiều mục đích các tiềm năng và tài nguyên dự trữ và thiên nhiên thông qua quy hoạch sử dụng cân đối và hài hòa ở trong các vùng, trong khuôn khổ hợp lý hóa lãnh thổ.
- Hạn chế và loại trừ ảnh hƣởng của các xí nghiệp. Đối ngƣợc lại là sự hình thành chu trình trao đổi chất trong vùng trong quá trình hoàn thiện cơ cấu vùng, bố trí các dự án mới.
Với sự phát triển của các công nghệ xử lý chất thải sản xuất và sinh hoạt thành các nguyên liệu tái sinh, quy hoạch tổng thể của các vùng cần phải dự kiến không gian đất đai nhằm:
- Tạo điều kiện địa điểm thuận lợi cho công nghiệp xử lý chất thải. - Xóa bỏ các địa điểm thu gom và xử lý chất thải không đáp ứng các yêu cầu bảo
vệ môi trƣờng.
- Giảm bớt và loại trừ ô nhiễm môi trƣờng là biểu hiện tăng cƣờng tái sản xuất xã hội, quan hệ con ngƣời – môi trƣờng và đồng thời nâng cao các điều kiện sống và lao động cho nhân dân.
Để biến các mục tiêu và nguyên tắc quy hoạch trên thành các hành động của con ngƣời trong thực tế, cần phải có các điều chỉnh và cụ thể hóa theo vùng, có sự tổ chức tổng hợp theo hƣớng nhiệm vụ của quá trình quy hoạch và vận dụng đa dạng các công cụ quy hoạch. Việc làm đó có tính quyết định, vì quy hoạch môi trƣờng lúc đầu chỉ đƣợc tiến hành trong phạm vi nhiệm vụ và trách nhiệm của các ngành, các cấp riêng rẽ, tách biệt nhau. Do đó, cần phải có các điều chỉnh luật hay bổ sung luật và các hình thức tổ chức hỗ trợ, chẳng hạn nhƣ ban hành luật văn hóa môi trƣờng… Luật văn hóa môi trƣờng cung cấp cho các cơ quan Nhà nƣớc và kinh tế, các cơ sở sản xuất và ngƣời dân các chuẩn mực hành động. Trong các luật và quy trình quy hoạch không gian, có phần đề cập đến quy hoạch bảo vệ môi trƣờng. Trong quy trình xét duyệt địa điểm và cấp phép đầu tƣ, xây dựng cũng có phần xem xét và đánh giá ảnh hƣởng của các hoạt động đến môi trƣờng.
Trong quá trình quy hoạch, kiến tạo và bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên, quy hoạch lãnh thổ có trách nhiệm dự thảo, điều phối và phân tích tổng hợp trên cơ sở các công cụ quy hoạch và điều phối tổng hợp. Các công cụ quy hoạch và điều phối đó gồm có:
- Hƣớng chỉ đạo cho vùng do phân bố địa điểm các lực lƣợng sản xuất toàn quốc. - Các chƣơng trình cải tạo tổng hợp và dài hạn. - Phần bản vẽ quy hoạch bảo vệ môi trƣờng trong các kế hoạch trung hạn của các
ngành, các liên hợp sản xuất và của vùng.
- Cân đối tài nguyên dự trữ của vùng. - Các giới hạn ô nhiễm nƣớc, không khí, tiếng ồn và quy chuẩn cho công nghệ sản
phẩm.
- Các chƣơng trình hợp lý hóa lãnh thổ. - Xét duyệt cấp phép địa điểm và xây dựng. - Các quy định của đô thị và nông thôn (xã). - Các điều chỉnh có tính pháp lý (thƣởng, phạt, thuế, đền bù). Mục đích chính và cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và quy hoạch môi trƣờng thiên nhiên nói riêng là bảo đảm tối ƣu trên
137
toàn bộ bề mặt của vùng, sự tái sản xuất xã hội của tất cả các lĩnh vực, các ngành trong vùng, thông qua hợp lý hóa sử dụng đất đai.
Trong vấn đề này, nhiệm vụ và biện pháp thực hiện của quy hoạch tập trung vào
các lĩnh vực:
- Liên hợp các đầu tƣ, nhất là các tổ hợp đầu tƣ trong vùng và lãnh thổ. - Hợp lý hóa vùng và lãnh thổ cải tạo các khu xây dựng cũ nát. - Sử dụng đất đai nhiều tầng, nhiều mục đích. - Phân cấp chất lƣợng sử dụng đất trong vùng. - Tối ƣu hóa quy mô của các công trình cung cấp dịch vụ cho nhân dân trong vùng. - Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đƣa vào sử dụng các công nghệ tiết kiệm đất đai, các hình thức tổ chức để nâng cao hiệu suất của đất hoặc giảm cƣờng độ sử dụng.
Các công cụ quan trọng để quy hoạch sử dụng đất đai là: - Định hƣớng bố trí các ngành, các lĩnh vực ở trong vùng, trong các đô thị và điểm dân cƣ nông thôn trên cơ sở các dự thảo phân bố địa điểm lực lƣợng sản xuất của quốc gia và vùng.
- Các phƣơng án sử dụng đất của các tỉnh, các huyện. - Các kiến nghị quy hoạch sử dụng đất đai dài hạn trong vùng, đặc biệt trong các
đô thị lớn và trung bình.
- Quy hoạch đồng ruộng và đất đai canh tác. - Các chỉ tiêu và tiêu chuẩn sử dụng đất. - Các tài liệu về thiết bị không gian thiên nhiên (các bản đồ về khí hậu, đất đai, bề
mặt, nguồn nƣớc, tài nguyên khoáng sản…).
- Các tài liệu về quy trình xét duyệt địa điểm. - Cân đối sử dụng đất đai theo các mục đích, chức năng… Cùng tham gia và chịu trách nhiệm trong quy hoạch môi trƣờng thiên nhiên có nhiều ngành, nhiều cấp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng nhƣ luyện kim, xây dựng, y tế, cơ khí chế tạo, giao thông… và ngƣời dân. Chủ thể chính vẫn là Chính phủ, Bộ Kế hoạch và đầu tƣ, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân và các ban ngành tƣơng ứng ở địa phƣơng. Nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nƣớc và địa phƣơng tập trung và các tổ hợp vấn đề sau:
- Quy hoạch sử dụng và tái tạo các tiềm năng thiên nhiên. - Quy hoạch sử dụng và tái tạo các tài nguyên dự trữ thiên nhiên. - Quy hoạch phát triển và bảo vệ sự tái tạo khả năng hoạt động của môi trƣờng
thiên nhiên.
4.5.5. Bảo vệ môi trường
Để đảm bảo sự phát triển thống nhất, hài hòa và cân bằng giữa các tiểu vùng và trong vùng, cần phải thực hiện quy hoạch ở tất cả các bộ phận, các lĩnh vực theo quan điểm bảo vệ môi trƣờng sinh thái một cách toàn diện và nghiêm ngặt. Để đạt đƣợc các mục tiêu bảo vệ môi trƣờng, quy hoạch tổng thể lãnh thổ cần phải bảo đảm các yêu cầu sau:
138
- Tổ chức tốt và hợp lý môi sinh và bảo vệ môi trƣờng sống, môi trƣờng thiên
nhiên, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe cho con ngƣời.
- Tạo lập, duy trì cân bằng sinh thái môi trƣờng để phát triển ổn định và bền vững
quá trình trao đổi chất giữa con ngƣời và thiên nhiên.
- Duy trì, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan để đáp ứng nhu cầu du lịch và nghỉ dƣỡng của mọi ngƣời trong và ngoài vùng. Tạo sự hài hòa giữa thiên nhiên môi trƣờng và không gian vật thể xây dựng, sắc thái riêng của từng vùng.
- Đáp ứng những yêu cầu về an toàn, phòng hộ và vệ sinh môi trƣờng. - Đáp ứng những yêu cầu của hiệu quả kinh tế sử dụng. Những yêu cầu trên cần phải đƣợc đề cập nghiên cứu và đề xuất giải pháp quy hoạch trong mọi lĩnh vực, mọi nội dung của quy hoạch lãnh thổ (phân bố sản xuất, dân cƣ, hạ tầng cơ sở kỹ thuật, cảnh quan…) cũng nhƣ trong mọi cấp của quy hoạch lãnh thổ (toàn vùng, tiểu vùng).
Trái đất là nơi tồn tại sự sống của loài ngƣời, bảo vệ môi trƣờng sống trên trái đất sẽ tạo ra sự phát triển lâu bền của xã hội loài ngƣời và đảm bảo cho con ngƣời sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách vô tận.
Nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường gồm: phân định ranh giới vùng cần
đƣợc bảo vệ và đề xuất hệ thống các giải pháp bảo vệ chúng. a. Phân định rõ lãnh thổ cần được bảo vệ
Từ hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, khoanh định các vùng cần đƣợc bảo vệ khỏi sự xâm phạm của con ngƣời, sự sử dụng bất hợp lý, sự ô nhiễm, những tác động xấu của tình trạng thiếu tri thức, thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật của con ngƣời, sự tàn phá của các hiện tƣợng tự nhiên.
Các vùng cần bảo vệ đƣợc phân loại nhƣ sau: - Vùng bảo tồn quốc gia: rừng nguyên sinh quốc gia, công viên quốc gia, cảnh quan thiên nhiên đẹp, danh lam thắng cảnh, di sản thế giới, di tích lịch sử, nơi điều dƣỡng, nghỉ mát.
- Vùng rừng núi đầu nguồn - Vùng nƣớc thiên nhiên và nhân tạo - Vùng rừng núi - Vùng ven biển - Các hệ thống nông nghiệp
b. Giải pháp bảo vệ rừng, khai thác rừng hợp lý và trồng rừng phòng hộ
Rừng có vai trò quan trọng với sự sống còn của con ngƣời, cung cấp gỗ, lâm sản, điều hòa chế độ không khí của vùng, cung cấp nguồn nƣớc trong vùng, bảo vệ khu vực hạ lƣu, hạn chế tác hại của lũ lụt, ngăn chặn hiện tƣợng bồi lấp sông hồ và hệ thống tƣới tiêu, khôi phục lại độ phì của đất, hạn chế quá trình xói mòn đất. Do đó, bảo vệ rừng là biện pháp cơ bản để bảo vệ đất trong toàn lãnh thổ. Bảo vệ rừng bao gồm các nội dung sau: - Bảo về rừng đầu nguồn - Thực hiện chế độ khai thác rừng hợp lý đi đôi với tu bổ, cải tạo rừng. - Trồng rừng phòng hộ
139
c. Giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn
Xói mòn đất là một quá trình địa chất tự nhiên tách phá và chuyển dời các hạt đất
do các nhân tố xói mòn nhƣ nƣớc (mƣa và dòng chảy) và gió (sức gió và khô hạn)
Lƣợng đất xói mòn do nƣớc gây ra, thƣờng đƣợc gọi là phƣơng trình mất đất phổ
dụng có công thức sau: A = R.K.L.S.C.P
Trong đó: A - Lƣợng đất mất bình quân trong năm (tấn/ha/ năm); R - Yếu tố mƣa và dòng chảy; K - Hệ số bào mòn của đất (tấn/ha/ đơn vị chỉ số xói mòn); L - Yếu tố chiều dài của sƣờn dốc; S - Yếu tố độ dốc; C - Yếu tố che phủ và quản lý đất; P - Yếu tố hoạt động điều tiết chống xói mòn;
Thực tiễn ở Việt Nam có 3/4 là đồi núi, tỷ lệ đất dốc, chia cắt nhiều chiếm 48% diện tích. Lƣợng mƣa nhiều (2.000 mm), lại tập trung vào các tháng của mùa mƣa. Độ dốc trung bình trên 200 chiều dài dốc trung bình trên 200 m. Do đó, lƣợng đất mặt bị xói mòn lên tới 300 – 400 tấn/1ha mỗi năm.
Mục tiêu của bảo vệ đất chống xói mòn:
- Giảm khả năng tách rời các hạt đất trên mặt - Giảm bớt hay loại trừ dòng chảy trên mặt, ngăn không cho đất trôi - Giảm tốc độ dòng chảy và chuyển dòng chảy vào mƣơng rãnh
Hệ thống các biện pháp bảo vệ đất chống xói mòn bao gồm:
- Biện pháp công trình: thiết kế lô thửa, xây dựng hệ thống giao thông, thủy
- Biện pháp nông nghiệp: canh tác theo đƣờng đồng mức, cày bừa ngang dốc,
- Biện pháp thủy lợi: xây dựng hồ chứa nƣớc vừa và nhỏ - Biện pháp quản lý: xây dựng và thực hiện lịch sản xuất nông lâm nghiệp
lợi, xây dựng ruộng bậc thang hoàn chỉnh. bố trí thời vụ hợp lý làm đất, làm cỏ thích hợp, luân canh, xen vụ che phủ đất. - Biện pháp lâm nghiệp: tổ chức sản xuất nông lâm kết hợp (trồng cây thân gỗ ở đỉnh đồi, sƣờn và chân đồi trồng băng có xen kẽ), trồng cây rừng nơi hợp thủy, nơi có độ dốc lớn. thích hợp trong năm và trong mùa mƣa.
Cần phải phối hợp các biện pháp trên thì mới phát huy hết khả năng bảo vệ đất và
thâm canh lâu dài trên đất dốc. d. Giải pháp bảo vệ nguồn nước
Đất là môi trƣờng sinh sống của con ngƣời, song không có nƣớc thì không có sự sống. Nƣớc cần thiết cho mọi hoạt động sống của con ngƣời, cho sự tồn tại của mọi sinh vật.
Nội dung bảo vệ nguồn nƣớc bao gồm: - Bảo vệ nguồn sinh thủy, thông qua việc bảo vệ lớp phủ thực vật, bảo vệ rừng. - Dự trữ nƣớc và điều hòa dòng chảy, chống lũ lụt và hạn hán bằng các biện
pháp xây dựng hồ chứa nƣớc, hệ thống đê đập, kênh mƣơng.
- Chống ô nhiễm nguồn nƣớc bằng cách tách nƣớc thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt ra khỏi nguồn nƣớc sạch, xử lý nƣớc thải, giảm và làm mất tính độc của các chất độc hại trong nƣớc thải trƣớc khi sử dụng lại. e. Giải pháp bảo vệ nguồn không khí
140
Không khí là yếu tố không thể thiếu đƣợc trong sự sống của sinh vật. Sức khỏe của con ngƣời, sản lƣợng sinh vật phụ thuộc trƣớc hết vào chất lƣợng môi trƣờng không khí.
Trong các quá trình sản xuất khác nhau nhƣ nhiệt điện, công nghiệp hóa chất, giao thông vận tải… hoặc từ sinh hoạt của con ngƣời đã tạo ra các chất thải gây ô nhiễm không khí, có thể phân thành hai loại:
- Những chất ô nhiễm sơ cấp: bao gồm những chất trực tiếp thoát ra từ các nguồn
và tự chúng đã có tính chất độc hại nhƣ CO, CO2, SO2, H2S.
- Những chất gây ô nhiễm thứ cấp: bao gồm những chất đƣợc tạo ra trong khí quyển, do tƣơng tác hóa học giữa các chất gây ô nhiễm sơ cấp và các chất vốn là thành phần của khí quyển nhƣ H2SO4, NO2 (nito dioxyt).
Để đảm bảo sự trong sạch của nguồn không khí, trƣớc hết là không khí của các
điểm dân cƣ, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp sau:
- Chỉ đƣợc phép bố trí những xí nghiệp trực tiếp phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong khu dân cƣ, còn những trung tâm nhiệt điện nhất thiết phải xây dựng ở ngoài khu dân cƣ với khoảng cách ly an toàn cần thiết.
- Sử dụng điện năng rộng rãi trong công nghiệp cũng nhƣ trong giao thông vận tải. - Trong các xí nghiệp, thiết kế và xây lắp các thiết bị làm sạch và xử lý các chất
khí thải
- Tạo ra các khu vực cây xanh rộng lớn trong các điểm dân cƣ thành phố, thị trấn
và ngoại ô, cũng nhƣ xây dựng các đai rừng phòng hộ trên đồng ruộng. f. Giải pháp phục hồi đất bị phá hủy
Trong quá trình địa chất tự nhiên, đất bị phá hủy bởi sự trƣợt lở, lũ lụt, rửa trôi bào mòn hoặc do sự tác động của con ngƣời nhƣ khai phá đất bừa bãi ở đầu nguồn, ở nơi quá dốc, địa điểm của công trình xây dựng, kiến trúc cũ, các tuyến đƣờng giao thông không còn sử dụng.
Phục hồi đất bị phá hủy bao gồm các biện pháp sau: - Biện pháp kỹ thuật: dọn chất thải, đất đá và các vật liệu tàn dƣ của các công trình, san phẳng, phủ đất mặt và trong trƣờng hợp cần thiết phải xử lý các chất độc hóa học và làm vệ sinh môi trƣờng.
- Biện pháp sinh học: trồng cây cải tạo đất với các hệ thống cây trồng thích hợp
của từng thời kỳ, đồng thời kết hợp bón phân và thực hiện chế độ canh tác hợp lý. 4.5.6. Quy hoạch cảnh quan
Là một bộ phận của quy hoạch vùng lãnh thổ, các nội dung quy hoạch cảnh quan cần phải đƣợc đề cập giải quyết và thực hiện trong các bản vẽ của đồ án quy hoạch vùng và có tính nguyên tắc để thực hiện. Quy hoạch cảnh quan đƣợc đề cập nghiên cứu và giải quyết ở 3 cấp (sơ đồ 2.4). a. Cấp quốc gia/liên vùng
Ở cấp này là các chƣơng trình cảnh quan phù hợp các chuyên ngành quy hoạch của quốc gia. Chúng chứa đựng các mục tiêu của quy hoạch cảnh quan toàn lãnh thổ quốc gia. Các chƣơng trình này cũng chứa đựng các mục tiêu nhánh có liên quan đến cảnh quan là nƣớc, đất đai, không khí, rừng, cũng nhƣ các đề nghị cho các vùng của quốc gia. Cơ sở
141
của soạn thảo các chƣơng trình cảnh quan này là sự phân tích đánh giá các thành tố quan trọng nhất của cảnh quan. Các chƣơng trình cảnh quan là cơ sở pháp lý cho các quy hoạch khung cảnh quan của các vùng. b. Cấp vùng
Là các quy hoạch khung cảnh quan, những bộ phận của các quy hoạch vùng, là cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý quy hoạch và các ngành liên quan thực hiện đồng thời là cơ sở cho cấp dƣới (cấp điểm dân cƣ) triển khai các quy hoạch, cảnh quan cụ thể. c. Cấp điểm dân cư
Ở cấp điểm dân cƣ (chủ yếu là đô thị) và là cấp cuối cùng của quy hoạch cảnh
quan cụ thể, phân biệt ở hai dạng:
- Quy hoạch cảnh quan ở dạng quy hoạch sử dụng đất - Quy hoạch cảnh quan ở dạng quy hoạch tổng mặt bằng Dạng quy hoạch thứ hai cũng còn gọi là quy hoạch cây xanh và có giá trị pháp lý
để mọi ngƣời thực hiện.
Các mục tiêu của quy hoạch khung cảnh quan định hƣớng theo nguyên tắc bảo vệ và giữ gìn thiên nhiên cảnh quan trong các luật bảo vệ thiên nhiên của mỗi quốc gia, và đƣợc cụ thể hóa, chi tiết hóa cho phù hợp với điều kiện của từng vùng.
Bên cạnh các mục tiêu truyền thống của bảo vệ thiên nhiên là bảo vệ động, thực vật quý hiếm, quy hoạch cảnh quan vùng còn phải đóng góp vào phát triển cảnh quan tùy theo mức độ tổng hợp và vấn đề đƣợc đề cập của quy hoạch cảnh quan trong quy hoạch vùng và quy hoạch tổng mặt bằng. Quy hoạch cảnh quan đề cập đến những vấn đề, những cơ sở thiên nhiên và mọi lĩnh vực khác cần phải để tâm nghiên cứu và giải quyết, và chỉ khi nào lƣu ý đến các lĩnh vực sinh thái, quy hoạch cảnh quan vùng mới đề xuất đƣợc các yêu cầu đòi hỏi tổng hợp để giải quyết thỏa đáng và toàn diện mối quan hệ giữa con ngƣời với môi trƣờng. Mọi lĩnh vực cuộc sống và môi trƣờng của chúng ta là một hệ thống liên kết mạng, sự thay đổi của một lĩnh vực sẽ ảnh hƣởng đến các lĩnh vực khác. Luật Bảo vệ thiên nhiên và các quy định để thực hiện luật đó xác định cấu trúc cụ thể của quy hoạch khung môi trƣờng cảnh quan bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
- Các địa khu cây xanh: Đó là các dải, mảng xanh lớn và là một bộ phận đặc biệt của quy hoạch xây dựng vùng. Nó bao gồm các không gian trống giữa các điểm dân cƣ. Quy hoạch cần phải nghiên cứu trên cơ sở của các yêu cầu sinh thái và thẩm mỹ, môi trƣờng. Ngoài ra, các địa khu cây xanh này còn phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi ngắn và vừa trong vùng.
- Giới hạn phát triển của điểm dân cư: Các điểm dân cƣ gần cận với các khu rừng quốc gia, các danh lam thắng cảnh… thì việc mở rộng các điểm dân cƣ làm tổn hại đến cảnh quan đều phải ngăn chặn. Do đó, cần thiết phải xác định giới hạn mở rộng các điểm dân cƣ.
- Khoanh vùng xác định các địa khu cảnh quan bị hủy hoại: Mục đích để xác định và phân loại các địa khu cảnh quan đã và đang bị xâm phạm, hủy hoại theo mức độ cấp bách cần cứu vãn để tái lập hoặc loại trừ các tác động gây hại nhƣ thải phế thải, đào bới, khai thác, xây dựng trái phép, khai thác không có tái sinh…
142
Quy hoạch phát triển
Quốc gia
cảnh quan
Các chƣơng trình
cảnh quan
Các chƣơng trình
Vùng
cảnh quan
Quy hoạch không gian vùng
Tiếp nhận
Quy hoạch cảnh quan cấp QHSDĐ
Điểm dân cƣ
Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ)
Tiếp nhận
Quy hoạch mặt bằng
Quy hoạch cảnh quan cấp QHTT
tổng thể (QHTT)
Tiếp nhận
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ nhất thể hóa của quy hoạch cảnh quan trong quy hoạch vùng
lãnh thổ
- Quy hoạch các địa khu bảo tồn thiên nhiên: Trong quy hoạch tổng thể lãnh thổ, cần phải chỉ dẫn và khoanh vùng các địa khu bảo tồn thiên nhiên, còn việc xác định và đánh giá, quyết định là nhiệm vụ của các cơ quan bảo tồn thiên nhiên cấp cao (Bộ Văn hóa, Bộ Tài nguyên & Môi trƣờng…) nhƣng cũng phải lƣu ý đến các mục tiêu của quy hoạch lãnh thổ. Nhiệm vụ của các địa khu bảo tồn thiên nhiên là:
+ Bảo tồn và duy trì môi trƣờng sống của động, thực vật thiên nhiên hoang dã
143
+ Bảo tồn thiên nhiên trên các lĩnh vực khoa học, lịch sử, địa chất và văn hóa cảnh
quan
+ Bảo tồn thiên nhiên về phƣơng diện quý hiếm và độc đáo - Quy hoạch các địa khu bảo tồn cảnh quan: Nhiệm vụ của quy hoạch cảnh quan vùng là: + Giữ gìn hoặc tái tạo các điều kiện sinh thái, tiềm năng của thiên nhiên hoặc khả
năng sử dụng các tài sản của thiên nhiên.
+ Giữ gìn cảnh sắc đa dạng của thiên nhiên + Giữ gìn cảnh quan phục vụ cho nhu cầu nghỉ dƣỡng - Quy hoạch các địa khu có ý nghĩa điều hòa vi khí hậu: Bao gồm các địa khu có địa hình cao, tạo ra không khí lạnh mát. Trên các địa khu này, nên hạn chế cƣ trú để khỏi ảnh hƣởng cản trở đến chu trình tạo khí mát. Tiếp theo là các khu vực thung lũng để tạo ra luồng gió luân chuyển.
Ngoài ra, trong quy hoạch khung cảnh quan của vùng lãnh thổ, có thể tổng hợp
sinh động vật trong toàn vùng, trong các địa khu tạo thành các hệ sinh thái.
4.6. Quy hoạch sử dụng đất
Theo Luật đất đai năm 2003, việc lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất phải đảm
bảo các nguyên tắc sau đây:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với chiến lƣợc quy hoạch tổng
thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất
của cấp dƣới.
- Phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. - Phải đảm bảo khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng. - Phải bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh. - Bảo đảm nguyên tắc dân chủ và công khai. Các căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003 gồm: - Công trình chiến lƣợc, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quốc phòng,
an ninh của cả nƣớc, quy hoạch phát triển của các ngành và địa phƣơng.
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc. - Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhu cầu của thị trƣờng. - Tình hình hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng. - Định mức sử dụng đất. - Tình hình tiến bộ khoa học công nghệ có liên quan đến sử dụng đất. - Kết quả thực hiện quy hoạch đất của kỳ trƣớc. Theo Luật Đất đai 2003, quy hoạch sử dụng đất gồm những trình tự, nội dung chủ
yếu sau:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai.
- Xác định phƣơng hƣớng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch.
144
- Xác định diện tích các loại đất phân bố cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội,
quốc phòng, an ninh.
- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình dự án. - Xác định các biện pháp sử dụng đất, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trƣờng. - Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Nhƣ vậy, cơ cấu đất đai xác định phụ thuộc vào các yếu tố chính là: - Cơ cấu kinh tế của vùng - Hiện trạng sử dụng đất - Yêu cầu về đất của các ngành - Điều kiện chuyển canh cải tạo đất - Quy định của Luật đất đai - Quan hệ khai thác sử dụng đất với bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất và
bảo vệ tài nguyên môi trƣờng.
Xác định cơ cấu đất đai nhằm giải quyết các vấn đề sau: - Phân bố đất cho các ngành và ngƣời sử dụng đất (diện tích và ranh giới phải
đƣợc xác định rõ ràng).
- Xác định cơ cấu sử dụng đất trong các ngành và ngƣời sử dụng đất (các loại
đất theo mục đích sử dụng).
- Xác định khả năng khai thác sử dụng đất (mô hình hóa các hình thức sử dụng
đất).
Trong phát triển và xây dựng vùng lãnh thổ, nội dung chủ yếu của quy hoạch sử
dụng đất tập trung vào sự phân định các loại đất xây dựng và đất không xây dựng.
4.6.1. Quy hoạch đất xây dựng
- Chất lƣợng đất xây dựng - Quy mô diện tích đất - Các vấn đề có liên quan pháp lý (sở hữu đất, quyền sử dụng đất, di chuyển,
Quy hoạch đất đai cho xây dựng và mở rộng của các điểm dân cƣ là phƣơng tiện có hiệu quả hình thành cơ cấu không gian của vùng. Các khu đất phát triển trong tƣơng lai nằm trong định hƣớng phát triển của điểm dân cƣ hoặc khu đất mới ở nằm ngoài điểm dân cƣ. Khi chọn đất để xây dựng cần chú ý: đền bù…) có ảnh hƣởng đến điểm dân cƣ.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, khi lựa chọn chất lƣợng đất
xây dựng cần lƣu ý các điều kiện có tính nguyên tắc sau:
- Nằm trong mô hình định hƣớng phát triển không gian của điểm dân cƣ. - Phù hợp với các mục tiêu quy hoạch xây dựng điểm dân cƣ, nhất là các đô thị và các điểm trung tâm vùng. Phải hài hòa với cảnh quan và phù hợp nhất quán với cơ cấu không gian xây dựng hiện có hay tƣơng lai của điểm dân cƣ.
- Thuận lợi để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật với kinh phí thấp, nhất là nối liền với
hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, cấp nƣớc và thoát nƣớc, cấp năng lƣợng.
- Có môi trƣờng thiên nhiên, cảnh quan và môi trƣờng sống đẹp, hấp dẫn và
trong lành, không bị ô nhiễm.
145
- Không nên chọn các địa khu có mục tiêu khai thác và sử dụng ƣu tiên khác
(phòng hộ, canh tác, khai thác mỏ, chứa nƣớc, dự trữ nƣớc ngầm…)
Xác định quy mô diện tích đất xây dựng cho tƣơng lai theo nhu cầu có thể tiến
hành theo 2 cách:
- Theo nhu cầu diện tích ở và đất ở, đất dành cho sản xuất, xây dựng hạ tầng cơ sở,
cây xanh… để tính toán tổng số đất cần cho xây dựng (mô hình nhu cầu).
- Theo điều kiện tự nhiên hiện có, thông qua đánh giá chất lƣợng đất cho xây dựng
trong mỗi điểm dân cƣ rồi tổng hợp trong toàn vùng (mô hình cung ứng).
Cho đến nay, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thƣờng sử dụng mô hình thứ nhất là xác định đất xây dựng cho tƣơng lai theo nhu cầu phát triển (đất ở, sản xuất, hạ tầng, cây xanh…), bao gồm:
- Nhu cầu thay thế: các địa khu nhà ở cần phá bỏ để thay thế bằng xây nhà ở
mới vì chất lƣợng ở và môi trƣờng ở hiện có không đáp ứng sử dụng hoặc quá cũ nát.
- Nhu cầu mở rộng, nâng cấp: các địa khu có nhà ở, diện tích ở/đầu ngƣời quá
thấp, chất lƣợng ở thấp có thể cải tạo, nâng cấp và dãn dân.
- Nhu cầu xây dựng mới: các địa khu để xây dựng mới dành cho ngƣời nhập cƣ,
tăng dân tự nhiên.
- Nhu cầu cao: các địa khu để xây dựng nhà ở cuối tuần, nhà vƣờn, nhà thứ hai. Nhu cầu đất xây dựng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhƣ địa hình, thiên nhiên, khí hậu và đặc biệt là chỉ tiêu diện tích ở/ngƣời dân. Hiện nay, ở các nƣớc công nghiệp phát triển, diện tích ở/ngƣời khoảng 30 m2, mật độ cƣ trú ở vùng công nghiệp đô thị 45 ngƣời/ha, ở vùng nông nghiệp 30 ngƣời/ha.
Các vấn đề pháp lý trong quy hoạch đất xây dựng cần có sự kết hợp giữa Nhà nƣớc, địa phƣơng và cá nhân trong quá trình quy hoạch, xác định vị trí quy mô đất, đền bù, chuẩn bị mặt bằng xây dựng, trong đó địa phƣơng có vị trí quan trọng hơn cả.
4.6.2. Quy hoạch đất không xây dựng
Đó là đất dành cho các chức năng khác nhƣ đất nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác tài nguyên khoáng sản, thủy lợi, du lịch, nghỉ dƣỡng… Trong các loại đất này, bên cạnh loại hình sử dụng ƣu tiên (chính) có thể kết hợp một số loại hình sử dụng khác. Ví dụ: đất lâm nghiệp có thể kết hợp chức năng nghỉ dƣỡng – du lịch, đất cây xanh có thể kết hợp sử dụng chức năng nông nghiệp… sao cho các mục đích sử dụng phụ không mâu thuẫn với sử dụng chính. Cũng có thể có các khu vực đất vừa dành cho sản xuất nông nghiệp và khai thác khoáng sản. Khai thác khoáng sản xong, đất có thể cải tạo cho sản xuất nông nghiệp hay lâm nghiệp (sử dụng nhiều tầng). a. Đất cây xanh
Đất cây xanh của vùng bao gồm các dải, mảng cây xanh mà trên các địa khu này
không xây dựng nhà ở, công trình cho cƣ trú. Đất cây xanh của vùng tạo điều kiện:
- Bố cục tạo lập cảnh quan vùng, nhất là ở các vùng dân cƣ tập trung đông đúc. - Thỏa mãn những nhu cầu nghĩ dƣỡng, thƣ giãn của dân cƣ. - Duy trì cân bằng sinh thái.
146
Việc quy hoạch đất cây xanh cho các vùng đô thị lớn, các vùng công nghiệp cƣ trú đông đúc đặc biệt cần thiết vì ở các địa khu này, 3 nhu cầu trên đều là quan trọng, có khi cấp bách. Đất cây xanh của vùng không nên chia thành các mảng nhỏ tách rời nhau, mà tạo thành dải hoặc kết hợp dải và mảng liên hoàn hài hòa với địa hình sông núi, đƣờng giao thông. Chiều rộng của dải cây xanh, từ các lý do tạo cảnh vùng, ngăn gió bão, không dƣới 500 m.
Hiện nay, trong các đồ án quy hoạch xây dựng vùng, đất cây xanh của vùng đƣợc
nghiên cứu và thể hiện theo chức năng nhiệm vụ của từng địa khu nhƣ:
- Khu vực bảo vệ thiên nhiên - Khu bảo vệ cảnh quan, bảo tồn di tích - Khu du lịch, nghỉ dƣỡng - Khu vực phòng hộ… b. Đất khai thác mỏ, khoáng sản
Các địa khu đất đai có tài nguyên khoáng sản dƣới lòng đất thuộc loại đất đai không xây dựng. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, cần phải tuân thủ và có biện pháp bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác. Có 2 hình thức khai thác:
- Khoáng sản nằm sâu dƣới lòng đất thì khai thác theo kiểu hầm lò (than, quặng
sắt…).
- Khoáng sản nằm cao sát mặt đất thì khai thác theo hình thức lộ thiên.
Loại thứ nhất cần các biện pháp bảo vệ và khai thác theo nguyên tắc của hầm lò. Còn loại thứ hai đòi hỏi phải có giải pháp quy hoạch và biện pháp bảo vệ trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
Tài nguyên, khoáng sản không thể khai thác đƣợc nếu trên mặt đất có xây dựng nhà ở, công trình. Có những trƣờng hợp để khai thác khoáng sản, đã phải dời toàn bộ điểm dân cƣ đi nơi khác. Ví dụ: trƣờng hợp tài nguyên khoáng sản quý hiếm, có giá trị trƣớc mắt mà không thể thay thế đƣợc. Còn đối với khai thác cát, sỏi, đất sét, đá… thì việc phá bỏ điểm dân cƣ là không cần thiết và không đƣợc thực hiện trong thực tiễn.
Giá trị của tài nguyên, khoáng sản cũng luôn thay đổi, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên khai thác thế giới, vào sự phát triển công nghiệp thay thế. Có thể có nguồn tài nguyên khoáng sản bây giờ chƣa có giá trị, nhƣng trong tƣơng lai lại có ý nghĩa lớn và ngƣợc lại. Tài nguyên khoáng sản cần phải đƣợc bảo vệ và tạo điều kiện khai thác đến một thời điểm nào đó mà giá trị kinh tế của nó không còn nữa (lợi nhuận/hiệu quả).
Cũng tƣơng tự nhƣ vậy, nguồn nƣớc, đất đai, không khí cũng cần phải đƣợc bảo vệ và đã có các luật định bảo vệ và khai thác. Song, đối với tài nguyên khoáng sản thì chƣa có luật lệ nào ban hành, nên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là biện pháp bảo vệ duy nhất hiện nay thông qua quy hoạch sử dụng đất nhƣng không có hiệu lực cho khai thác. Chức trách chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội chỉ là chỉ dẫn nhƣ ở đây có tài nguyên khoáng sản cần phải bảo vệ để khai thác, mọi việc làm, kể cả quy hoạch và xây dựng cho mục đích khác, cản trở đến khai thác sử dụng tài nguyên đều không đƣợc phép. Đồng thời, phải xem xét khi khai thác các tài nguyên khoáng sản đó sẽ ảnh hƣởng gì đến sử dụng đất đai và dân cƣ lân cận… Do đó, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cần phải thu thập, tổng hợp và dựa trên cơ sở đánh giá các
147
tài nguyên khoáng sản để có biện pháp quy hoạch hợp lý, sử dụng đất có hiệu quả (sử dụng nhiều tầng, sử dụng tạm thời…) và hết sức tiết kiệm tài nguyên khoáng sản. Đồng thời, cũng đề xuất giải pháp tái sử dụng đất đai sau khai thác (thủy lợi, trồng rừng, nông nghiệp, du lịch). c. Đất nông nghiệp
Đất đai cho canh tác và sản xuất nông nghiệp cần phải đƣợc tính toán trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và phải đƣợc bảo vệ, nhất là hiện nay vấn đề xây dựng, xâm lấn đất nông nghiệp đang có xu hƣớng gia tăng. Đặc biệt trong các vùng đô thị lớn, tập trung đông đúc dân cƣ và sản xuất công nghiệp, dẫn đến đất canh tác cho nông nghiệp đang bị thu hẹp dần.
Duy trì và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp xuất phát từ các lý do sau: - Bảo đảm nhu cầu lƣơng thực – thực phẩm của vùng, của quốc gia, và cũng là
mặt hàng xuất khẩu.
- Duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp, của các nhà máy xí nghiệp có liên
quan đến sản xuất nông nghiệp.
- Bảo vệ cảnh quan môi trƣờng. Điều cần thiết trong quy hoạch đất nông nghiệp là phân loại, khoanh vùng các loại đất nông nghiệp theo năng suất canh tác. Những vùng đất tốt, cho năng suất cao nhất thiết phải đƣợc bảo vệ và giữ gìn trƣớc sự xâm lấn của các loại sử dụng khác. Mặc dù năng suất lƣơng thực và lao động trong sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng, nhân lực lao động nông nghiệp ngày càng giảm do ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, lƣơng thực thực phẩm có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời, hoặc có thể thừa trong tƣơng lai xác định, nhƣng đất nông nghiệp vẫn phải nhìn nhận là một loại tài nguyên cần phải đƣợc bảo vệ và duy trì. d. Đất thủy lợi/dự trữ nguồn nước
Nhu cầu sử dụng nƣớc trong sản xuất và sinh hoạt ngày càng lớn, đồng thời nạn ô nhiễm nƣớc mặt và nƣớc ngầm cũng ngày càng tăng do không kiểm soát và xử lý triệt để. Mực nƣớc ngầm ngày càng hạ thấp do triệt hạ rừng, diện tích cây xanh thu hẹp, nƣớc thải, nƣớc mƣa đƣợc thu vào các hệ thống cống, kênh, bằng bê tông.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, cần phải xác định những khu vực đất đai thích hợp với dự trữ nƣớc ngầm, nƣớc mặt và trong các vùng ấy, dự trữ và bảo vệ nguồn nƣớc có ý nghĩa hàng đầu. Đó là các vùng do cấu tạo nền đất và địa chất, khả năng lƣợng nƣớc mƣa… có dự trữ nƣớc ngầm lớn và đáp ứng các yêu cầu, điều kiện của thủy sinh học.
Tại các vùng dự trữ nguồn nƣớc, loại hình sử dụng đất cho mục đích khác (sử dụng phụ) có hạn chế hoặc không cho phép. Có thể kết hợp sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, nhƣng sản xuất nông nghiệp (có sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu) và xây dựng nhà ở, các công trình sản xuất công nghiệp… thì không đƣợc, vì sẽ làm ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm. Các địa khu tích trữ bảo vệ nguồn nƣớc ngầm thƣờng có quy mô đất đai lớn, nên khi bố trí cƣ dân và sản xuất công nghiệp cần phải có biện pháp xử lý nƣớc thải sinh hoạt và sản xuất nghiêm ngặt. Những loại công trình công nghiệp có nƣớc thải độc hại, nhất thiết không đặt trong các địa khu này. Đồng thời, đối với nguồn nƣớc mặt, quy hoạch
148
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cần phải tuân thủ các quy định về cách ly, về bảo vệ nguồn nƣớc, đề xuất các mục tiêu và biện pháp bảo vệ thông qua các giải pháp quy hoạch, hạ thấp mức độ ô nhiễm của nƣớc mặt và các biện pháp nghiêm ngặt kiểm tra và xử lý vi phạm. e. Đất lâm nghiệp
Cũng nhƣ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đang bị thu hẹp dần bởi các mục đích xây dựng và sử dụng khác, nhất là ở các vùng tập trung đông dân cƣ và sản xuất công nghiệp. Vì vậy, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cần phải có giải pháp quy hoạch và biện pháp bảo vệ đất rừng.
Ngoài các chức năng của rừng nhƣ cung cấp gỗ, rừng còn có chức năng bảo vệ và đáp ứng nhu cầu nghỉ dƣỡng – du lịch. Để có thể xác định và quy hoạch hợp lý đất lâm nghiệp/đất rừng trong vùng, cần phải nghiên cứu kỹ chức năng và nhiệm vụ của từng địa khu và đó là nhiệm vụ của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Các nhiệm vụ này chỉ có thể đƣợc giải quyết có hiệu quả và có ý nghĩa, nếu con ngƣời nhận biết đƣợc tầm quan trọng chức năng phục vụ và nghỉ dƣỡng của rừng.
Không thể nhìn nhận và khai thác các lợi thế của rừng một cách riêng rẽ (ví dụ nhƣ khi khai thác gỗ của ngành lâm nghiệp) mà phải tổng hợp, toàn diện (khai thác gỗ/ điều hòa khí hậu/bảo vệ phòng hộ/ nghỉ dƣỡng…). Cách giải quyết hiệu quả nhất là phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành lâm nghiệp và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội để thống nhất và hài hòa mục tiêu, biện pháp quy hoạch, bảo vệ. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch đất rừng có nhiệm vụ xác định quy mô đất rừng, vị trí của rừng trong lãnh thổ vùng và đề xuất giải pháp giữ gìn và phát triển rừng. Ngành lâm nghiệp không những chỉ có nhiệm vụ khai thác gỗ mà còn thƣờng xuyên trồng cây, tu bổ cây rừng sao cho vừa hiệu quả kinh tế, lại vừa có cảnh quan đẹp và phong phú, đa dạng. f. Đất du lịch nghỉ dưỡng
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đất ƣu tiên dành cho du lịch
và nghỉ dƣỡng cần phải đƣợc xác định, bởi vì:
- Đất đai dành cho du lịch nghỉ dƣỡng không thể kết hợp giản đơn với các chức
năng sử dụng khác, mà phải có sự thống nhất về chức năng.
- Công cụ pháp lý bảo vệ các địa khu dành cho du lịch, nghỉ dƣỡng hầu nhƣ chƣa đƣợc ban hành hoặc chƣa chính thống. Quy hoạch là biện pháp đầu tiên bảo vệ các khu đất này.
- Trong tƣơng lai, ý nghĩa du lịch – nghỉ dƣỡng sẽ tăng lên. Do vậy, việc chuẩn bị cho quy hoạch và tổ chức không gian nhằm khai thác triệt để các điều kiện tự nhiên, cảnh quan để đáp ứng nhu cầu du lịch nghỉ dƣỡng hiện tại và tƣơng lai là một đòi hỏi cấp bách cần thiết.
Có 3 loại hình nghỉ dƣỡng: - Nghỉ dƣỡng hàng ngày (nghỉ ngắn) - Nghỉ dƣỡng cuối tuần (nghỉ vừa) - Nghỉ phép, nghỉ hè, nghỉ đông…(nghỉ dài)
149
Mỗi loại hình nghỉ dƣỡng đòi hỏi những điều kiện không gian và tổ chức nghỉ dƣỡng khác nhau. Nghỉ ngắn thƣờng đƣợc thực hiện trong các không gian nơi ở (công viên, cây xanh, vƣờn hoa…) đƣợc đề cập trong quy hoạch phát triển đô thị và các điểm dân cƣ nông thôn. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cũng hỗ trợ thông qua việc phân bố các khu đất cây xanh ven đô thị, ven điểm dân cƣ. Nghỉ vừa và nghỉ dài là đối tƣợng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Nghỉ vừa đƣợc thực hiện ở những địa khu có điều kiện nghỉ dƣỡng thuận lợi nhƣ hồ nƣớc, trung tâm giải trí, khu nhà nghỉ cuối tuần, nhà vƣờn… Nhà nghỉ cuối tuần và nhà vƣờn cũng phục vụ cho nhu cầu nghỉ dài (nghỉ phép, nghỉ hè, nghỉ đông…). Loại địa khu nghỉ này có xu hƣớng phát triển khi thời gian lao động giảm và thu nhập tăng, và sẽ là sức ép đối với cảnh quan môi trƣờng. Do đó, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phải xác định và quy hoạch thành hệ thống các nhà nghỉ này, để hạn chế công trình chia cắt manh mún, phân tán cảnh quan thiên nhiên và môi trƣờng, hoặc gây tổn hại đến địa khu có mục đích sử dụng khác.
Nhu cầu du lịch và nghỉ dài hạn phụ thuộc vào các điều kiện tƣ nhiên, hoặc nhân tạo. Nó giúp cho sự phát triển vùng, phát triển quốc gia, nó cũng trở thành một ngành kinh tế mạnh của một số nƣớc trên thế giới. Nhu cầu loại hình này chủ yếu là từ ngoài vùng và do đó khó khăn trong dự báo. Vì thế, trong quy hoạch du lịch của vùng cần dựa vào ý kiến đề xuất trong quy hoạch lãnh thổ hay quy hoạch vùng kinh tế lớn, vì trên bình diện các loại quy hoạch này mới có tầm bao quát, đánh giá rằng vùng nào có khả năng và điều kiện phát triển loại hình du lịch và nghỉ dƣỡng dài ngày.
Cơ sở để hoạch định các địa khu phát triển du lịch – nghỉ dài ngày là sự hấp dẫn của các điều kiện thiên nhiên (hồ tắm, bờ biển tắm, địa hình đẹp, cảnh quan phong phú, khí hậu thuận lợi… và sự phát triển của cơ sở hạ tầng). Đồng thời, cần hạn chế hoặc loại trừ việc đặt các loại hình sử dụng khác làm tổn hại đến tiềm năng du lịch nhƣ các cơ sở sản xuất công nghiệp độc hại, đƣờng giao thông bất hợp lý (quá rộng) sẽ cắt xé cảnh quan thiên nhiên… Mặt khác, hệ thống đƣờng đi bộ phải thuận lợi cho sử dụng, tiếp cận. Cảnh quan phải phong phú, đa dạng và đan xen chuyển hóa, tạo sự hấp dẫn. Trong các địa khu này, mục tiêu nghỉ dƣỡng du lịch phải là hàng đầu. Các loại mục tiêu sử dụng (nông nghiệp, lâm nghiệp) phải tuân thủ và thống nhất với mục tiêu sử dụng chính.
5. LUẬN CHỨNG CÁC CHƢƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN, CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ BƢỚC ĐI TỪNG GIAI ĐOẠN 5 NĂM 5.1. Xác định bƣớc đi theo giai đoạn 5 năm phát triển kinh tế - xã hội
- Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn 5 năm để xây dựng những nội
dung cụ thể cần làm trong giai đoạn đó.
- Tiềm năng về nguồn lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của địa phƣơng cũng là những căn cứ quan trọng để xây dựng bƣớc đi cụ thể. Bƣớc đi phải đƣợc xây dựng cho từng năm và từng ngành. Tuy nhiên, những mục tiêu, những kết quả của từng ngành, từng năm phải thống nhất với nhau và hội tụ thành mục tiêu của cả giai đoạn.
5.2. Xác định chƣơng trình và dự án đầu tƣ triển khai xây dựng theo từng giai đoạn
150
Căn cứ vào vị trí vai trò và sự ƣu tiên của từng ngành, từng lĩnh vực để xây dựng những chƣơng trình hành động để đạt đƣợc các nội dung của phƣơng án quy hoạch. Trong mỗi chƣơng trình, sẽ có nhiều dự án có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng đạt đƣợc mục tiêu của chƣơng trình, các dự án này đƣợc sắp xếp theo thứ tự ƣu tiên nhất định. Khi xác định chƣơng trình dự án ƣu tiên, cần thực hiện các nội dung sau:
- Xác định dự án, công trình ƣu tiên đầu tƣ (theo ngành và lĩnh vực, theo các
giai đoạn 5 năm).
- Xác định các khu vực lãnh thổ ƣu tiên đầu tƣ. - Các dự án, công trình, khu vực lãnh thổ ƣu tiên đầu tƣ cần đƣợc nghiên cứu
theo kiểu lập dự án tổng quan.
- Các dự án ƣu tiên đầu tƣ từ nguồn ngân sách Nhà nƣớc và huy động lao động
công ích của dân cƣ.
- Các dự án ƣu tiên đầu tƣ từ nguồn vốn vay tín dụng ƣu đãi (cả trong và ngoài
nƣớc).
- Các dự án đầu tƣ sẽ huy động từ các nguồn vốn khác (vốn doanh nghiệp, vốn
tƣ nhân, vốn FDI).
6. NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU QUY HOẠCH 6.1. Đề xuất các giải pháp về vốn
Nội dung chủ yếu đề xuất giải pháp về vốn gồm: - Dự báo nhu cầu và tính toán khả năng huy động các nguồn vốn. - Kiến nghị các giải pháp cần nghiên cứu, ban hành để thúc đẩy tạo vốn, thu hút vốn và cơ chế sử dụng vốn, các chính sách khuyến khích đầu tƣ để thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách.
- Đề xuất chính sách đầu tƣ của Nhà nƣớc. Yêu cầu của nghiên cứu giải pháp về đầu tƣ là phải dự báo nhu cầu về vốn. Từ đó, xác định các giải pháp huy động vốn đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng theo mục tiêu đặt ra. a. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư
Nhu cầu về vốn cho thời kỳ quy hoạch là nhu cầu đầu tƣ mới. Nhu cầu đầu tƣ mới này đƣợc tính bằng gia tăng GDP tăng thêm của thời kỳ quy hoạch trừ đi lƣợng gia tăng GDP do đầu tƣ từ trƣớc thời kỳ quy hoạch và do cơ chế chính sách mang lại nhân với ICOR. Cụ thể, theo công thức sau:
Nhu cầu vốn đầu tƣ: (Kn - 0) = (ΔGDPn – 0 – (A + B)) * ICOR Trong đó: - ΔGDP là giá trị tăng thêm của cả thời kỳ quy hoạch = Giá trị gia tăng (GDP)
năm dự báo – Giá trị gia tăng (GDP) năm gốc.
- n là năm dự báo tính toán (ví dụ năm 2010) - 0 là năm gốc tính toán (ví dụ năm 2005) - A là giá trị tăng thêm đƣợc tạo ra do đầu tƣ giai đoạn trƣớc mang lại. Chỉ số này là bao nhiêu phải thông qua điều tra. Qua thực tiễn dự báo về nhu cầu vốn ở một số địa
151
phƣơng cho thấy chỉ số này dao động khoảng 5 – 8% giá trị gia tăng của thời kỳ quy hoạch.
- B là giá trị tăng thêm do cơ chế chính sách của giai đoạn trƣớc vẫn còn phát huy tác dụng. Hoặc cơ chế chính sách mới sẽ ban hành nhƣ Luật doanh nghiệp, chủ trƣơng chuyển đổi cơ cấu, đồn điền đổi thửa mang lại. Qua thực tiễn dự báo về nhu cầu vốn ở một số địa phƣơng cho thấy, chỉ số này dao động khoảng 12-15% giá trị gia tăng của thòi kỳ quy hoạch.
- ICOR (Incremental Capital Output Ratio): Hệ số vốn đầu tƣ (vốn đầu tƣ cho 1 đơn vị gia tăng GDP). Hệ số ICOR chung và của từng ngành sẽ do Bộ Kế hoạch và đầu tƣ cung cấp. b. Xác định nguồn vốn đầu tư
Nghiên cứu xác định các nguồn vốn đầu tƣ phải tính toán và chú trọng tới các
nguồn vốn sau:
- Ngân sách Nhà nƣớc bao gồm cả ngân sách Trung ƣơng và ngân sách địa
phƣơng (thƣờng khoảng 70% cho xây dựng kết cấu hạ tầng và 30% cho sản xuất.
- Vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng, vốn huy động từ dân. Nguồn vốn này chủ
yếu là cho sản xuất.
- Vốn đóng góp bằng công lao động nghĩa vụ, công ích. Nguồn vốn này chủ yếu
cho đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Vốn đổi đất lấy cơ sở hạ tầng. - Vốn huy động từ bên ngoài có các nguồn sau: + Từ các địa phƣơng khác. + Vốn ODA chủ yếu dành cho xây dựng kết cấu hạ tầng và một phần nhỏ cho sản
xuất.
+ Vốn FDI chủ yếu là dành cho sản xuất và một phần nhỏ cho xây dựng kết cấu hạ
tầng.
Cách tính khả năng các nguồn vốn đầu tƣ dựa theo phƣơng pháp ngoại suy từ hiện trạng huy động vốn và đầu tƣ trong 10 năm qua, kết hợp dự báo cho thời kỳ quy hoạch, có tính đến các yếu tố đặc thù. Trên cơ sở đó, xác định xem các nguồn vốn nhƣ vốn trong nƣớc đáp ứng đƣợc bao nhiêu, kêu gọi đầu tƣ nƣớc ngoài bao nhiêu.
Đối với các vùng, khu vực khó khăn khi mà điều kiện về kết cấu hạ tầng chƣa phát triển, dẫn đến kém sự hấp dẫn đối với đầu tƣ nƣớc ngoài, thì trong phần giải pháp cần phải có khuyến cáo, đề nghị sự hỗ trợ của Nhà nƣớc và các địa phƣơng bên ngoài.
6.2. Đề xuất các giải pháp về đảm bảo nguồn nhân lực
Các giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực cần xác định dựa vào: - Căn cứ vào khối lƣợng công việc thể hiện bằng quy mô, tốc độ và cơ cấu của
nền kinh tế và của các ngành, các lĩnh vực.
- Căn cứ vào hệ thống định mức lao động của các ngành, các lĩnh vực. Tuy
nhiên, căn cứ này cũng phải dựa vào chất lƣợng lao động.
- Yêu cầu tăng năng suất lao động
152
- Thực trạng lao động và việc làm, từ đó xác định nhu cầu việc làm trong quy
hoạch.
- Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu trong lao động. - Những thông tin khác nhƣ chính sách về lao động.
6.3. Đề xuất các giải pháp về chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ mới
- Nghiên cứu đề xuất các chính sách khuyến khích đầu tƣ công nghệ mới và
chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
- Các giải pháp về ứng dụng khoa học và công nghệ cụ thể trong từng ngành và
từng lĩnh vực.
6.4. Đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách điều hành vĩ mô
- Dựa vào chủ trƣơng đƣờng lối phát triển của Đảng và Nhà nƣớc để thực hiện các
nội dung của quy hoạch.
- Từng bƣớc xây dựng một cơ chế thuận lợi cho sự phát triển của địa phƣơng.
6.5. Đề xuất các giải pháp về điều hành và thực hiện quy hoạch
- Xác định vị trí, vai trò của vùng, các ngành, doanh nghiệp, cộng đồng đối với công việc thực hiện quy hoạch. Trên cơ sở các định hƣớng ngành, lĩnh vực then chốt đã đƣợc xác định trong quy hoạch, đề xuất những biện pháp, ban hành cơ chế chính sách cụ thể, thông báo lãnh thổ ƣu tiên để hấp dẫn các nhà đầu tƣ. Các giải pháp phải làm rõ các biện pháp cho từng ngành và lĩnh vực nhằm đảm bảo thực hiện phƣơng hƣớng phát triển của các ngành và lĩnh vực đó.
- Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, tổ chức quản lý chủ yếu nhằm thực hiện các
mục tiêu quy hoạch của các ngành và lĩnh vực.
- Xây dựng và vận dụng các cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù của địa
phƣơng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Giải pháp về cơ chế, chính sách vĩ mô và công tác điều hành phối hợp giữa
quy hoạch và kế hoạch.
153
CHƢƠNG IV GIỚI THIỆU QUY TRÌNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÃ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1. GIỚI THIỆU QUY TRÌNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
1.1. Quy trình quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn
Quy trình lập quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp nông thôn đã đƣợc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành theo Quyết định số 195/1998/QĐ- BNN-KHCN ngày 05/12/1998 dƣới dạng Tiêu chuẩn ngành số 10 TCN 345-98. Quy trình gồm có các nội dung sau:
Phần I: Quy định chung Quy trình quy định trình tự, nội dung lập quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp nông thôn cho các cấp lãnh thổ: cả nƣớc, vùng liên tỉnh, tỉnh, vùng liên huyện, huyện và các vùng có quy mô dƣới huyện nếu có nhu cầu.
Trong phần này cũng quy định mục tiêu, các chỉ tiêu, trình tự lập quy hoạch nông
nghiệp, nông thôn.
Phần II: Bước chuẩn bị Để lập quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp nông thôn, trƣớc hết cần xây dựng đề cƣơng chi tiết. Đề cƣơng phải đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tiếp theo, cần chuẩn bị kinh phí, vật tƣ, phƣơng tiện để thực hiện.
Bản đồ nền sử dụng trong quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp nông thôn
đƣợc quy định tỷ lệ nhƣ sau:
- Vùng có tổng diện tích tự nhiên từ 3.000 – 30.000 ha, tỷ lệ 1/25000 - Vùng có tổng diện tích tự nhiên từ 30.000 – 300.000 ha, tỷ lệ 1/50000 - Vùng có tổng diện tích tự nhiên từ 300.000 – 1000.000 ha, tỷ lệ 1/100000 - Vùng có tổng diện tích tự nhiên từ 1.000.000 – 10.000.000 ha, tỷ lệ 1/500000
đến 1/1000000
Trong công tác chuẩn bị cần điều tra thu thập các tài liệu, số liệu phục vụ cho việc
- Điều tra khảo sát thực địa để lựa chọn các vùng trọng tâm phát triển, làm rõ
nghiên cứu gồm các mảng thông tin nhƣ sau: - Điều tra, phân tích đánh giá các nguồn lực phát triển liên quan trực tiếp, gián tiếp đến ngành nhƣ điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề thị trƣờng. Trên cơ sở đó, đánh giá khái quát những lợi thế và đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khó khăn, tồn tại của vùng nghiên cứu. - Điều tra, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn trong những năm qua, ít nhất là 5 năm trở lại đây theo các chỉ tiêu kết quả sản xuất, tốc độ tăng trƣởng, chuyển dịch cơ cấu ngành, tình hình xuất khẩu nông sản ra ngoài vùng và ra nƣớc ngoài. Phân tích, đánh giá về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trƣờng. các vấn đề bức xúc, nổi cộm để đề xuất giải pháp thích hợp trong tƣơng lai.
154
Phần III: Xây dựng phương án quy hoạch Phƣơng án quy hoạch đƣợc xây dựng theo trình tự sau: - Xác định quan điểm phát triển - Xác định các mục tiêu lâu dài (tổng quát) và các mục tiêu trƣớc mắt (mục tiêu
cụ thể)
- Xây dựng các nội dung quy hoạch: + Bố trí sử dụng đất trên toàn vùng lãnh thổ + Quy hoạch nông nghiệp: bố trí các cây trồng, gia súc thích hợp theo điều kiện tự
nhiên và sinh thái.
+ Quy hoạch lâm nghiệp + Quy hoạch ngƣ nghiệp + Quy hoạch công nghiệp nông thôn + Quy hoạch hệ thống dịch vụ + Bố trí cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp, nông thôn nhƣ thủy lợi, giao thông, cơ khí, điện, thông tin liên lạc, cấp nƣớc sạch, bố trí mạng lƣới đô thị trong vùng, tổ chức hệ thống giáo dục, y tế.
+ Tổ chức sử dụng lao động + Luận chứng phát triển theo các tiểu vùng lãnh thổ + Xác định các công trình, khu vực cần ƣu tiên đầu tƣ + Ƣớc tính vốn đầu tƣ và hiệu quả kinh tế + Dự kiến tiến độ thực hiện Phần IV: Thẩm định và xét duyệt Hồ sơ thẩm định gồm có các tài liệu sau: - Báo cáo thuyết minh tổng hợp - Báo cáo tóm tắt - Các bản đồ - Các biểu đồ, sơ đồ minh họa Cơ quan thẩm định và phê duyệt quy hoạch là UBND cấp trên trực tiếp. Tại hội nghị thẩm định, phải có đại diện cơ quan chủ quản, chủ đầu tƣ, cơ quan tƣ vấn (nếu có) và các ngành hữu quan. Đồng thời, tùy theo cấp lãnh thổ mà có thể mời thêm những đại diện liên quan để thuận lợi cho việc triển khai thực hiện phƣơng án sau này.
1.2. Quy trình quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đƣợc xếp vào dạng quy hoạch phát triển ngành. Theo Thông tƣ số 05/2003/TT-BKH ngày 22/7/2003 của Bộ Kế hoạch và đầu tƣ, quy trình quy hoạch phát triển ngành công nghiệp đƣợc quy định nhƣ sau: a. Nội dung của quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đƣợc xây dựng với những
nội dung chủ yếu sau đây:
155
- Xác định vị trí, vai trò của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đối với nền
kinh tế cả nƣớc và vùng.
- Phân tích dự báo các yếu tố phát triển ngành, trong đó có phân tích dự báo đầy đủ yếu tố thị trƣờng và yêu cầu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm ở trong nƣớc, trong khu vực và trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển và phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ. Phân tích cơ cấu ngành, sản phẩm chủ lực, mức độ đầu tƣ khoa học công nghệ, lao động và tổ chức sản xuất.
- Xây dựng quan điểm, mục tiêu và luận chứng các phƣơng án phát triển ngành, sản phẩm chủ lực và các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu quy hoạch đƣợc thực hiện thắng lợi (đầu tƣ, công nghệ, lao động).
- Luận chứng phƣơng án phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ, nhất là đối với
các công trình trọng điểm.
- Những vấn đề về bảo vệ môi trƣờng. - Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách, đề xuất các phƣơng án thực hiện
theo các giai đoạn phát triển (nhất là 5 năm đầu tiên).
- Xây dựng danh mục các công trình, dự án đầu tƣ trọng điểm và tổ chức thực
Trình tự lập quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gồm
hiện quy hoạch. b. Trình tự lập quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 5 bƣớc sau:
- Bước 1: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến việc lập quy hoạch phát triển ngành. Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, đánh giá các yếu tố và điều kiện phát triển. Dự báo tác động của chúng đến quy hoạch phát triển ngành. Thu thập các tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trƣờng có liên quan, nếu thiếu cần tổ chức điều tra bổ sung.
- Bước 2: Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển ngành. Nếu trƣớc đây đã có quy hoạch thì khi đánh giá hiện trạng, cần so sánh đối chiếu với các chỉ tiêu quy hoạch đã đề ra để xác định mức độ thực hiện.
- Bước 3: Dựa vào các mục tiêu đặt ra của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và khu vực, yếu tố thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, khả năng các nguồn lực để luận chứng quan điểm, mục tiêu phát triển ngành cho các mốc của thời kỳ quy hoạch. Luận chứng các phƣơng án phát triển và giải pháp chủ yếu đảm bảo thực hiện quy hoạch. Dự kiến danh mục các công trình đầu tƣ trong phƣơng án quy hoạch ngành.
- Bước 4: Xây dựng báo cáo tổng hợp dự án quy hoạch phát triển ngành - Bước 5: Cơ quan quản lý Nhà nƣớc trình quy hoạch lên cấp có thẩm quyền để
thẩm định và phê duyệt quy hoạch. c. Thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Nội dung thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp gồm các vấn đề sau:
156
- Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học, độ tin cậy của các thông tin, số liệu sử dụng để
lập quy hoạch và nội dung quy hoạch.
- Sự phù hợp của quy hoạch với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội. - Tính thống nhất của các quy hoạch vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành và quy
hoạch xây dựng.
- Tính khả thi của các phƣơng án phát triển trong quy hoạch, các giải pháp thực hiện quy hoạch và các biện pháp quản lý thực hiện quy hoạch (vốn đầu tƣ, khoa học, công nghệ, môi trƣờng, nhân lực, cơ chế, chính sách và khả năng hợp tác trong điều kiện thị trƣờng trong nƣớc, trong khu vực và quốc tế khi thực hiện dự án).
Hồ sơ của cơ quan Nhà nƣớc có trách nhiệm lập quy hoạch trình cấp phê duyệt
quy hoạch bao gồm các tài liệu sau:
- Tờ trình của cơ quan lập quy hoạch lên cấp có thẩm quyền phê duyệt quy
hoạch.
- Báo cáo quy hoạch kèm theo các bản vẽ, bản đồ tỷ lệ 1:500000 hoặc 1:1000000 - Báo cáo tóm tắt quy hoạch trình duyệt kèm theo các sơ đồ thu về tỷ lệ nhỏ - Các báo cáo chuyên đề - Các văn bản pháp lý liên quan Hồ sơ của cơ quan thẩm định trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch
bao gồm các tài liệu sau:
- Báo cáo thẩm định - Các văn bản về ý kiến của các ngành, cơ quan, các địa phƣơng có liên quan, của
các nhà khoa học, các chuyên gia phản biện.
- Dự thảo quyết định phê duyệt Thẩm quyền thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành đƣợc quy định
nhƣ sau:
- Bộ Kế hoạch và đầu tƣ tổ chức thẩm định các dự án quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ lực trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt. Đối với những quy hoạch ngành, Thủ tƣớng giao cho Hội đồng thẩm định Nhà nƣớc thẩm định sẽ thực hiện theo quy định riêng.
- Bộ Công nghiệp tổ chức thẩm định các quy hoạch thuộc thẩm quyền của mình. - Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt các dự án quy hoạch phát triển ngành, các quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực do Bộ Kế hoạch và đầu tƣ thực hiện thẩm định. Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp phê duyệt các quy hoạch của ngành không thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tƣớng Chính phủ.
Tổ chức thẩm định quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
đƣợc quy định nhƣ sau:
- Bộ trƣởng Bộ Công nghiệp, Chủ tịch UBND tỉnh quyết định về quy trình thẩm định và tổ chức bộ máy thực hiện công tác thẩm định các dự án quy hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trƣởng.
- Trong quá trình thẩm định, Bộ Công nghiệp có thể mời các Bộ, các ngành, địa phƣơng có liên quan và các tổ chức tƣ vấn, các nhà khoa học tham gia thẩm định trên cơ
157
sở thực hiện hợp đồng với cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định và chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định.
- Cơ quan tổ chức thẩm định căn cứ vào ý kiến của các Bộ, ngành, địa phƣơng, các tổ chức, các nhà khoa học tham gia thẩm định có thể yêu cầu cơ quan quy hoạch giải trình, bổ sung quy hoạch. Cơ quan lập, trình quy hoạch có trách nhiệm giải trình bổ sung làm rõ bằng văn bản.
- Thời gian thẩm định các dự án quy hoạch phát triển ngành không quá 45 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan tổ chức thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian bổ sung, sửa đổi hồ sơ.
2. Văn bản hƣớng dẫn lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Bộ Kế hoạch và đầu tƣ (sửa đổi Nghị định số 92/2006, xem PHỤ LỤC)
158
PHỤ LỤC
CHÍNH PHỦ ___________
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________________________________ Số: 92/2006/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 07 tháng 9 năm 2006
NGHỊ ĐỊNH Về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI THEO NGHỊ ĐỊNH 04/2008 - NBS) ________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ văn bản số 484/UBTVQH11 ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Xét đề nghị của Bộ trƣởng Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ,
NGHỊ ĐỊNH: Chƣơng I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định về trách nhiệm và trình tự lập, Thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các Vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các lãnh thổ đặc biệt (Vùng kinh tế trọng điểm; khu kinh tế, khu kinh tế Quốc phòng, Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ của cả nƣớc; hành lang kinh tế, vành đai kinh tế); quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi là cấp tỉnh); quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện); Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, Sản phẩm chủ yếu (trừ Quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất)."
Điều 2. Đối tƣợng áp dụng Đối tƣợng áp dụng của Nghị định này bao gồm: 1. Cơ quan nhà nƣớc thực hiện quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
159
2. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức
thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Nghị định này, các từ ngữ dƣới đây đƣợc hiểu nhƣ sau: 1. Bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là bản đồ thể hiện phƣơng án tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất định cho thời kỳ quy hoạch. Hệ thống bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội bao gồm: bản đồ hành chính; bản đồ quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu; bản đồ hiện trạng và quy hoạch phân bố các điểm dân cƣ và đô thị; bản đồ quy hoạch các khu công nghiệp và các công trình chủ yếu; bản đồ quy hoạch tổ chức không gian lãnh thổ; bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ là luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội hợp lý trên lãnh thổ nhất định trong một thời gian xác định.
3. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng, lựa chọn phƣơng án phát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cả nƣớc và trên các vùng, lãnh thổ.
4. Sản phẩm chủ yếu là những sản phẩm có ý nghĩa quyết định lớn đến tăng trƣởng
và phát triển kinh tế.
5. Vùng kinh tế - xã hội là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng có các hoạt động kinh tế - xã hội tƣơng đối độc lập, thực hiện sự phân công lao động xã hội của cả nƣớc. Đây là loại vùng phục vụ việc hoạch định chiến lƣợc và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ cũng nhƣ để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nƣớc.
6. Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của cả nƣớc.
Điều 4. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội bao gồm: a) Quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội, các lãnh thổ đặc biệt (vùng kinh tế trọng điểm; khu kinh tế, khu kinh tế quốc phòng, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ của cả nƣớc; hành lang kinh tế, vành đai kinh tế); quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh.
b) Để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì, phối hợp với các sở, ngành trong tỉnh, lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện.
c) Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu trên phạm vi cả nƣớc (quy định tại khoản 14 Điều 1 Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2006/NĐ-CP).
160
d) Đối với quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh: căn cứ yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ, quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Điều 5. Thời kỳ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lập cho thời kỳ 10 năm, có tầm nhìn từ 15 - 20 năm và thể hiện cho từng thời kỳ 5 năm. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đƣợc rà soát, điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội.
Điều 6. Nguyên tắc chung trong việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội
1. Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa chiến lƣợc và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của cả nƣớc, giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất.
2. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, vùng, cấp tỉnh phải đảm bảo tính thống nhất. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Các Bộ, ngành, địa phƣơng, các cơ quan chức năng có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, cung cấp những thông tin cần thiết cho cơ quan có trách nhiệm triển khai lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, tỉnh để trình cấp có Thẩm quyền phê duyệt.
3. Kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa yêu cầu trƣớc mắt với lâu dài; gắn hiệu quả bộ phận với hiệu quả tổng thể, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
4. Bảo đảm tính khoa học, tính tiên tiến, liên tục và kế thừa; dựa trên các kết quả điều tra cơ bản, các định mức kinh tế - kỹ thuật, các tiêu chí, chỉ tiêu có liên quan để xây dựng quy hoạch.
5. Phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế.
6. Cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải đồng thời lập báo cáo đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc trong quá trình lập quy hoạch.
Điều 7. Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 1. Thời hạn xem xét điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội theo định kỳ 5 năm một lần. Việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo tính kế thừa, chỉ điều chỉnh những nội dung không còn phù hợp với tình hình thực tế và bổ sung quy hoạch cho 5 năm tiếp theo.
2. Hàng năm, trên cơ sở đánh giá thực hiện quy hoạch, nếu cần thay đổi, điều chỉnh, bổ sung cục bộ hoặc trong trƣờng hợp xuất hiện những yếu tố mới làm thay đổi từng phần nội dung quy hoạch đã đƣợc phê duyệt, quy hoạch đó phải đƣợc nghiên cứu điều chỉnh cục bộ kịp thời cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế.
3. Nội dung điều chỉnh là một bộ phận cấu thành của nội dung quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội.
161
4. Cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm lập, trình duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nào thì có trách nhiệm lập và trình duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đó.
5. Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nào thì có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đó. Điều 8. Kinh phí lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 1. Nhà nƣớc bảo đảm kinh phí từ ngân sách nhà nƣớc và có chính sách huy động các nguồn vốn khác cho công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Kinh phí cho công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đƣợc cân đối trong kế hoạch hàng năm.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí hàng năm cho công tác lập quy hoạch; đồng thời, hƣớng dẫn các Bộ, ngành và các địa phƣơng tổ chức thực hiện.
3. Kinh phí cho công tác quy hoạch phải đƣợc sử dụng đúng mục đích và tiết kiệm. Điều 9. Định mức đơn giá chi phí cho lập, thẩm định dự án quy hoạch Định mức đơn giá chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội do Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành.
Điều 10. Trách nhiệm lập và trình phê duyệt quy hoạch
1. Phân cấp lập và trình phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. a) Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phƣơng liên quan tổ chức lập và trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế - xã hội và các lãnh thổ đặc biệt (quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2006/NĐ-CP).
b) Các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phƣơng liên quan tổ chức lập và phê duyệt quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách (ngoài ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu quy định tại khoản 14 Điều 1 của Nghị định này).
c) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức lập và trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh.
d) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức lập và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện. đ) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho các sở quản lý ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu chịu trách nhiệm tổ chức lập, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu của tỉnh.
2. Trong trƣờng hợp các cơ quan quản lý nhà nƣớc không đủ điều kiện năng lực thực hiện nhiệm vụ lập quy hoạch thì mời chuyên gia, thuê tƣ vấn để thực hiện một số
162
công việc nhất định trong công tác lập quy hoạch, nhƣng cơ quan quản lý nhà nƣớc có trách nhiệm lập quy hoạch phải chịu trách nhiệm về việc lập và trình duyệt quy hoạch.
Các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đƣợc thuê các cơ quan, tổ chức tƣ vấn trong nƣớc (kể cả hội nghề nghiệp, hội ngành nghề) và các tổ chức tƣ vấn quốc tế có chức năng và năng lực đáp ứng yêu cầu lập các dự án quy hoạch.
Các tổ chức tƣ vấn chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật và chủ dự án về nội dung, chất
lƣợng và tiến độ thực hiện dự án.
Điều 11. Quản lý quy hoạch 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nƣớc đối với công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ và thực hiện sự phân công của Chính phủ về công tác này. Chính phủ phân công, phân cấp quản lý và trách nhiệm về thực hiện công tác quy hoạch cho các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hƣớng dẫn nội dung và phƣơng pháp lập quy hoạch vùng, quy hoạch ngành phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ đối với lĩnh vực mình phụ trách. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ xây dựng nội dung và phƣơng pháp lập quy hoạch phát triển ngành theo chức năng.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về công tác quy
hoạch trên địa bàn tỉnh, thành phố do mình quản lý.
5. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về công tác quy
hoạch trên địa bàn cấp huyện.
6. Các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Thủ tƣớng Chính phủ và gửi văn bản cho Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ về kết quả lập, thẩm định, phê duyệt sau khi quy hoạch đƣợc thông qua và quyết định phê chuẩn có hiệu lực thi hành.
Các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo kết quả việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch về Sở Kế hoạch và Đầu tƣ để tổng hợp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
7. Quy hoạch sau khi đƣợc phê duyệt, Thủ trƣởng cơ quan Quản lý nhà nƣớc trình quy hoạch có trách nhiệm tổ chức thông báo, công bố công khai quy hoạch (trừ quy hoạch có nội dung bí mật quốc gia) cụ thể nhƣ sau:
a) Bộ trƣởng Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chịu trách nhiệm công bố, thông báo công khai bằng văn bản quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng, các lãnh thổ đặc biệt. b) Các Bộ trƣởng quản lý ngành chịu trách nhiệm công bố, thông báo công khai bằng văn bản quy hoạch ngành, sản phẩm chủ yếu thuộc lĩnh vực mình quản lý cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng và các Bộ, ngành liên quan.
163
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng chịu trách nhiệm công bố, thông báo công khai về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh.
d) Thủ trƣởng sở, ngành chịu trách nhiệm công bố, thông báo công khai về quy
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh.
đ) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm công bố, thông báo công
khai về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện.
Nội dung các loại quy hoạch trên phải đƣợc công bố, thông báo công khai, tạo điều kiện thuận lợi để công dân, Doanh nghiệp, các Nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc dễ dàng tiếp cận nghiên cứu, khai thác. Đồng thời, làm căn cứ để theo dõi, giám sát, kiến nghị những bổ sung cần thiết; tránh tình trạng triển khai thực hiện sai lệch quy hoạch
8. Tất cả các khâu của công tác quy hoạch từ lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, công bố quy hoạch, thực hiện quy hoạch đều phải đƣợc kiểm tra, giám sát theo các quy định của pháp luật hiện hành.
9. Các cơ quan nhà nƣớc trong phạm vi, nhiệm vụ của mình có chức năng quản lý
nhà nƣớc về quy hoạch có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra về công tác quy hoạch.
10. Cơ quan trình quy hoạch chịu trách nhiệm về chất lƣợng và nội dung của quy
hoạch trình duyệt.
11. Cơ quan thẩm định phải chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt về kết quả thẩm định.
Chƣơng II NỘI DUNG VÀ TRÌNH TỰ LẬP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Mục 1 QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG
Điều 12. Các vùng sau đây phải lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội
1. Các vùng kinh tế - xã hội. a) Vùng trung du và miền núi phía Bắc, gồm 14 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái.
b) Vùng đồng bằng sông Hồng, gồm 12 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh.
c) Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, gồm 14 tỉnh, thành phố: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận.
d) Vùng Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng.
164
đ) Vùng Đông Nam Bộ, gồm 6 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình
Phƣớc, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu.
e) Vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
2. Các lãnh thổ đặc biệt a) Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.
b) Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
c) Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm 8 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng
Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dƣơng, Tây Ninh, Bình Phuớc, Long An, Tiền Giang.
d) Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ của cả nƣớc,
hành lang kinh tế, vành đai kinh tế.
đ) Các khu kinh tế quốc phòng Điều 13. Nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng bao gồm: 1. Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của vùng: phân tích, đánh giá thực trạng khai thác lãnh thổ; phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều kiện phát triển của lãnh thổ trong tổng thể vùng lớn hơn và cả nƣớc, có tính tới mối quan hệ khu vực và quốc tế. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ vùng; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của vùng.
a) Phân tích, đánh giá và dự báo khả năng huy động các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã
hội vào mục tiêu phát triển của vùng.
Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ và khả năng phát huy các yếu tố này cho quy
hoạch phát triển.
Vị trí của vùng trong chiến lƣợc phát triển của quốc gia. Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và dự báo khả
năng khai thác, bảo vệ chúng.
Phân tích, đánh giá phát triển và dự báo dân số, phân bố dân cƣ gắn với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và các giá trị văn hoá phục vụ phát triển.
Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng về mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển
cao hơn.
Phân tích, đánh giá quá trình phát triển và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của
vùng và các tiểu vùng lãnh thổ.
b) Phân tích, dự báo ảnh hƣởng của các yếu tố trong nƣớc và quốc tế đến phát triển
kinh tế - xã hội của vùng.
c) Đánh giá về các lợi thế so sánh, hạn chế và cơ hội cùng các thách thức đối với
phát triển vùng trong thời kỳ quy hoạch.
165
2. Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phƣơng hƣớng phát triển kinh tế, xã hội phù
hợp với chiến lƣợc và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc.
Xác định vị trí, vai trò và chức năng của vùng đối với nền kinh tế quốc dân cả nƣớc,
từ đó luận chứng mục tiêu và quan điểm phát triển vùng.
Luận chứng mục tiêu phát triển (gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể). - Đối với mục tiêu kinh tế: tăng trƣởng GDP, tổng GDP, giá trị xuất khẩu và tỷ trọng đóng góp của vùng đối với cả nƣớc, GDP/ngƣời, đóng góp vào ngân sách, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh.
- Đối với mục tiêu xã hội: mức tăng việc làm, giảm thất nghiệp, giảm đói nghèo, mức độ phổ cập về giáo dục, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức giảm bệnh tật và tệ nạn xã hội.
- Đối với mục tiêu môi trƣờng: giảm mức độ ô nhiễm môi trƣờng và mức bảo đảm
các yêu cầu về môi trƣờng trong sạch.
- Đối với mục tiêu quốc phòng, an ninh: ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát
triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
3. Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Luận chứng phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng các phƣơng án phát triển; xác định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm chủ lực, trong đó xác định chức năng, nhiệm vụ và vai trò đối với vùng của các trung tâm đô thị và tiểu vùng trọng điểm.
Lựa chọn phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng và lựa chọn phƣơng án phát triển; phƣơng hƣớng phát triển và phân bố các ngành, các sản phẩm chủ lực và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ (kể cả đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và cho thời kỳ quy hoạch).
Căn cứ để phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp phát triển, đào tạo nguồn nhân
lực.
4. Luận chứng phƣơng án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ vùng
(lựa chọn phƣơng án tổng thể khai thác lãnh thổ).
Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thị, khu công nghiệp và khu kinh tế. Định hƣớng tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn; các vùng sản xuất nông, lâm ngƣ
nghiệp tập trung.
Xác định phƣơng hƣớng phát triển cho những lãnh thổ đang kém phát triển và
những lãnh thổ có vai trò động lực.
Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cƣ
giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cƣ.
5. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng bảo đảm yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài của
các hoạt động kinh tế, xã hội của vùng và gắn với vùng khác trong cả nƣớc.
a) Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới giao thông. b) Lựa chọn phƣơng án phát triển thông tin liên lạc, bƣu chính, viễn thông. c) Lựa chọn phƣơng án phát triển nguồn và mạng lƣới chuyển tải điện. d) Lựa chọn phƣơng án phát triển các công trình thủy lợi, cấp nƣớc.
166
đ) Lựa chọn phƣơng án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và phúc lợi công
cộng.
6. Định hƣớng quy hoạch sử dụng đất (dự báo các phƣơng án sử dụng đất căn cứ
vào định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực).
7. Luận chứng Danh mục dự án ƣu tiên đầu tƣ. 8. Luận chứng bảo vệ môi trƣờng; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trƣờng và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này.
9. Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bƣớc thực hiện quy hoạch; đề xuất phƣơng án tổ chức thực hiện quy hoạch.
a) Giải pháp về huy động vốn đầu tƣ. b) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực. c) Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trƣờng. d) Giải pháp về cơ chế, chính sách. đ) Giải pháp về tổ chức thực hiện. 10. Thể hiện phƣơng án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng trên bản
đồ quy hoạch tỷ lệ 1/500.000 và 1/250.000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm.
Điều 14. Căn cứ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng 1. Kết quả thực hiện Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn trƣớc và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn tiếp theo.
2. Các nghị quyết, quyết định về chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng,
Quốc hội và Chính phủ có liên quan đến vùng.
3. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp quốc gia). 4. Các quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất đã đƣợc cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
5. Hệ thống số liệu thống kê; các kết quả điều tra cơ bản, khảo sát và hệ thống số
liệu, tài liệu có liên quan.
Điều 15. Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trình tự lập quy hoạch tổng phát triển kinh tế - xã hội vùng thực hiện theo các bƣớc
sau:
1. Xử lý các kết quả điều tra cơ bản đã có và tổ chức điều tra bổ sung; khảo sát thực tế; thu thập tƣ liệu, số liệu về vùng và cả nƣớc. Nghiên cứu các tác động của các yếu tố bên ngoài; tác động (hay chi phối) của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Đánh giá và dự báo các yếu tố và nguồn lực phát triển, các yếu tố tiến bộ khoa học - công nghệ của thế giới và các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội khác tác động đến quy hoạch của vùng trong tƣơng lai.
167
Xác định vị trí, vai trò chủ yếu của các ngành và của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng đối với kinh tế - xã hội của vùng.
2. Xác định vai trò của vùng quy hoạch đối với cả nƣớc và đối với lãnh thổ lớn hơn mà nó nằm trong đó; nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo và một số chỉ tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội của vùng; cung cấp các thông tin đó cho các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng làm cơ sở phục vụ xây dựng các quy hoạch phát triển và phân bố ngành trên vùng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, đồng thời thu nhận thông tin phản hồi để điều chỉnh, bổ sung.
3. Xây dựng và lựa chọn phƣơng án quy hoạch. Xác định quan điểm và mục tiêu phát triển; định hƣớng phát triển và phƣơng án quy hoạch; định hƣớng tổ chức không gian; các giải pháp thực hiện.
4. Lập báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng trình Thủ
tƣớng Chính phủ phê duyệt.
5. Thông báo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các vùng trong vòng 30 ngày sau khi đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt cho các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Các ngành, các địa phƣơng căn cứ vào đó để hiệu chỉnh quy hoạch phát triển ngành và tỉnh, thành phố.
Mục 2 QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƢƠNG
Điều 16. Nội dung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh bao
gồm:
1. Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của tỉnh trong vùng và so sánh với các tỉnh lân cận: phân tích, đánh giá thực trạng khai thác lãnh thổ; phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều kiện phát triển của lãnh thổ trong tổng thể vùng lớn hơn và cả nƣớc, có tính tới mối quan hệ khu vực và quốc tế. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ tỉnh; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của tỉnh.
a) Phân tích, đánh giá và dự báo khả năng huy động các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã
hội vào mục tiêu phát triển của tỉnh trong vùng và cả nƣớc.
Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ và khả năng phát huy các yếu tố này cho quy
hoạch phát triển.
Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và dự báo khả
năng khai thác, bảo vệ chúng.
Phân tích, đánh giá phát triển và dự báo dân số, phân bố dân cƣ gắn với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội và các giá trị văn hoá phục vụ phát triển.
Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng về mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển
cao hơn.
168
Phân tích, đánh giá quá trình phát triển và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khi phân tích và dự báo các yếu tố và điều kiện phát triển cần chú trọng yếu tố thị trƣờng và xác định các lợi thế so sánh so với các tỉnh khác và có tính tới cạnh tranh quốc tế.
b) Phân tích, dự báo ảnh hƣởng của các yếu tố trong nƣớc và quốc tế đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tác động của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, của vùng đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
c) Đánh giá về các lợi thế so sánh, hạn chế và cơ hội cùng các thách thức đối với
phát triển của tỉnh trong thời kỳ quy hoạch.
2. Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phƣơng hƣớng phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với chiến lƣợc và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, của vùng.
Xác định vị trí, vai trò của tỉnh đối với nền kinh tế của vùng và cả nƣớc, từ đó luận chứng mục tiêu và quan điểm phát triển của tỉnh. Tác động của chiến lƣợc và quy hoạch cả nƣớc, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành đối với tỉnh trong thời kỳ quy hoạch. Luận chứng mục tiêu phát triển (gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể).
- Đối với mục tiêu kinh tế: tăng trƣởng GDP, tổng GDP, giá trị xuất khẩu và tỷ trọng đóng góp của tỉnh đối với vùng và cả nƣớc, đóng góp vào ngân sách, GDP/ngƣời, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh có so sánh với bình quân chung của vùng và cả nƣớc.
- Đối với mục tiêu xã hội: mức tăng việc làm, giảm thất nghiệp, giảm đói nghèo, mức độ phổ cập về học vấn, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức giảm bệnh tật và tệ nạn xã hội.
- Đối với mục tiêu môi trƣờng: giảm mức độ ô nhiễm môi trƣờng và mức đảm bảo
các yêu cầu về môi trƣờng trong sạch theo tiêu chuẩn môi trƣờng (tiêu chuẩn Việt Nam).
- Đối với mục tiêu quốc phòng, an ninh: ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát
triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
3. Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Luận chứng phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng các phƣơng án phát triển; xác định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm chủ lực, trong đó xác định chức năng, nhiệm vụ và vai trò đối với tỉnh và vùng của các trung tâm đô thị và tiểu vùng trọng điểm.
Lựa chọn phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng và lựa chọn phƣơng án phát triển; phƣơng hƣớng phát triển và phân bố các ngành, các sản phẩm chủ yếu và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ (kể cả đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và cho thời kỳ quy hoạch).
Luận chứng phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp phát triển và đào tạo nguồn
nhân lực.
4. Luận chứng phƣơng án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ tỉnh (lựa
chọn phƣơng án tổng thể khai thác lãnh thổ).
Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thị và khu công nghiệp; phát triển hệ thống khu, cụm
công nghiệp; khu kinh tế thƣơng mại, các khu kinh tế đặc thù khác.
169
Tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn; phát triển các vùng cây trồng, vật nuôi hàng
hoá; phát triển làng nghề.
Xác định phƣơng hƣớng phát triển cho những lãnh thổ đang kém phát triển và những lãnh thổ có vai trò động lực; phát triển các vùng khó khăn gắn với ổn định dân cƣ, xoá đói, giảm nghèo.
Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cƣ
giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cƣ.
5. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài của
các hoạt động kinh tế, xã hội của tỉnh và gắn với các tỉnh khác trong vùng và cả nƣớc.
a) Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới giao thông của tỉnh trong tổng thể mạng
lƣới giao thông của cả vùng.
b) Lựa chọn phƣơng án phát triển thông tin liên lạc, bƣu chính, viễn thông. c) Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới chuyển tải điện gắn với mạng lƣới
chuyển tải điện của cả vùng.
d) Lựa chọn phƣơng án phát triển các công trình thủy lợi, cấp nƣớc. đ) Lựa chọn phƣơng án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và phúc lợi công cộng. Phát triển mạng lƣới giáo dục - đào tạo (cả đào tạo nghề), hệ thống y tế - chăm sóc sức khỏe và các cơ sở văn hoá - xã hội.
6. Định hƣớng quy hoạch sử dụng đất (dự báo các phƣơng án sử dụng đất căn cứ
vào định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực).
7. Luận chứng danh mục dự án ƣu tiên đầu tƣ. 8. Luận chứng bảo vệ môi trƣờng; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trƣờng và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này.
9. Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bƣớc thực hiện quy hoạch; đề xuất phƣơng án tổ chức thực hiện quy hoạch.
a) Giải pháp về huy động vốn đầu tƣ. b) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực. c) Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trƣờng. d) Giải pháp về cơ chế, chính sách. đ) Giải pháp về tổ chức thực hiện. 10. Thể hiện phƣơng án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trên bản
đồ quy hoạch tỷ lệ 1/250.000 và 1/100.000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm.
Điều 17. Căn cứ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh 1. Kết quả thực hiện Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn trƣớc và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn tiếp theo.
2. Các nghị quyết, quyết định về chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng,
Quốc hội và Chính phủ.
170
3. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh và các chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
bộ tỉnh.
4. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. 5. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp quốc gia). 6. Quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia liên quan đã
đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
7. Quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất của tỉnh giai đoạn trƣớc đã
đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
8. Các kết quả điều tra cơ bản, khảo sát và hệ thống số liệu, tài liệu liên quan. Điều 18. Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh thực hiện theo
các bƣớc sau:
1. Xử lý các kết quả điều tra cơ bản đã có và tổ chức điều tra bổ sung; khảo sát thực tế; thu thập tƣ liệu, số liệu về tỉnh và vùng. Nghiên cứu tác động của các yếu tố bên ngoài; tác động (hay chi phối) của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của vùng và cả nƣớc đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh. Xác định vị trí, vai trò của các ngành và của từng huyện đối với nền kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Xác định vai trò của tỉnh đối với vùng và cả nƣớc; nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo và một số chỉ tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; cung cấp các thông tin đó cho các Sở, ngành và các huyện làm cơ sở phục vụ xây dựng các quy hoạch chuyên ngành trên lãnh thổ tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện.
3. Xây dựng và lựa chọn phƣơng án quy hoạch. Xác định quan điểm và mục tiêu phát triển; định hƣớng phát triển và phƣơng án quy hoạch; định hƣớng tổ chức không gian; các giải pháp thực hiện.
4. Lập báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
5. Thông báo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong vòng 30 ngày sau khi đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt cho các Bộ, ngành, các huyện, các Sở, ngành làm căn cứ hiệu chỉnh quy hoạch phát triển ngành, huyện và triển khai lập các quy hoạch cụ thể.
Mục 3 QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CẤP HUYỆN
Điều 19. Nội dung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện bao gồm: 1. Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của huyện trong tỉnh và so sánh với các huyện lân cận: phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều kiện phát triển của huyện trong tổng thể tỉnh và vùng. Phân tích, đánh giá thực
171
trạng phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ huyện; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của huyện.
a) Phân tích, đánh giá và dự báo khả năng huy động các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã
hội vào mục tiêu phát triển của huyện trong tỉnh và vùng.
Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ và khả năng phát huy các yếu tố này cho quy
hoạch phát triển của huyện.
Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và dự báo khả
năng khai thác, bảo vệ chúng.
Phân tích, đánh giá phát triển và dự báo dân số, phân bố dân cƣ gắn với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội và các giá trị văn hoá phục vụ phát triển.
Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng về mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển
cao hơn.
Phân tích, đánh giá quá trình phát triển và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Khi phân tích và dự báo các yếu tố và điều kiện phát triển cần chú trọng yếu tố thị trƣờng và xác định các lợi thế so sánh so với các huyện khác và có tính tới cạnh tranh quốc tế.
b) Phân tích, dự báo ảnh hƣởng của các yếu tố trong nƣớc và quốc tế đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện; tác động của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
c) Đánh giá về các lợi thế so sánh, hạn chế và cơ hội cùng các thách thức đối với
phát triển huyện trong thời kỳ quy hoạch.
2. Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phƣơng hƣớng phát triển kinh tế, xã hội phù
hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng.
Xác định vị trí, vai trò của huyện đối với nền kinh tế của tỉnh và vùng, từ đó luận chứng mục tiêu và quan điểm phát triển của huyện. Tác động của quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành đối với huyện trong thời kỳ quy hoạch. Luận chứng mục tiêu phát triển (gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể).
- Đối với mục tiêu kinh tế: tăng trƣởng kinh tế (tính theo giá trị sản xuất), giá trị xuất khẩu, một số sản phẩm chủ yếu và tỷ trọng đóng góp của huyện đối với tỉnh, đóng góp vào ngân sách, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh có so sánh với bình quân chung của tỉnh.
- Đối với mục tiêu xã hội: mức tăng việc làm, giảm thất nghiệp, giảm đói nghèo, mức độ phổ cập về học vấn, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức giảm bệnh tật và tệ nạn xã hội.
- Đối với mục tiêu môi trƣờng: giảm mức độ ô nhiễm môi trƣờng và bảo đảm các
yêu cầu về môi trƣờng trong sạch theo tiêu chuẩn môi trƣờng (tiêu chuẩn Việt Nam).
3. Xác định nhiệm vụ để đạt mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Luận chứng phát triển cơ cấu kinh tế, định hƣớng phát triển và phân bố các ngành và lĩnh vực then chốt và các sản phẩm quan trọng và lựa chọn cơ cấu đầu tƣ (kể cả đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và cho thời kỳ quy hoạch).
172
Luận chứng phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp phát triển và đào tạo nguồn
nhân lực.
4. Luận chứng phƣơng án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ huyện
(lựa chọn phƣơng án tổng thể khai thác lãnh thổ).
Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thị, điểm dân cƣ tập trung và khu, cụm, điểm công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, làng nghề; phát triển hệ thống khu, cụm, điểm công nghiệp, làng nghề; khu thƣơng mại, hệ thống chợ gắn với các điểm dân cƣ.
Tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn; phát triển các vùng cây trồng, vật nuôi hàng
hoá.
Xác định phƣơng hƣớng phát triển cho những lãnh thổ đang kém phát triển và những lãnh thổ có vai trò động lực; phát triển các vùng khó khăn gắn với ổn định dân cƣ, xoá đói, giảm nghèo.
Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cƣ
giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cƣ.
5. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài của
các hoạt động kinh tế, xã hội của huyện và gắn với huyện khác trong tỉnh.
a) Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới giao thông của huyện trong tổng thể
mạng lƣới giao thông của cả tỉnh.
b) Lựa chọn phƣơng án phát triển thông tin liên lạc, bƣu chính, viễn thông. c) Lựa chọn phƣơng án phát triển mạng lƣới chuyển tải điện gắn với mạng lƣới
chuyển tải điện của cả tỉnh.
d) Lựa chọn phƣơng án phát triển các công trình thủy lợi, cấp nƣớc. đ) Lựa chọn phƣơng án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và phúc lợi công cộng. Phát triển mạng lƣới giáo dục - đào tạo (cả đào tạo nghề), hệ thống y tế - chăm sóc sức khỏe và các cơ sở văn hoá - xã hội.
6. Định hƣớng quy hoạch sử dụng đất (dự báo các phƣơng án sử dụng đất căn cứ
vào định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực).
7. Luận chứng danh mục dự án đầu tƣ ƣu tiên. 8. Luận chứng bảo vệ môi trƣờng; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trƣờng và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này.
9. Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chƣơng trình, dự án đầu tƣ trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bƣớc thực hiện quy hoạch; đề xuất phƣơng án tổ chức thực hiện quy hoạch.
a) Giải pháp về huy động vốn đầu tƣ. b) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực. c) Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trƣờng. d) Giải pháp về cơ chế, chính sách. đ) Giải pháp về tổ chức thực hiện. 10. Thể hiện phƣơng án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện trên
bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/100.000 và 1/50.000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm.
173
Điều 20. Căn cứ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện 1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng. 2. Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện và các chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
bộ huyện.
3. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp tỉnh). 5. Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh liên quan đã đƣợc cấp có
thẩm quyền phê duyệt.
6. Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn trƣớc đã đƣợc
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
7. Hệ thống số liệu thống kê, các kết quả điều tra, khảo sát, các số liệu, tài liệu liên
quan và dự báo trong tỉnh, huyện và các huyện lân cận.
Điều 21. Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện thực hiện theo các
bƣớc sau:
1. Xử lý các kết quả điều tra cơ bản đã có và tổ chức điều tra bổ sung; khảo sát thực tế; thu thập tƣ liệu, số liệu về huyện và tỉnh (để so sánh). Nghiên cứu tác động của các yếu tố đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện; tác động của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện. Xác định vị trí, vai trò của các ngành và của từng xã đối với nền kinh tế - xã hội của huyện.
2. Xác định vai trò của huyện đối với tỉnh và vùng; nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo và một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện; cung cấp các thông tin đó cho các Sở, ngành làm cơ sở phục vụ xây dựng các quy hoạch chuyên ngành trên địa bàn huyện.
3. Xây dựng và lựa chọn phƣơng án quy hoạch. Xác định quan điểm và mục tiêu phát triển; định hƣớng phát triển và phƣơng án quy hoạch; định hƣớng tổ chức không gian; các giải pháp thực hiện.
4. Lập báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện trình Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
5. Thông báo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong vòng 30 ngày sau khi đƣợc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cho các Sở, ngành, các xã, các doanh nghiệp làm căn cứ hiệu chỉnh quy hoạch chuyên ngành và triển khai lập các quy hoạch cụ thể.
Chƣơng III NỘI DUNG VÀ TRÌNH TỰ LẬP QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
Điều 22. Các ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu sau đây các Bộ quản lý ngành
phải lập quy hoạch phát triển, trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt:
174
1. Kết cấu Hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, gồm: hệ thống đƣờng cao tốc, đƣờng liên vùng, liên tỉnh; đƣờng sắt; hệ thống sân bay; hệ thống các khu công nghiệp, hệ thống các khu kinh tế; hệ thống Cảng biển; hệ thống cấp nƣớc cấp vùng; hệ thống cấp, thoát nƣớc đô thị loại đặc biệt; hạ tầng kỹ thuật thông tin; hệ thống các công trình Xử lý chất thải nguy hại; hệ thống thuỷ lợi; đê biển; hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh, trú bão cho Tàu thuyền.
2. Kết cấu hạ tầng xã hội, gồm: mạng lƣới các trƣờng đại học; mạng lƣới bệnh viện
cấp vùng và cấp tỉnh.
3. Các ngành, sản phẩm chủ yếu, gồm: sản xuất điện; sản xuất xi măng; Vật liệu nổ công nghiệp; sản xuất phân bón; thăm dò, khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên nƣớc; thăm dò, khai thác và Chế biến Khoáng sản: đá vôi để sản xuất xi măng, than, dầu khí, sắt, bô xít, khoáng sản quý hiếm (vàng, bạc, platin, kim cƣơng, ruby, saphia (coridon), emorot); rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
4. Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và sản phẩm đặc thù liên quan đến quốc phòng, An ninh quốc gia và truyền thống văn hoá, thiết chế văn hoá, phát thanh, truyền hình do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định.
5. Trong từng thời kỳ, danh mục các ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu của cả nƣớc chƣa quy định tại mục 3 khoản 14 Điều 1 Nghị định này, nhƣng cần thiết phải lập quy hoạch phát triển do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định.
Điều 23. Nội dung chủ yếu của dự án quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực 1. Nội dung chủ yếu của quy hoạch phát triển các ngành sản xuất kinh doanh. Quy hoạch phát triển các ngành sản xuất kinh doanh đƣợc gọi là quy hoạch “mềm”
có tính chất định hƣớng và phải phù hợp với điều kiện kinh tế thị trƣờng.
Nội dung chủ yếu của quy hoạch phát triển các ngành sản xuất kinh doanh bao gồm: a) Phân tích, dự báo các yếu tố phát triển ngành, trong đó có phân tích, dự báo đầy
đủ yếu tố thị trƣờng và yêu cầu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.
b) Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển và phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ. Phân tích cơ cấu ngành, sản phẩm chủ yếu, đầu tƣ, công nghệ, lao động, tổ chức sản xuất. c) Xác định vị trí, vai trò của ngành đối với nền kinh tế quốc dân và các mục tiêu phát triển của ngành. Phân tích cung cầu trên thế giới và khu vực; phân tích tình hình cạnh tranh trên thế giới và trong nƣớc.
d) Luận chứng các phƣơng án phát triển cơ cấu ngành, sản phẩm chủ yếu và các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu quy hoạch đƣợc thực hiện (đầu tƣ, công nghệ, lao động).
đ) Luận chứng phƣơng án phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ, nhất là đối với các
công trình then chốt và phƣơng án bảo vệ môi trƣờng.
e) Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách và đề xuất các phƣơng án thực hiện. g) Xây dựng danh mục công trình, dự án đầu tƣ trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện, trong đó có chia ra bƣớc đi cho 5 năm đầu tiên; tổ chức thực hiện quy hoạch.
h) Thể hiện các phƣơng án quy hoạch phát triển ngành trên bản đồ quy hoạch.
175
2. Nội dung chủ yếu của quy hoạch phát triển các ngành thuộc kết cấu hạ tầng. Quy hoạch phát triển các ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng (gồm cả kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội) đƣợc gọi là quy hoạch “cứng” có thời gian định hƣớng quy hoạch là 20 năm hoặc xa hơn và có tính ổn định lâu dài, tính ràng buộc cao. Nội dung chủ yếu của quy hoạch phát triển các ngành thuộc kết cấu hạ tầng gồm: a) Xác định nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. b) Dự báo tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển kết cấu hạ tầng của khu vực tác động
tới phát triển kết cấu hạ tầng của đất nƣớc trong thời kỳ quy hoạch.
c) Luận chứng các phƣơng án phát triển kết cấu hạ tầng trên phạm vi cả nƣớc và các
vùng lãnh thổ.
d) Luận chứng các giải pháp, công trình ƣu tiên đầu tƣ và tổ chức thực hiện. 3. Nội dung chủ yếu của quy hoạch sản phẩm chủ yếu bao gồm: a) Xác định vai trò, nhu cầu tiêu dùng nội địa và khả năng thị trƣờng nƣớc ngoài của
sản phẩm.
b) Phân tích hiện trạng phát triển và tiêu thụ sản phẩm. c) Dự báo khả năng công nghệ và sức cạnh tranh của sản phẩm. d) Luận chứng các phƣơng án phát triển và khuyến nghị phƣơng án phân bố sản
xuất trên các vùng và các tỉnh.
đ) Xác định các giải pháp, cơ chế, chính sách, phƣơng hƣớng hợp tác quốc tế. e) Thể hiện các phƣơng án quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên bản đồ quy
hoạch. Điều 24. Căn cứ lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực 1. Kết quả thực hiện Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn trƣớc và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc giai đoạn tiếp theo
3. Các nghị quyết, quyết định về chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng,
Quốc hội và Chính phủ có liên quan.
4. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng giai đoạn trƣớc. 5. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp quốc gia) có liên quan. 6. Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất liên quan đã đƣợc cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
7. Hệ thống số liệu thống kê, các kết quả điều tra cơ bản, khảo sát và hệ thống số liệu, tài liệu liên quan. Các kết quả dự báo về thị trƣờng và tiến bộ khoa học công nghệ trong nƣớc và quốc tế.
Điều 25. Trình tự lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực 1. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu liên quan đến việc lập quy hoạch ngành; trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá các yếu tố và điều kiện phát triển và dự báo tác động của chúng đến quy hoạch ngành. Thu thập tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên môi trƣờng liên quan, nếu thiếu cần có kế hoạch điều tra bổ sung.
2. Nghiên cứu các tác động của các yếu tố đến quá trình phát triển của ngành. Đánh giá và dự báo các yếu tố và nguồn lực phát triển, các yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật của
176
thế giới và các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội khác tác động đến quy hoạch phát triển của ngành trong tƣơng lai.
3. Xác định vị trí, vai trò của các ngành đối với nền kinh tế của cả nƣớc và các vùng; nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo và một số chỉ tiêu vĩ mô về phát triển ngành; cung cấp các thông tin đó cho các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng làm cơ sở phục vụ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, đồng thời thu nhận thông tin phản hồi để điều chỉnh, bổ sung.
4. Xây dựng và lựa chọn phƣơng án quy hoạch ngành. Dựa vào các mục tiêu đặt ra của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, yếu tố thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, khả năng các nguồn lực để luận chứng quan điểm, mục tiêu phát triển ngành cho các năm mốc của thời kỳ quy hoạch. Luận chứng các giải pháp chủ yếu và điều kiện đảm bảo thực hiện quy hoạch ngành. Định hƣớng tổ chức không gian phân bố ngành. Các giải pháp thực hiện.
5. Lập báo cáo quy hoạch ngành trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 6. Thông báo quy hoạch ngành trong vòng 30 ngày sau khi đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt cho các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, các doanh nghiệp. Các ngành, các địa phƣơng căn cứ vào đó hiệu chỉnh quy hoạch ngành, tỉnh và triển khai các quy hoạch cụ thể.
Chƣơng IV THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Điều 26. Hồ sơ thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 1. Hồ sơ thẩm định dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc, các
vùng, tỉnh, huyện gồm:
a) Tờ trình cấp có thẩm quyền đề nghị phê duyệt quy hoạch. b) Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lập theo nội dung
quy định.
c) Các báo cáo chuyên đề, các phụ lục kèm theo. d) Hệ thống bản đồ bao gồm: bản đồ hành chính; bản đồ vị trí và mối quan hệ liên vùng; bản đồ hiện trạng và quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu, hệ thống đô thị và các điểm dân cƣ; bản đồ tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế - xã hội chủ yếu; bản đồ hiện trạng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc với các bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 và 1/500.000; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng với các bản đồ tỷ lệ 1/500.000 và 1/250.000; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh với các bản đồ tỷ lệ 1/250.000 và 1/100.000; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện với các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và 1/50.000.
đ) Các văn bản pháp lý có liên quan. e) Báo cáo thẩm định của cấp cơ sở.
177
2. Hồ sơ thẩm định dự án quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ
yếu gồm:
a) Tờ trình cấp có thẩm quyền đề nghị phê duyệt quy hoạch. b) Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực lập theo nội dung quy
định.
c) Các báo cáo chuyên đề, các phụ lục kèm theo. d) Hệ thống bản đồ bao gồm: bản đồ hiện trạng và quy hoạch phân bố các cơ sở sản xuất kinh doanh chủ yếu của ngành; bản đồ tổng hợp về hiện trạng và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ yếu. Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ yếu cấp quốc gia, bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh, bản đồ tỷ lệ 1/250.000 và 1/100.000.
đ) Các văn bản pháp lý có liên quan. e) Báo cáo thẩm định của cấp cơ sở. Điều 27. Nội dung thẩm định các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội
1. Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học, độ tin cậy của các thông tin, số liệu, tƣ liệu sử
dụng để lập quy hoạch và nội dung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. 2. Sự phù hợp của quy hoạch với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội. 3. Các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch và phƣơng án bố trí hợp lý các
nguồn lực.
4. Tính thống nhất của các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nƣớc,
vùng, lãnh thổ, quy hoạch ngành và các quy hoạch khác liên quan.
5. Các giải pháp thực hiện quy hoạch, tính khả thi của quy hoạch và các biện pháp
quản lý thực hiện quy hoạch.
Điều 28. Thẩm quyền thẩm định các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 1. Cơ quan thực hiện lập quy hoạch chịu trách nhiệm lập Hội đồng thẩm định để tổ
chức thẩm định, cụ thể:
a) Các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu do Bộ quản lý
chuyên ngành chịu trách nhiệm lập Hội đồng thẩm định để tổ chức thẩm định.
b) Các quy hoạch vùng kinh tế - xã hội và lãnh thổ đặc biệt do Bộ Kế hoạch và Đầu
tƣ chịu trách nhiệm lập Hội đồng thẩm định để tổ chức thẩm định.
c) Quy hoạch các khu kinh tế quốc phòng do Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm lập
Hội đồng thẩm định để tổ chức thẩm định.
d) Các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng lập Hội đồng thẩm định để tổ chức thẩm định.
2. Trong quá trình tổ chức thẩm định, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng phải lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, địa phƣơng liên quan.
178
3. Các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đến quốc phòng,
an ninh phải có sự tham gia thẩm định cửa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Các cơ quan đƣợc giao tổ chức thẩm định phải lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, các địa phƣơng liên quan và có thể thuê các tổ chức tƣ vấn, cá nhân có năng lực tham gia thẩm định các dự án quy hoạch trong trƣờng hợp cần thiết. Sau khi có kết quả thẩm định, cơ quan đƣợc giao thẩm định lập báo cáo thẩm định, làm căn cứ để cơ quan lập quy hoạch hoàn chỉnh đề án, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 29. Về hồ sơ trình phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hội đồng thẩm định, các tổ chức thực hiện chức năng thẩm định cùng cơ quan chức năng của Nhà nƣớc chịu trách nhiệm trình hồ sơ đề nghị phê duyệt lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
Hồ sơ trình phê duyệt, gồm: 1. Tờ trình của cơ quan có thẩm quyền đề nghị phê duyệt quy hoạch. 2. Báo cáo quy hoạch theo nội dung quy định gồm: báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lập theo nội dung quy định; các báo cáo chuyên đề, các phụ lục kèm theo; hệ thống bản đồ quy hoạch.
3. Báo cáo tóm tắt quy hoạch trình duyệt. 4. Các văn bản pháp lý liên quan. Hồ sơ cơ quan thẩm định trình, gồm: 1. Báo cáo thẩm định. 2. Các văn bản (bản sao) về ý kiến của các Bộ, ngành, các địa phƣơng liên quan,
của các nhà khoa học và các chuyên gia phản biện.
3. Dự thảo quyết định phê duyệt. Điều 30. Nội dung phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Nội dung phê duyệt đối với các dự án quy hoạch gồm: 1. Quan điểm và các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu của quy hoạch. 2. Phƣơng hƣớng và các phƣơng án phát triển chủ yếu. 3. Các biện pháp chủ yếu để đạt mục tiêu quy hoạch nhƣ giải pháp về cơ cấu, phƣơng hƣớng phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt, các sản phẩm chủ yếu; cơ chế, chính sách.
4. Phƣơng án tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế, xã hội. 5. Tổ chức thực hiện. Điều 31. Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 1. Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt: Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu đƣợc quy định tại khoản 14 Điều 1 của Nghị định này; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế - xã hội, các lãnh thổ đặc biệt; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh.
179
2. Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trƣởng cơ quan thuộc Chính phủ phê duyệt: quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu của ngành ngoài phạm vi quy định tại khoản 14 Điều 1 Nghị định này.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội cấp huyện; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh.
4. Trƣớc khi các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ về: sự phù hợp về mục tiêu, công trình trọng điểm, tính đồng bộ đối với quy mô, tiến độ, bƣớc đi, thứ tự ƣu tiên và về khả năng đáp ứng nguồn lực cho quy hoạch.
Đối với quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện, trƣớc khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phải lấy ý kiến của Sở Kế hoạch và Đầu tƣ về: sự phù hợp về mục tiêu, công trình trọng điểm, tính đồng bộ đối với quy mô, tiến độ, bƣớc đi, thứ tự ƣu tiên và về khả năng đáp ứng nguồn lực cho quy hoạch.
Điều 32. Xử lý vi phạm 1. Tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này và của các quy định khác của pháp luật có liên quan, thực hiện không đúng theo các quy hoạch đã đƣợc phê duyệt thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thƣờng theo quy định của pháp luật.
2. Các cơ quan chức năng nhà nƣớc, cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về quy hoạch, lập quy hoạch và thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành mà không làm đầy đủ nhiệm vụ đƣợc giao hoặc tự đặt ra các thủ tục, yêu cầu ngoài quy định, trì hoãn việc thẩm định, trình phê duyệt khi đã có đủ các điều kiện quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, bị xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thƣờng theo quy định của pháp luật.
Chƣơng V TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 33. Trách nhiệm thi hành 1. Các Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trƣởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng trong phạm vi nhiệm vụ, Quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách về Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ để tổng hợp báo cáo Thủ tƣớng Chính phủ.
180
Hàng năm, Thủ trƣởng sở, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo về tình hình thực hiện quy hoạch về Sở Kế hoạch và Đầu tƣ để tổng hợp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Các Bộ, ngành, địa phƣơng có trách nhiệm củng cố, sắp xếp lại tổ chức, tăng cƣờng lực lƣợng cán bộ chuyên môn làm công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lƣợc và quy hoạch để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng lập, thẩm định và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách
nhiệm theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thi hành Nghị định này.
Điều 34. Hiệu lực thi hành 1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. 2. Bãi bỏ các quy định trƣớc đây trái với quy định tại Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƢỚNG (đã ký ) Nguyễn Tấn Dũng
181
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Tấn Bình: Phân tích hoạt động doanh nghiệp, NXB Đại học Quốc gia, TP Hồ
Chí Minh, 2003.
2. Bộ Kế hoạch đầu tƣ: Hệ thống tài liệu hƣớng dẫn nghiên cứu quy hoạch ở Việt Nam, tài liệu phục vụ các lớp tập huấn bồi dƣỡng nghiệp vụ chuyên ngành, Hà Nội, 2004. 3. Chỉ thị số 32/1998/CT – TTg ngày 23-9-1998 của Thủ tƣớng Chính phủ về Công tác
QHTTPTKTXH thời kỳ đến năm 2010.
4. Nguyễn Trọng Chuẩn và nnk: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Lý luận và
thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
5. Đặng Đức Đạm: Kế hoạch hóa vĩ mô, NXB, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
9. Phạm Kim Giao: Quy hoạch vùng, NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2000. 10. Trần Hoàng Kim: Kinh tế Việt Nam, chặng đƣờng 1945-1995 và triển vọng tới năm
2020, NXB Thống kê, Hà Nội, 1996.
11. Ngô Thắng Lợi: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, Trƣờng đại học
Kinh tế quốc dân, NXB. Thống kê, Hà Nội, 2002.
12. Đỗ Hoài Nam: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm,
mũi nhọn ở Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
13. Nghị định số 92/2006/NĐ – CP ngày 7-9-2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và
quản lý QHTTPTKTXH.
14. Võ Kim Sơn: Phƣơng pháp phân tích và dự báo kinh tế - xã hội cho các nhà quản lý,
NXB. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1999.
15. Trần Văn Tấn: Kinh tế đô thị và vùng, NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2006. 16. Nguyễn Đinhg Thiên và tập thể tác giả: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc,
NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.
17. Nguyễn Thế Thôn: Quy hoạch môi trƣờng phát triển bền vững, NXB. Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội, 2004.
18. Thông tƣ số 5/2003 TT-BKH ngày 22-7-2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ hƣớng dẫn về nội dung trình tự lập, thẩm định và quản lý các dự án quy hoạch phát triển ngành và QHTTPTKTXH lãnh thổ.
19. Trƣơng Mạnh Tiến: Môi trƣờng và quy hoạch tổng thể theo hƣớng bền vững. Một số
cơ sở lý luận và thực hành, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
20. UNDP và Viện Chiến lƣợc phát triển: Việt Nam hƣớng tới 2010, tập I, NXB. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001.
21. Viện Chiến lƣợc phát triển: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một số vấn đề lý
luận thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
182
22. Viện chiến lƣợc phát triển: cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
23. Ngô Doãn Vịnh, Nguyễn Văn Phú: Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ của Việt Nam
theo hƣớng phát triển có trọng điểm, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
24. Ngô Doãn Vịnh: Nghiên cứu chiến lƣợc và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Nam. Học hỏi và sáng tạo, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
183

