BẠI NÃO
(Kỳ 2)
III- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:
A. THEO YHHĐ:
Nói chung, các thm sàng của bại não đều được phát hiện nhờ vào s
chậm phát triển của trẻ (cả thể chất và trí thông minh) so vi trẻ cùng tuổi.
Thời gian mà cha mtrphát hiện được sự bất thường của trtùy thuộc
vào mức độ trầm trọng của bệnh, nhưng thường là trong vòng 12 đến 18 tháng tuổi
của trẻ (trong một số trường hợp được phát hiện trễ hơn sau 2 năm khi cha mẹ
thấy trẻ chậmkhó khăn khi đi).
Những dấu hiệu lâm sàng có thể thấy trong bại não gm:
- Liệt trung ương: rất đa dạng. thể liệt 2 chi dưới, liệt ½ người, tứ chi.
Do bệnh xảy ra trẻ còn nhnên dấu hiệu sớm cần cý như động tác không tự
chủ, múa vờn, co giật Sau sinh vài tháng có ththấy cổ mềm, lưng yếu không
ngồi được, đặc biệt 2 chân dưới rất ít cử động, đụng tới là co giật, phản xạ gối, gót
giảm. Tùy theo biểu hiện mà phần lớn các trường hợp thể được xếp vào một
trong những hội chứng lâm sàng riêng biệt.
* Liệt cứng 2 chi (Spastic diplegia - Little’s disease): đây thể thường
thấy nhất, thể kèm hoặc không rối loạn trí tuệ. Mức độ liệt rất thay đổi từ nhẹ
(chỉ có yếu, chậm đi hơn trẻ bình thường, tăng phản xạ gân cơ hạ chi) đến rất nặng
(trẻ không khả năng bước đi, tứ chi gồng cứng, nói khó, nuốt khó).
* Liệt 2 chi thể tiểu não (cerebellar diplegia): chyếu liệt mềm, trương
lực cơ giảm, không xuất hiện những vận động ý nhưng xuất hiện dấu lay
tròng mắt (nystagmus), thất điều không đối xứng ở cả tứ chi.
* Liệt ½ người trẻ em (Infantile hemiplegia): Bệnh thể xảy ra cả 2
bên. Trong trường hợp này phân biệt với liệt 2 chi thể tiểu não bằng việc chi trên
bnặng hơn chi dưới. Bệnh thể xuất hiện ngay sau khi sinh (u nang bẩm sinh
bán cầu não, nhồi máu não trong tcung) nhưng thường xuất hiện trong thời kỳ
trcòn nh(sau ho gà hoặc sau tình trạng co giật do sốt cao). Dấu m sàng thông
thường là chi trên b liệt nặng (bàn tay và ngón tay hoàn toàn mất vận động, tay và
cánh tay co cng trước ngực), trái lại chi dưới lại bị nhẹ n cũng tình
trạng cứng, tăng phản xạ gân . Bệnh nhi vẫn bước đi được. đôi khi rất đáng
ngạc nhiên, đi không khó khăn lắm. Nếu vỏ não ưu thế bị tổn thương, trẻ sẽ không
nói được.
- Chậm phát triển trí tuệ, trí lực kém. Việc chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ
trong thời gian trẻ còn nh rất khó khăn. Cần phải kỹ năng và kinh nghim khi
thăm khám trẻ để phát hiện mức phát triển trí tuệ của trẻ bệnh so với tuổi của trẻ
bình thường (cười, mắt theo dõi ánh sáng di động, lấy đồ vật, phát âm từng từ và
ch…). Cần phân biệt rõ những trường hợp suy giảm chức năng vận động, cảm
giác, giác quan, năng lực nói, khiến cho ta cảm giác trẻ bchậm phát triển trí tuệ.
(Thường việc phân biệt này khó khăn và đôi khi cần đến những test về trí thông
minh - IQ test).
- Một số xuất hiện động kinh, điên.
- Chảy nước miếng, nuốt khó, mặt, mắt tê, cng.
B. THEO YHCT: Có 5 th lâm sàng:
1/ Thể Thận tinh bất túc:
- Tứ chi liệt, teo.
- Phát triển thể chất và trí tukém: nói không rõ, thóp không kín, cổ, lưng
mềm.
- Rêu lưỡi trắng, mạch vi tế.
2/ Thể Can Thận âm:
- Liệt hai chi dưới, cổ gáy cứng, chân tay cử động chậm.
- Khi đứng chân co rút, bước không thẳng.
- Mặt, mắt co kéo, nói không rõ.
- Lưỡi đỏ, mạch vi sác.
3/ Thể Âm tân :
- Liệt tứ chi,teo, môi miệng khô nứt, kèm sốt thấp.
- Đạo hãn. Lưỡi đỏ, rêu nứt, mạch tế sác.
4/ Thể Ứ tắc não lạc:
- Liệt chi dưới, trí lực giảm, tóc rụng, gân nổi rõ mặt, đầu.
- Tứ chi quyết lạnh.
- Chất lưỡi tối tím, mạch tế sáp.
5/ Thể Đàm thp nội tắc:
- Liệt tứ chi, có đờmhọng, có khi điên hoặc co giật, kèm buồn ói, ói mửa.
- Rêu vàng nht. Mạch hoạt sác.