Bài tập nhóm Tài chính tiền tệ: Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

Chia sẻ: Dshgfdcxgh Dshgfdcxgh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:31

0
162
lượt xem
32
download

Bài tập nhóm Tài chính tiền tệ: Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài tập nhóm Tài chính tiền tệ: Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 nhằm trình bày khái quát chung về lý thuyết tỷ giá, tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài tập nhóm Tài chính tiền tệ: Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

  1. BÀI TẬP NHÓM 12 Lớp K50 – Đại học Tài Chính – Ngân hàng Đại học Tây Bắc – Thành phố Sơn La Giảng viên hướng dẫn : T.S Đỗ Thị Kim Hoa Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của chính sách tỷ giá đối với cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012. Danh sách thành viên nhóm 12 1. Nguyễn Thị Minh Thúy 2. Trịnh Hoài Thương 3. Phạm Thị Xuyến 4. Phan Thị Thảo 5. Nguyễn Đức Vinh 6. Nguyễn Văn Trung 1
  2. A. Lý thuyết I. Những vấn đề cơ bản về tỷ giá 1. Các khái niệm 1.1. Tỷ giá ( Exchange Rate ) là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Ví dụ: 1 USD = 20.820 VND Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá là 20.820 VND. 1.2. Tỷ giá là số đơn vị đồng tiền yết giá; đối với một quốc gia cụ thể, thì tỷ giá là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ, nghĩa là đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, còn đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, còn đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá. 1.3. Tỷ giá danh nghĩa song phương ( Bilateral nominal exchange rate – ner ): là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Giá hàng hóa (Price) – P Tỷ giá (Exchange) – E Về cơ bản P và E giống nhau, chỉ có điều P là hàng hóa thông thường, còn E là giá hàng hóa đặc biệt (ngoại tệ). Tỷ giá này được gọi là tỳ giá danh nghĩa bởi vì nó chưa đề cập đến sức mua (yếu tố thực) giữa USD và VND, cụ thể chúng ta chưa biết rõ là 1 USD mua được bao nhiêu hàng hóa ở Mĩ và 20.820 VND mua được bao nhiêu hàng hóa ở Việt Nam. Sự biến động của tỷ giá được biểu hiện bằng chỉ số. Ví dụ : tỷ giá tại thời điểm (t) là : E(VND/USD) = 12.000 tại thời điểm (t+1) là : E(VND/USD) = 14.000. 2
  3. sự thay đổi tỷ giá này được biểu thị bằng chỉ số : chọn thời điểm (t) là thời điểm cơ sở có chỉ số tỷ giá là 100%, tại thời điểm (t+1) chỉ số tỷ giá sẽ là : (14.000/12.000) x 100% = 116,67% 1.4. Tỷ giá danh nghĩa đa phương (tỷ giá trung bình) (Nominal effective exchange rate – NEER). NEERi = eij.wj Thực chất tỷ giá NEER không phải là tỷ giá mà là chỉ số. Nếu NEER tăng thì VND được coi là giảm giá so với các đồng tiền còn lại; ngược lại nếu NEER giảm thì VND được coi là lên giá so với các đồng tiền còn lại. Vì tỷ giá danh nghĩa chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa hai đồng tiền, do đó, đối với mỗi quốc gia, khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự tăng lên hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này. Để đo sự thay đổi sức cạnh tranh thương mại quốc tế, chúng ta sử dụng khái niệm tỷ giá thực. 1.5. Tỷ giá thực song phương ( Bilateral Real Exchange Rate) bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ ạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. + tỷ giá thực trạng thái tĩnh ( tại một thời điểm ) : ER = E = (1) Trong đó : ER – là tỷ giá thực (dạng chỉ số) E – là tỷ giá danh nghĩa. P* - mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ. P – mức giá cả ở trong nước bằng nội tệ. (VND) Bản chất tỷ giá thực thể hiện sự so sánh mức giá hàng hóa ở trong nước và ở nước ngoài khi cả hai đều tính bằng nội tệ. 3
  4. Từ đó ta rút ra kết luận :  Nếu ER > 1, tức là E.P* > P, thì VND được xem là định giá thực thấp (real undervalued), nghĩa là nếu chuyển đổi mỗi đồng nội tệ sang ngoại tệ ta chỉ mua được ít hàng hóa ở nước ngoài so với trong nước. Đồng tiền định giá thực thấp sẽ tạo nên vị thế cạnh tranh thương mại tốt hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu được nhiều nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu được nhiều hơn, còn nhập khẩu thì ít hơn.  Nếu ER < 1, tức là E.P* < P, thì VND được xem là định giá thực cao (real overvalued), nghĩa là nếu chuyển đổi mỗi đồng nội tệ sang ngoại tệ ta sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước. Đồng tiền định giá thực cao sẽ làm cho vị thế cạnh tranh thương mại kém hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất thì ít, còn nhập thì nhiều.  Nếu ER = 1, tức là E.P* = P, ta nói rằng hai đồng tiền là ngang giá sức mua (PPP), nghĩa là khi chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ ta mua được số hàng hóa là như nhau ở trong nước và ở nước ngoài.  Tỷ lệ định giá cao, thấp của một đồng tiền được xác định : Ω= .100% QF và QD là số lượng hàng hóa mua được ở nước ngoài và ở trong nước bằng 1 đơn vị tiền Ω > 0 : đồng tiền được định giá thực cao (Real Overvalued) Ω < 0 : đồng tiền được định giá thực thấp (Real undervalued) + tỷ giá thực trạng thái động : Theo công thức (1), để tính toán và quan sát được sự vận động của tỷ giá thực thời điểm này sang thời điểm khác, người ta sử dụng thực dạng động. 4
  5. Tại thời điểm 0, gọi: - P0 , P* 0 là mức giá hàng hóa ở trong nước và ở nước ngoài. - E0 là tỷ giá danh nghĩa. - ER0 là tỷ giá thực. Tại thời điểm t ( t = 1, 2, 3, 4, .... ), gọi: - Pt , P* t là mức hàng hóa ở trong nước và ở nước ngoài. - Et là tỷ giá danh nghĩa. - ERt là tỷ giá thực. Các chỉ số: - CPI0 t là chỉ số giá ở trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là: CPI0 t = Pt /P0 . - CPI0* t là chỉ số giá ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là: CPI0* t = Pt * /P0 * . - e0 t là chỉ số giá danh nghĩa tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là: e0 t = Et /E0 - e0 Rt là chỉ sổ tỷ giá thực tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là: e0 Rt = ERt /ER0. Từ công thức: eRt 0 = (2) Thay: ERt = và ER0 = Vào công thức (2), ta được: 5
  6. eRt 0 = . eRt 0 = eRt 0 = et 0 . . 100% 1.6. Tỷ giá thực đa phương (Real Effetive Exchange Rate – REER) bằng tỷ giá danh nghĩa đã biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. REER là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một số nước so với tất cả các nước bạn hàng còn lại. Do đó hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố chỉ tiêu này. Để tính được REER, ta tiến hành một số bước: - Bước 1: tính tỷ giá NEER. - Bước 2: tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ theo tỷ trọng GDP trong nước - Bước 3: tính REER theo công thức: REERi = NEERi x j = ; i là số kỳ tính toán Trong đó: = 6
  7. CPIj w là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ CPIi VN là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ Chú ý: + Trạng thái tĩnh: là việc tại một thời điểm nhất định, so sánh mức tỷ giá thực với 100. Nếu tỷ giá thực lớn hơn 100, điều này nói lên rằng vị thế cạnh tranh của quốc gia là cao hơn nước bạn hàng. Nếu tỷ giá thực nhỏ hơn 100, điều này nói lên rằng vị thế cạnh tranh của quốc gia là thấp hơn nước bạn hàng. Nếu tỷ giá thực bằng 100, điều này nói lên vị thế cạnh tranh của hai quốc gia là như nhau. + Trạng thái động: là việc xem xét tỷ giá thực tăng lên hay giảm xuống từ thời kỳ này sang thời kỳ khác. Nếu tỷ giá thực tăng, điều này nói lên rằng sức cạnh tranh của quốc gia là được cải thiện. Nếu tỷ giá thực giảm, điều này nói lên rằng sức cạnh tranh của quốc gia bị xói mòn. 2. Phân loại tỷ giá 2.1. Căn cứ ngiệp vụ kinh doanh ngoại hối:  Tỷ giá mua vào – Bid Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.  Tỷ giá bán ra – Ask (or Offer) Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.  Tỷ giá cơ sở (giao ngay) – Spot Rate : là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trực tiếp trên Forex, được thỏa thuận ngày hôm nay, và việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.  Tỷ giá phái sinh – Derivative Rate: bao gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng: kỳ hạn (Forward), Hoán đổi (Swap), Tương lai (Future) và Quyền chọn (Option). Tỷ giá phái sinh không được hình thành theo quan hệ cũng cầu trực tiếp trên Forex, mà được hình thành (bắt nguồn) từ các thông số có sẵn trên thị trường như: tỷ giá giao ngay, mức lãi s uất của hai đồng tiền, phí thực hiện hợp đồng... Tỷ 7
  8. giá phái sinh thuộc loại tỷ giá có thời hạn, nghĩa là được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc sử dụng thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở nên.  Tỷ giá mở cửa – Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày.  Tỷ giá đóng cửa – Closing Rate: là tỷ giá áp dụng co trường hợp đóng cuối cùng được giao dịch trong ngày. Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được kí kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày. Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa hôm sau.  Tỷ giá chéo – Crosed Rate: là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ 3 (còn gọi là đồng tiền trung gian)  Tỷ giá chuyển khoản – Transfer Rate: tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại NH.  Tỷ giá tiền mặt – Bank Note Rate: tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản.  Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay do ngoại hối được chuyển chủ yếu là bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng tỷ giá điện hối.  Tỷ giá thư hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư (không phổ biến, hiện nay hầu như không dùng). 2.2. Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá:  Tỷ giá chính thức – Official Rate (ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá gia dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.  Tỷ giá chợ đen – Black Market Rate: là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. 8
  9.  Tỷ giá cố định – Fixed Rate : là tỷ giá do NHTW công bố cố định một biên độ dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu trên thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi.  Tỷ giá thả nổi hoàn toàn – Freely Floating Rate: là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo cung cầu thị trường, NHTW không hề can thiệp.  Tỷ giá thả nổi có điều tiết – Managed Floating Rate: là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp đẻ tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. 3. Các phương pháp yết tỷ giá 3.1. Yết tỷ giá trực tiếp (yết giá ngoại tệ trực tiếp) – Derect Quotation Giá ngoại tệ được bộc lộ trực tiếp bằng tiền (VND), xét từ giác độ quốc gia, trong đó: - Ngoại tệ, với vai trò là hàng hóa (Commodity Currency), là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị. - Nội tệ, với vai trò là tiền tệ (Terms Currency), là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Forex. 3.2. Yết tỷ giá gián tiếp ( yết giá ngoại tệ gián tiếp) – Inderect Quotation Giá ngoại tệ chỉ được bộc lộ một cách gián tiếp bằng tiền (VND), để biết được giá USD trực tiếp, ta sử dụng phép tính: E(VND/USD) = Xét từ giác độ quốc gia thì phương pháp yết tỷ giá gián tiếp mà trong đó: - Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và là bằng 1 đơn vị - Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. 9
  10. 3.3. Yết tỷ giá trong thực tế 3.3.1. Về đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá Trên thị trường Interbank, các tỷ giá đều được yết với USD, trong đó: - USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá đối với tất cả các đồng tiền khác (ngoại trừ 5 đồng tiền dưới đây) - USD đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với 5 đồng tiền là: GBP, AUD, NZD, EUR và SDR Bằng sơ đồ ta biểu diễn mối quan hệ yết tỷ giá như sau: Đồng tiền trung gian Các đồng tiền còn lại 1 USD = x C1 x C2 . . x Cn X USD = 1 GBP 1 AUD 1 NZD 1 EUR 1 SDR 3.3.2. Về yết tỷ giá trực tiếp và gián tiếp: - Tất cả các quốc gia trên thế giới (có cả Việt Nam) đều áp dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp (ngoại trừ 4 trường hợp dưới đây). - Các nước Anh, New Zealand, Úc và các nước đồng tiền chung EURO lad dùng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp. - Riêng nước Mỹ vừa áp dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp và gián tiếp, trong đó: 10
  11. + Trực tiếp với các ngoại tệ GBP, AUD, NZD, EUR và SDR. + Gián tiếp với tất cả các ngoại tệ còn lại. 3.3.3. Về đồng tiền đứng trước và đứng sau: - Cách 1: viết là USD/ VND = x, nghĩa là đặt đồng tiền yết giá đứng trước, còn đồng tiền định giá đứng sau. - Cách 2: viết là VND/USD = x, nghĩa là đặt đồng tiền định giá đứng trước, còn đồng tiền yết giá đứng sau. 4. Điểm tỷ giá, cách đọc và cách viết tỷ giá 4.1. Điểm tỷ giá – Points Điểm tỳ giá là đơn vị (thông thường là đơn vị thạp phân) cuối cùng của tỷ giá được yết theo thông lệ trong các gia dịch ngoại hối. Vì tương quan giá trị giữa các đồng tiền là khác nhau, nên các tỷ giá khác nhau có chữ số thập phân được yết cũng khác nhau. Ví dụ: 1 EUR = 1,1109 USD 1 điểm có nghĩa là 0,0001 USD 1 USD = 127,62 JPY 1 điểm có nghĩa là 0,01 JPY Đối với những đồng tiền chính, thông thường được yết giá với 4 chữ số thập phân, cho nên số thập phân thứ 4 (,0001) gọi là điểm tỷ giá của đồng tiền này. Trong thực tế, nếu không có thỏa thuận nào khác, người ta thực hiện theo quy tắc sau: Số chữ số thập phân (sau dấu phẩy) của tỷ giá nghịch đảo bằng số chữ số trước dấu phẩy của tỷ giá thuận cộng với 3. Ví dụ: Với tỷ giá ban đầu E(VND/USD) = 13998, ta thấy rằng, tỷ giá ban đầu có 5 chữ số trước dấu phẩy, do đó tỷ giá đối ứng sẽ được yết với ( 5 + 3 ) = 8 chữ số thập phân như sau: E(USD/VND) = 0,00007144. 4.2. Cách đọc và cách viết tỷ giá: Khi đọc một tỷ giá, ta chia tỷ giá thành nhiều cụm để đọc, hai chữ số cuối đọc là điểm (Points), hai chữ số tiếp theo đọc là số (feagurs). 11
  12. Ví dụ: tỷ giá VND/USD = 1 55 42 Đọc là: một – năm lăm số - bốn hai điểm. Tỷ giá có nhiều cách viết: - Cách viết đầy đủ: 1 USD = 15.000 VND - Cách viết gọn hơn: VND/USD = 15.000 - Cách viết chuyên nghiệp: VND = 15.000 Nếu tỷ giá mua và tỷ giá bán: - Cách viết đầy đủ: VND/USD = 15.010 – 15.020 Hay: VND = 15.010 – 15.020 - Cách viết gọn hơn: VND/USD = 15.010/20 Hay: VND = 15.010/20 - Cách viết chuyên nghiệp: VND/USD = 10/20 5. Tỷ giá mua, tỷ giá bán và lãi kinh doanh ngoại hối 5.1. Tỷ giá mua và tỷ giá bán Tỷ giá mua là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán đồng tiền yết giá. Với cách yết giá hai chiều, thỳ tỷ giá đứng trước gọi là tỷ giá và tỷ giá đứng sau gọi là tỷ giá bán. Ví dụ: một ngân hàng yết tỷ giá: E(SGD/USD) = 1,6410 – 1,6415 Trong đó: - Tỷ giá đứng trước 1,6410 gọi là tỷ giá mua đồng tiền yết giá là USD. Hay nói cách khác, ngân hàng yết giá sẵn sàng mua USD tại tỷ giá: 1 USD = 1,6410 SGB. 12
  13. - Tỷ giá đứng sau 1,6415 gọi là tỷ giá bán, nghĩa là tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán đồng tiền yết giá là USD. Hay nói cách khác, ngân hàng yết giá sẵn sàng bán USD tại tỷ giá: 1 AUD = 1, 6415 SGB. 5.2. Chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán gọi là Spread. Để có được thu nhập từ hoạt động mua bán ngoại hối, ngân hàng yết tỷ giá sao cho tỷ giá mua vào là thấp hơn tỷ giá bán ra. Ví dụ: E(VND/USD) = 15.550 – 15.560 Spread được tính theo hai cách như sau: - Tính theo điểm tỷ giá (số tuyệt đối): Spread = 15.560 – 15.550 = 10 VND, tức 10 điểm Điều này có nghĩa là: nếu ngân hàng yết giá đồng thời vừa mua vừa bán 1 USD thì lãi s ẽ là 10 điểm, tức 10 VND. - Tính theo tỷ lệ % (số tương đối): Spread = .100% Spread = .100% = 0,0643% Spread không phải là một tỷ lệ cố định cho tất cả các giao dịch và cho tất cả các đồng tiền, mà phụ thuộc vào: - Số lượng ngoại tệ trong giao dịch: số lượng giao dịch lớn thì spread càng nhỏ. - Tầm cỡ cũng như sự nổi tiếng của trung tâm tài chính thì spread sẽ càng nhỏ. 13
  14. - Tính chất ổn định hoặc không ổn định của các đồng tiền tham gia giao dịch: các đồng tiền có giá trị ổn định thì được giao dịch với spread nhỏ hơn so với đồng tiền không ổn định. - Tỷ trọng của đồng tiền trong giao dịch: những đồng tiền được giao dịch nhiều như EUR, GBP... thì spread của chúng sẽ nhỏ hơn. - Phương tiện giao dịch là tiền mặt, hối phiếu, séc, kỳ phiếu, thẻ tín dụng hay chuyển khoản... Nếu ngân hàng đồng thời mua và bán với số lượng như nhau, thì ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận mà không cần bỏ một đồng vốn nào. Nếu ngân hàng mở rộng spread, thì lợi nhuận thu được sẽ lớn hơn mỗi giao dịch. Tuy nhiên, một ngân hàng muốn tăng doanh số giao dịch thì một trong những yếu tố quyết định là thu hẹp spread; ngược lại, muốn giảm doanh số giao dịch thì mở rộng spread. 6. Tỷ giá nhà môi giới Quy tắc về tỷ giá giao dịch qua môi giới: - Một ngân hàng có thể chỉ đặt lệnh mua, chỉ đặt lệnh bán hay đồng thời cả hai. - Tất cả các tỷ giá đặt mua bao giờ cũng thấp hơn hoặc tối đa là bằng tỷ giá đặt bán. - Khi có một tỷ giá đặt mua bằng một tỷ giá đặt bán thì nhà môi giới sẽ khớp lệnh ngay và thu phí. - Tỷ giá của nhà môi giới phải (gọi là giá tay trong – inside price): + mua vào là cao nhất trong các tỷ giá đặt mua. + bán ra là thấp nhất trong các tỷ giá đặt bán. Bằng cách gọi này cho nhà môi giới để hỏi tỷ giá, các ngân hàng có được tỷ giá nhà môi giới một cách mau chóng hơn so với ngân háng giao dịch trực tiếp với nhau. Các nhà môi giới thu một khoản phí thông qua các dịch vụ của mình gọi là phí môi giới (Brokerage). Tỷ giá nhà môi giới còn được gọi là giá tay trong (inside price), bởi vì chỉ thông qua nhà môi giới ta mới biết được tỷ giá chào mua và chào bán cạnh tranh nhất. 14
  15. 7. Đầu cơ và kinh doanh chênh lệch tỷ giá Phân biệt hành vi đầu cơ tỷ giá (Speculations) và kinh doanh chênh lệch tỷ giá ( Arbitrage) Hành vi đầu cơ tỷ giá Kinh doanh chênh lệch giá Tiêu chí (Speculations) (Arbitrage) Mua và bán xảy ra tại hai thời điểm khác Thời gian Mua và bán xảy ra đồng thời nhau Vốn kinh doanh Phải bỏ vốn Không cần bỏ vốn Trạng thái ngoại hối Tạo ra trạng thái ngoại hối mở Không tạo ra trạng thái ngoại hối Rủi ro tỷ giá Chịu rủi ro tỷ giá Không chịu rủi ri tỷ giá Phán đoán thị trường và sẵn sàng chịu Cơ sở kinh doanh Quan sát thị trường rủi ro Lãi kinh doanh Không chắc chắn và không biết trước Chắc chắn và biết trước Địa điểm kinh doanh Có thể tại một thị trường Tại hai thị trường Cơ hội kinh doanh Có thể tiến hành bất cứ lúc nào Chỉ là thoảng qua 8. Tỷ giá chéo và k inh doanh tỷ giá chéo - Theo nghĩa rộng: tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ được xác định thông qua đồng tiền thứ 3(hay còn gọi là đồng tiền trung gian) gọi là tỷ giá chéo. Ví dụ: Ta có hai tỷ giá: E(X/Z) = (a, b) Và E(Y/Z) = (c, d) Thì tỷ giá E(E/Y) = (x, y) gọi là tỷ giá chéo, đồng tiên Z được gọi là đồng tiền thứ trung gian, hay đồng tiền thứ 3. 15
  16. - Theo nghĩa hẹp: vì trên FOREX tất cả các đồng tiền đều được yết giá với USD, do đó, tỷ giá giữa đồng tiền bất kỳ trong đó không có mặt của USD gọi là tỷ giá chéo. Nói cách khác, tỷ giá giữa ai đồng tiền bất kì đều được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với USD, tức USD luôn đóng vai trò là ddoogn tiền thứ 3, hay đồng tiền trung gian II. Chính sách tỷ giá hối đoái 1. Khái niệm và mục tiêu của tỷ giá hối đoái 1.1. Khái niệm Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (mà đại diện thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia. 1.2. Mục tiêu - Về mục tiêu ổn định giá cả: với các yếu tố không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng), làm cho giá hàng hóa nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hóa nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu càng lớn thỳ tỷ lệ làm phát càng cao. Điều này được thể hiệ qua công thức: P= . PD + (1 – ).E. Trong đó: – là tỷ trọng hành hóa sản xuất trog nước. − ) – là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu. PD – là mức hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ. - là mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ là tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ). 16
  17. mức giá cả hàng hóa chung của nền kinh tế Ngược lại, khi nâng giá nội tệ (tức tỷ giá giảm), làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát. Qua phân tích cho thấy, chính sách tỷ giá có tể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đạt mục tiêu ổn định giá cả. Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ (tức tác động làm cho tỷ giá giảm); muốn kích thích lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách phá giá nội tệ (tức tác động làm cho tỷ giá tăng); muốn duy trì giá cả ổn định, NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng. - Về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ: khi các yếu tố khác là không đổi, thì với chính sách phá giá nội tệ sẽ làm cho: + kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, trực tiếp làm tăng thu nhập quốc dân và tăng công ăn việc làm. Điều này được biểu hiện qua công thức tính thu nhập quốc dân: Y =C+I+G +X – M Phá giá nội tệ làm cho xuất khẩu X tăng và nhập khẩu M giảm, do đó tác dụng làm tăng trực tiếp thu nhập quốc dân Y. + phá giá nội tệ làm cho những ngành sản xuất không sử dụng (hoặc sử dụng ít) đầu vào là hàng nhập khẩu sẽ tăng được lợi thế cạnh tranh về giá só với hàng hóa nhập khẩu, từ đó mở rộng được sản xuất, tăng thu nhập và tạo thêm công ăn việc làm mới. Qua phân tích cho thấy, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tăng công ăn việc làm. Với các yếu tố khác không đổi, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần áp dụng chính sách phá giá nội tệ; ngược lại muốn kiềm chế và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế thì áp dụng chính sách nâng giá nội tệ. - Về mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai: chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, là hai bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân vãng lai. 17
  18. + với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ (undervalued) sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái cân bằng hay thặng dư. + với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ (overvalued) s ẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu, giúp điều chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt. + với chính sách tỷ giá cân bằng (epuilibrium) s ẽ có tác dụng làm cân bằng XK và NK, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng. Qua phân tích trên, tỷ giá là một biến số kinh tế, tác động nên hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên hoạt động khác nhau là rất khác nhau. 2. Các công cụ của chính sách tỷ giá 2.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá Thông thường, đó là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối thong qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho. Tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi) Để tiến hành can thiệp, buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Ngoài ra, NHTW thường sử dụng thêm một nghiệp vụ thì trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông. Do có những hạn chế nhất định, nên các NHTW của các nước phát triển đã dần dần chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp mà chủ yếu thông quan công cụ lãi suất tái chiết khấu. Ngoài ra, thuộc nhóm công cụ trực tiếp còn phải kể đến các biện pháp can thiệp hành chính của chính phủ có thể áp dụng là: - Biện pháp kết nối: là việc chính phủ quy định đối với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lê nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoai hối. Mục đích chính của biện pháp là nhằm tăng cung ngoại tệ tức thời để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phải phá giá nội tệ. 18
  19. - Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm được mua ngoại tệ. Tất cả các biện pháp này đều nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định. 2.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá: - Lãi suất chiết khấu: với các yếu tố khác không đổi, khi NHTW tăng mức lãi s uất tái chiết khấu, sẽ có tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường, lãi s uất thị trường tăng hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội tệ lên giá. Khi lãi s uất tái chiết khấu giảm sẽ có tác dụng ngược chiều. - Thuế quan: thuế quan cao có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm, kết quả là làm cho nội tệ lên giá. Khi thuế quan thấp sẽ có tác dụng ngược lại. - Hạn gạch: hạn gạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan cao. Dỡ bỏ hạn gạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp. - Giá cả: thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá xuất khẩu làm cho khối lượng xuất tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho nội tệ lên giá. Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu; bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả là làm cho nội tệ giảm giá. 3. Chế độ tỷ giá và vai trò của NHTW 3.1. Khái niệm và phân loại chế độ tỷ giá 3.1.1. Khái niệm - Về mặt thuật ngữ, chế độ tỷ giá ( exchange rate regime ) còn có các tên gọi khác như: cơ chế tỷ giá (exchange rate mechanism) hay cấu trúc tỷ giá (exchange rate arrgentment). Tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của một quốc gia tạo nên chế độ tỷ giá của quốc gia này. 3.1.2. Phân loại chế độ tỷ giá 19
  20. - Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: là chế độ, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW. Sự biến đổi tỷ giá là không có giới hạn và luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn không có sự can thiệp nào của chính phủ chỉ tồn tại về mặt lý thuyết. Trên thực tế, sự can thiệp của Chính phủ là tùy ý và không đặt ra bất cứ mục tiêu bắt buộc cụ thể nào phải đạt được. - Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết:là chế độ, chỉ tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ dao động hẹp xunh quanh tỷ giá trung tâm. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. - Chế độ tỷ giá cố định: là chế độ tỷ giá, trong đó NHTW công bố và cam kết can thiệp để duy trì một mức tỷ giá cố định, gọi là tỷ giá trung tâm ( Central Rate – ECR), trong một biên độ hẹp đã được định trước. Như vậy, NHTW buộc phải mua hay bán ra đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì cố định tỷ giá trung tâm và duy trì sự biến động của nó trông một biên độ hẹp đã định trước. Để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối nhất định. III. Các nhân tố tác động lên tỷ giá 1. Những nhân tố tác động đến cán cân vãng lai, qua đó tác động đến xu hướng biến động của tỷ giá dài hạn: 1.1. Cán cân thương mại và dịch vụ Với các nhân tố khác không đổi, cán cân thương mại và cán cân dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi: - Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền: theo lý thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản áng tương quan lạm phát giữa chúng theo công thức: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản