intTypePromotion=1

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang

Chia sẻ: Bautroibinhyen17 Bautroibinhyen17 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
92
lượt xem
15
download

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình hồi quy nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 598 nông hộ được chọn ngẫu nhiên. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang

Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 63 - 69<br /> <br /> Trường Đại học An Giang<br /> <br /> CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ Ở AN GIANG<br /> Nguyễn Lan Duyên1<br /> 1<br /> <br /> ThS. Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học An Giang<br /> <br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 11/03/14<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 09/05/14<br /> Ngày chấp nhận đăng:<br /> 30/07/14<br /> Title:<br /> The factors affecting the<br /> income of the households in<br /> Angiang<br /> Từ khóa:<br /> Farm income, countryside,<br /> rural households, agriculture<br /> Keywords:<br /> Thu nhập, nông thôn, nông hộ,<br /> nông nghiệp<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The paper uses the Least Square method (OLS) to determine a regression model<br /> to identify the factors affecting the income of the households in Angiang. Primary<br /> data were collected from surveying 598 households randomly. Results showed<br /> that education level, land area, residence time in the local area, distance from<br /> home to the center, loan amount, interest rate, and number of workers influence<br /> the income of the households in Angiang. The paper proposes solutions to<br /> improve the income of the households.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bài viết sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình<br /> hồi quy nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An<br /> Giang trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 598 nông hộ được chọn<br /> ngẫu nhiên. Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn, diện<br /> tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm,<br /> lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở<br /> An Giang. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao thu nhập của nông hộ.<br /> <br /> nhập được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với<br /> bình quân chung của cả nước, khoảng cách giàu<br /> nghèo giữa nông thôn và thành thị có chiều hướng<br /> gia tăng, đời sống vật chất và tinh thần của khá<br /> nhiều nông hộ còn khó khăn.<br /> <br /> 1. GIỚI THIỆU<br /> Chính sách tam nông đóng vai trò quan trọng<br /> trong công cuộc phát triển kinh tế ở nước ta.<br /> Trong những năm qua, khu vực nông thôn đã có<br /> bước tiến vượt bậc, giá trị sản lượng liên tục tăng,<br /> đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông<br /> thôn được cải thiện đáng kể. Song, cũng như ở các<br /> nước đã và đang công nghiệp hóa, quá trình này<br /> mang lại những thay đổi không nhỏ trên phương<br /> diện kinh tế và đời sống xã hội, trong đó nông<br /> nghiệp, nông dân và nông thôn luôn bị thiệt thòi.<br /> <br /> Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7<br /> khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn,<br /> với quan điểm phát triển nông nghiệp và nông<br /> thôn phải xuất phát từ lợi ích của người nông dân,<br /> tỉnh An Giang đã đề ra chiến lược phát triển nông<br /> nghiệp, nông dân và nông thôn để qua đó nâng<br /> cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân<br /> nông thôn, phấn đấu thu nhập bình quân đầu<br /> người tăng 12,5%/năm và đến năm 2020 đạt 42,2<br /> triệu đồng/người/năm (Nghị quyết tỉnh ủy An<br /> Giang, 2013).<br /> <br /> An Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu<br /> Long (ĐBSCL) với đất nông nghiệp chiếm đến<br /> 75% diện tích, có 73% dân số sống ở nông thôn<br /> và 71% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông<br /> nghiệp (Niên giám thống kê, 2013). Sản xuất<br /> nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của đại bộ<br /> phận người dân nông thôn trong Tỉnh. Cũng như<br /> nhiều địa phương khác, đời sống của người dân<br /> nông thôn An Giang tuy đã được nâng lên, thu<br /> <br /> Để thực hiện thành công chiến lược trên, việc<br /> nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của<br /> nông hộ trên địa bàn Tỉnh để có giải pháp phù hợp<br /> là hết sức cần thiết. Vì vậy, bài viết được hình<br /> 63<br /> <br /> Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 63 - 69<br /> <br /> Trường Đại học An Giang<br /> <br /> thành với mục tiêu này để trên cơ sở đó đề xuất<br /> giải pháp nâng cao thu nhập cho các nông hộ ở<br /> tỉnh An Giang.<br /> <br /> và thu hoạch đại trà (thời vụ) nên nông hộ thường<br /> bán sản phẩm với giá rẻ cho thương lái ngay sau<br /> khi thu hoạch (cung vượt cầu). Điều này cho thấy,<br /> các nông hộ sống gần đô thị (thị tứ, thị trấn, thị xã<br /> hay thành phố) sẽ có điều kiện bán sản phẩm trực<br /> tiếp đến tay người tiêu dùng với giá cao hơn, chi<br /> phí chuyên chở thấp hơn và sản phẩm ít hư hỏng<br /> hơn nên thu nhập sẽ cao hơn (Marsh & cs., 2007;<br /> Klasen & cs., 2013).<br /> <br /> 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Theo các nghiên cứu (Abdulai & CroleRees,<br /> 2001; Demurger & cs., 2010; Janvry & Sadoulet,<br /> 2001; Klasen & cs., 2013; Marsh & cs., 2007;<br /> Yang, 2004; Yu & Zhu, 2013), thu nhập của nông<br /> hộ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm<br /> vốn, đất đai, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản<br /> xuất, số lao động, khả năng đa dạng hóa thu nhập,<br /> cơ hội tiếp cận thị trường.<br /> <br /> Trong nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu<br /> và khó thay thế. Do phần lớn thu nhập của nông<br /> hộ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, mà sản<br /> xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là thủ công và<br /> dựa vào đất nên quy mô đất đai sẽ quyết định thu<br /> nhập. Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm<br /> hạn chế khả năng cải thiện thu nhập, bởi diện tích<br /> nhỏ hẹp thì sẽ khó áp dụng kỹ thuật canh tác hiện<br /> đại, do đó sản phẩm có chất lượng thấp, không<br /> đồng đều nên giá trị thấp nhưng giá thành lại cao<br /> (Manjunatha & cs., 2013).<br /> <br /> Thật vậy, vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu<br /> bởi nông hộ cần vốn để mua vật tư, giống, máy<br /> móc, thuê lao động,… nhằm đảm bảo tính thời vụ<br /> và giảm thiểu rủi ro, qua đó làm tăng thu nhập.<br /> Ngoài ra, vốn còn giúp nông hộ đầu tư phát triển<br /> hệ thống tưới tiêu cũng như áp dụng kỹ thuật mới<br /> đa dạng hóa loại hình sản xuất để tránh phải bán<br /> sản phẩm với giá thấp (Mink & cs., 2004).<br /> <br /> Lao động cũng là yếu tố đầu vào quan trọng của<br /> sản xuất nông nghiệp, không chỉ số lượng mà còn<br /> cả chất lượng. Trong điều kiện sản xuất ít được cơ<br /> giới hóa, số lượng lao động sẽ là yếu tố cơ bản<br /> giúp làm tăng thu nhập cho nông hộ (Abdulai &<br /> CroleRees, 2001; Yang, 2004). Tuy nhiên, do tính<br /> thời vụ và trình độ của người lao động còn hạn<br /> chế, khó tham gia các hoạt động phi nông nghiệp<br /> nên tình trạng lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn<br /> khá phổ biến. Do đó, nông hộ có thể có nhiều lao<br /> động nhưng thu nhập không cao bởi một số lao<br /> động không trực tiếp làm ra thu nhập.<br /> <br /> Hiện nay, thu nhập của nông hộ nước ta còn thấp<br /> nên không đủ tích lũy để tái đầu tư, các nguồn<br /> vốn tài trợ từ ngân sách rất hạn chế bởi phải san<br /> sẻ cho các khu vực ưu tiên, trong khi nguồn vốn<br /> bán chính thức và phi chính thức lại nhỏ lẻ nên ít<br /> được sử dụng cho sản xuất. Do đó, tín dụng chính<br /> thức trở nên hết sức quan trọng đối với các nông<br /> hộ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nông hộ gặp<br /> không ít khó khăn khi vay tín dụng chính thức do<br /> các tổ chức tín dụng thường hạn chế cho vay ở<br /> nông thôn bởi phải đối mặt với chi phí giao dịch<br /> và rủi ro cao trong khi người vay lại thiếu tài sản<br /> thế chấp và thường gặp bất trắc khó lường ảnh<br /> hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch<br /> bệnh, giá nông sản bấp bênh,… (Lê Khương<br /> Ninh, 2011).<br /> <br /> Học vấn đóng vai trò then chốt đối với sự phát<br /> triển của một cá nhân, một tổ chức cũng như một<br /> quốc gia (Foster & Rosenzweig, 1996; Pitt &<br /> Sumodiningrat, 1991; Yang, 2004). Học vấn<br /> quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo ra<br /> thu nhập bởi học vấn cao sẽ dễ tiếp thu, áp dụng<br /> kỹ thuật mới vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các<br /> nguồn lực khác. Bên cạnh đó, học vấn cũng giúp<br /> tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý thông tin<br /> thị trường để tạo ra cơ hội tham gia các hoạt động<br /> phi nông nghiệp, qua đó làm tăng thu nhập.<br /> <br /> Hệ quả của việc các tổ chức tín dụng chính thức<br /> hạn chế cho vay ở nông thôn là các nông hộ bị lệ<br /> thuộc vào tín dụng phi chính thức nên phải chịu<br /> lãi suất rất cao. Đặc biệt, nhiều khoản cho vay<br /> bằng tiền được thực hiện trước khi thu hoạch (thời<br /> điểm giá nông sản cao) phải được hoàn trả bằng<br /> hiện vật sau khi thu hoạch (thời điểm giá nông sản<br /> thấp), khiến cho lãi suất vay càng cao. Lãi suất<br /> cao làm tăng chi phí sản xuất, do đó làm giảm thu<br /> nhập của nông hộ (Klasen & cs., 2013).<br /> <br /> Bên cạnh học vấn, thời gian sống ở địa phương<br /> cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ.<br /> Nông hộ sống lâu năm ở địa phương thường được<br /> người thân cũng như các tổ chức xã hội giúp đỡ<br /> (vốn và kinh nghiệm sản xuất) khi cần thiết nhờ<br /> các mối quan hệ thân tộc và cộng đồng. Bên cạnh<br /> <br /> Do đặc tính của nông sản mau hỏng, khó bảo quản<br /> <br /> 64<br /> <br /> Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 63 - 69<br /> <br /> Trường Đại học An Giang<br /> <br /> đó, các hộ này cũng có điều kiện sinh sống, sản<br /> xuất và tích lũy tốt hơn bởi “an cư thì lạc nghiệp”<br /> (Phan Đình Nghĩa, 2010).<br /> <br /> THUNHAP   0  1 HOCVAN   2 DIENTICHDAT  3TGCUTRU <br /> <br /> Trên cơ sở các luận điểm vừa trình bày, bài viết<br /> xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh<br /> hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang như<br /> sau:<br /> <br /> Trong mô hình (1), THUNHAP là thu nhập trung<br /> bình của nông hộ (triệu đồng/năm). Ý nghĩa của<br /> các biến và kỳ vọng về dấu của các hệ số  i<br /> trong mô hình (1) được trình bày trong Bảng 1.<br /> <br />   4 LAODONG  5VITRIXH   6 KNVAY <br />   7 KCDOTHI  8TINDUNG  9 LAISUAT (1)<br /> <br /> Bảng 1. Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các hệ số<br /> <br /> Tên biến<br /> <br /> Đơn vị đo lường<br /> <br /> Diễn giải<br /> <br /> HOCVAN<br /> <br /> Trình độ học vấn của chủ hộ<br /> <br /> DIENTICHDAT<br /> <br /> LAODONG<br /> <br /> Có trị số tương ứng với cấp học của<br /> chủ hộ<br /> <br /> Diện tích đất nông nghiệp<br /> <br /> TGCUTRU<br /> <br /> i<br /> <br /> Kỳ vọng về dấu<br /> của các hệ số<br /> <br /> i<br /> +<br /> <br /> 1.000 m2/người<br /> <br /> +<br /> <br /> Thời gian cư trú ở địa phương<br /> <br /> Năm<br /> <br /> +<br /> <br /> Số lao động của hộ<br /> <br /> người<br /> <br /> ?<br /> <br /> VITRIXH<br /> <br /> Vị trí xã hội của hộ<br /> <br /> KNVAY<br /> <br /> Khả năng vay<br /> <br /> KCDOTHI<br /> <br /> Khoảng cách từ nơi ở của hộ đến<br /> đô thị<br /> <br /> TINDUNG<br /> <br /> Số tiền vay tín dụng chính thức<br /> <br /> LAISUAT<br /> <br /> Có trị số là 1 nếu các thành viên của<br /> hộ có tham gia cơ quan chính quyền<br /> hay đoàn thể các cấp và là 0 nếu<br /> ngược lại<br /> Có giá trị 1 nếu được vay ở các tổ<br /> chức tín dụng và có giá trị 0 là ngược<br /> lại<br /> <br /> Lãi suất vay<br /> <br /> +<br /> <br /> +<br /> <br /> Km<br /> <br /> –<br /> <br /> triệu đồng/hộ/năm<br /> <br /> +<br /> <br /> %/năm<br /> <br /> –<br /> <br /> (10,70%) và 50 hộ ở TP. Long Xuyên (10,04%),<br /> 120 hộ ở huyện Thoại Sơn (20,06%). Cơ sở để<br /> phân tầng là theo địa hình thổ nhưỡng, theo Sở<br /> Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang,<br /> toàn Tỉnh được chia thành bốn khu vực và mỗi<br /> khu vực có đặc tính riêng. Thứ nhất là vùng đồi<br /> núi (Tri Tôn, Tịnh Biên); thứ hai là thành thị<br /> (Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, Long<br /> Xuyên); thứ ba là vùng cù lao (Chợ Mới, Phú<br /> Tân, Tân Châu, An Phú); thứ tư là đồng bằng<br /> (Thoại Sơn). Do đó, trong công tác phân tầng tác<br /> giả chọn mỗi vùng một hoặc hai địa điểm để khảo<br /> sát theo điều kiện thuận lợi của mình.<br /> <br /> 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Số liệu thứ cấp về nông hộ được thu thập từ Ủy<br /> ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông<br /> thôn, Cục Thống kê tỉnh An Giang, các nghiên<br /> cứu công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước.<br /> Các thông tin này dùng để mô tả về nông hộ nhằm<br /> nêu bật tính tất yếu về nông nghiệp, nông thôn và<br /> nông dân ở An Giang.<br /> Số liệu sơ cấp được thu thập theo phương pháp<br /> ngẫu nhiên phân tầng ở tỉnh An Giang. Mẫu khảo<br /> sát bao gồm 598 nông hộ, phân phối ở các địa<br /> phương trong Tỉnh như sau: 150 hộ ở huyện Tri<br /> Tôn (chiếm 25,08% số hộ được khảo sát), 130 hộ<br /> ở huyện Chợ Mới (21,74%), 74 hộ ở huyện Phú<br /> Tân (12,37%), 64 hộ ở thành phố Châu Đốc<br /> <br /> Trên cơ sở số liệu thu thập được, bài viết sử dụng<br /> phương pháp thống kê miêu tả để mô tả thực trạng<br /> của các nông hộ, sau đó sử dụng phương pháp<br /> 65<br /> <br /> Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 63 - 69<br /> <br /> Trường Đại học An Giang<br /> <br /> bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng Mô<br /> hình (1) nhằm xác định ảnh hưởng của các yếu tố<br /> đến thu nhập của các nông hộ ở An Giang.<br /> <br /> của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự<br /> chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị.<br /> Nghề chính của nông hộ ở An Giang là trồng trọt<br /> và chăn nuôi, bên cạnh các hoạt động phi nông<br /> nghiệp dưới các hình thức như tiểu thủ công<br /> nghiệp, dịch vụ, buôn bán nhỏ, công nhân ở các<br /> khu công nghiệp địa phương, làm thuê hay viên<br /> chức (Niên giám thống kê tỉnh An Giang, 2013).<br /> <br /> 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO<br /> LUẬN<br /> 4.1 Tổng quan về nông hộ<br /> Ở An Giang, nông hộ chiếm 73,56% tổng số hộ<br /> và có xu hướng giảm theo thời gian do tác động<br /> Bảng 2. Các chỉ tiêu cơ bản về nông hộ năm 2013<br /> Tiêu chí<br /> Số thành viên hộ<br /> Thời gian sống tại địa phương<br /> Diện tích đất<br /> Tín dụng<br /> Khoảng cách<br /> Thu nhập bình quân<br /> <br /> ĐVT<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> Người<br /> <br /> 4,09<br /> <br /> 11,00<br /> <br /> 1,00<br /> <br /> 1,57<br /> <br /> Năm<br /> <br /> 37,85<br /> <br /> 93,00<br /> <br /> 3,00<br /> <br /> 15,02<br /> <br /> 13.391<br /> <br /> 170.000<br /> <br /> 2,50<br /> <br /> 13.185<br /> <br /> 29,43<br /> <br /> 500,00<br /> <br /> 0,00<br /> <br /> 56,23<br /> <br /> 11,55<br /> <br /> 35,00<br /> <br /> 1,00<br /> <br /> 5,72<br /> <br /> 20,17<br /> <br /> 153,57<br /> <br /> 11,50<br /> <br /> 16,47<br /> <br /> 2<br /> <br /> m<br /> <br /> Triệu đồng<br /> Km<br /> Trđ/người<br /> <br /> Lớn nhất<br /> <br /> Nhỏ nhất<br /> <br /> Độ lệch<br /> <br /> Số liệu khảo sát ở Bảng 2 cho thấy, số người<br /> trung bình trong hộ là 4, đây là số lượng tương<br /> đối chuẩn theo qui định của nhà nước (mỗi gia<br /> đình có 2 con) nhưng cũng còn một số hộ khá<br /> đông con và số hộ nhiều nhất là 11 người. Thời<br /> gian sống trung bình tại địa phương của nông hộ<br /> là 37 năm, điều này cho thấy người nông dân sống<br /> gắn liền với mảnh vườn, miếng ruộng nơi họ được<br /> sinh ra và do sống lâu năm ở địa phương nên cơ<br /> hội làm ăn, đầu tư để tạo ra thu nhập cho họ khá<br /> tốt. Đặc thù trong sản xuất nông nghiệp với<br /> phương thức sản xuất chủ yếu là đất nên khi tích<br /> lũy được thu nhập thì người dân sẽ đầu tư vào đất<br /> để canh tác nhằm tăng thêm thu nhập. Theo số<br /> liệu có được từ cuộc điều tra thì trung bình nông<br /> hộ có 13.191 m2 đất nông nghiệp và người có<br /> nhiều nhất là 170.000 m2.<br /> <br /> thu nhập bình quân đầu người của Tỉnh là 32,077<br /> triệu đồng/người/năm. Tuy nhiên, thu nhập bình<br /> quân đầu người của nông hộ chỉ khoảng 20,17<br /> triệu đồng/người/năm (bằng 62,88% thu nhập<br /> bình quân chung). Đối với nông hộ ở An Giang,<br /> thu nhập từ nông nghiệp đóng vai trò quan trọng<br /> trong tổng thu nhập, chứng tỏ khả năng đa dạng<br /> hóa nguồn thu nhập là chưa cao.<br /> <br /> Khoảng cách trung bình từ nhà của nông hộ đến<br /> trung tâm thị tứ (nơi đặt trụ sở của các tổ chức tín<br /> dụng) là 12 km, khoảng cách này là không đáng<br /> kể nếu ở thành thị nhưng đối với vùng nông thôn<br /> thì không phải thế. Cũng chính vậy, các hộ nông<br /> dân ít được tham gia vay vốn ở các tổ chức tín<br /> dụng. Cụ thể, số tiền mà nông hộ vay được ở các<br /> tổ chức tín dụng trung bình 29,43 triệu đồng/năm,<br /> từ đó làm cho thu nhập của nông hộ tương đối<br /> thấp so với các hộ làm việc trong các lĩnh vực<br /> khác.<br /> <br /> Theo kết quả khảo sát ở Bảng 3, hầu hết các nông<br /> hộ đều có tham gia vay vốn từ các nguồn tín dụng<br /> chính thức, bán chính thức lẫn phi chính thức.<br /> Đáng lưu ý là có đến 391 hộ vay tín dụng chính<br /> thức (chiếm 65,38% số hộ được khảo sát) dưới hai<br /> hình thức chủ yếu là vay và mua chịu vật tư do<br /> khi vào vụ hay có nhu cầu cấp bách mà không tiếp<br /> cận được tín dụng chính thức. Mặt khác, khi đến<br /> hạn trả nợ vay chính thức nhưng chưa kịp thu<br /> hoạch sản phẩm, nông hộ phải vay tín dụng phi<br /> chính thức để trả, sau đó mới làm thủ tục xin vay<br /> lại. Mặc dù những năm gần đây, Chính phủ đã<br /> chú trọng phát triển hệ thống tín dụng nông thôn,<br /> <br /> Bảng . Ngu n va của nông hộ<br /> Ngu n vay<br /> <br /> Thông tin vay<br /> <br /> Lãi suất<br /> bình quân<br /> Số hộ (hộ) Tỷ trọng (%)<br /> (%/năm)<br /> <br /> Chính thức<br /> Bán chính thức<br /> <br /> 66<br /> <br /> 65,38<br /> 4,52<br /> <br /> 17,8<br /> 8,6<br /> <br /> Phi chính thức<br /> <br /> Theo số liệu từ cục thống kê An Giang, năm 2013<br /> <br /> 391<br /> 27<br /> 295<br /> <br /> 49,33<br /> <br /> 41,3<br /> <br /> Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 63 - 69<br /> <br /> Trường Đại học An Giang<br /> <br /> đặc biệt là số lượng tổ chức tín dụng chính thức<br /> ngày càng nhiều, hình thức xét duyệt cho vay<br /> cũng dễ hơn nhưng nông hộ vẫn vay tín dụng phi<br /> chính thức bởi thủ tục đơn giản, nhanh chóng,<br /> không cần thế chấp, số tiền vay và kỳ hạn linh<br /> hoạt. Tuy nhiên, lãi suất phải trả khi vay tín dụng<br /> phi chính thức khá cao so với tín dụng chính thức<br /> hay bán chính thức.<br /> <br /> ở An Giang. Kết quả ước lượng được trình bày<br /> trong Bảng 5<br /> Bảng 5. Kết quả ước lượng<br /> Biến phụ thuộc: THUNHAP – thu nhập của hộ (triệu<br /> đ ng/năm)<br /> Biến số<br /> Hằng số C<br /> <br /> Bảng 4. Rủi ro thường gặp của nông hộ ở An Giang<br /> Tiêu chí<br /> Giá sản phẩm thấp và<br /> không ổn định<br /> Mất mùa, dịch bệnh<br /> Thành viên trong gia đình<br /> ốm đau<br /> Thành viên trong gia đình<br /> bị mất việc làm<br /> Bị ảnh hưởng bởi thiên tai<br /> (lũ lụt, hạn hán, . . .)<br /> Tổng cộng<br /> <br /> Số quan<br /> sát<br /> 29<br /> 1<br /> 75<br /> <br /> HOCVAN<br /> <br /> Tỷ trọng<br /> (%)<br /> <br /> DIENTICHDAT<br /> <br /> 48,66<br /> <br /> TGCUTRU<br /> <br /> 12,54<br /> <br /> LAODONG<br /> <br /> 87<br /> <br /> 14,55<br /> <br /> VITRIXH<br /> <br /> 11<br /> 9<br /> <br /> 19,89<br /> <br /> 26<br /> <br /> 4,35<br /> <br /> 59<br /> 8<br /> <br /> 100,0<br /> 0<br /> <br /> KNVAY<br /> KCDOTHI<br /> TINDUNG<br /> LAISUAT<br /> Số quan sát (N)<br /> <br /> Bảng 4 cho thấy các nông hộ gặp khá nhiều rủi ro<br /> trong sản xuất và đời sống, trong đó rủi ro lớn<br /> nhất là giá sản phẩm thấp và không ổn định<br /> 48,66%. Trong đó, trên 80% nông hộ có thói quen<br /> bán sản phẩm cho thương lái và chịu sự chi phối<br /> của thương lái về giá cả, số lượng và chất lượng<br /> sản phẩm. Chỉ có chưa đến 10% nông hộ tiêu thụ<br /> sản phẩm thông qua hợp tác xã và khoảng 8%<br /> nông hộ bán sản phẩm trực tiếp ở các chợ địa<br /> phương, chủ yếu là các hộ sống gần thị tứ, thị<br /> trấn, thị xã hay thành phố. Điều này ảnh hưởng<br /> không nhỏ đến thu nhập của nông hộ bởi nông sản<br /> là nguồn thu chính của hộ. Nông hộ càng bị thiệt<br /> thòi hơn khi thương lái vừa là người mua, vừa là<br /> người cung cấp thông tin giá cả nên nắm quyền ấn<br /> định giá. Tiếp theo là rủi ro do số thành viên trong<br /> gia đình bị mất việc làm chiếm 19,89% đa phần<br /> do các ngành nghề ở nông thôn làm theo thời vụ<br /> nên khi hết vụ mùa thì lao động nhàn rỗi. Thực tế<br /> này cho thấy, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập<br /> sang lĩnh vực phi nông nghiệp để giảm thiểu rủi<br /> ro và đảm bảo thu nhập là hết sức cần thiết đối với<br /> nông hộ ở An Giang nói riêng và cả nước nói<br /> chung. Kế đến là rủi ro do mất mùa và dịch bệnh,<br /> ảnh hưởng đến 12,54% số nông hộ được khảo sát.<br /> <br /> R2<br /> <br /> Hệ số β<br /> 13,185***<br /> <br /> Giá trị P<br /> 0,000<br /> <br /> 2,478***<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 0,001***<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 3,840***<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> -2,075***<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> -0,411<br /> <br /> 0,704<br /> <br /> -0,832<br /> <br /> 0,515<br /> <br /> –0,177*<br /> <br /> 0,053<br /> <br /> 0,107***<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> –0,128**<br /> <br /> 0,020<br /> 598<br /> 0,4604<br /> <br /> R2 điều chỉnh<br /> <br /> 0,4521<br /> <br /> Giá trị kiểm định mô<br /> hình<br /> <br /> 0,0000<br /> <br /> Ghi chú: (**): có ý nghĩa ở mức 5%, (***): có ý<br /> nghĩa ở mức 1%, (*): có mức ý nghĩa 10%.<br /> Kết quả ước lượng cho thấy, mô hình có ý nghĩa<br /> rất cao (1%) và chỉ ra nhiều yếu tố có ảnh hưởng<br /> đến thu nhập của nông hộ ở An Giang. Đồng thời,<br /> mô hình cũng đã giải thích được 45,21% ý nghĩa<br /> sự biến động của biến độc lập lên biến phụ thuộc.<br /> Đầu tiên, biến HOCVAN có hệ số dương ở mức ý<br /> nghĩa 1%, cho thấy ảnh hưởng tích cực của trình<br /> độ học vấn của chủ hộ đến thu nhập của nông hộ.<br /> Tương tự, hệ số của biến DIENTICHDAT có giá<br /> trị dương ở mức ý nghĩa 1%, khẳng định tầm quan<br /> trọng của đất đai đối với thu nhập của nông hộ ở<br /> An Giang do tính thuần nông của các nông hộ ở<br /> đây.<br /> Biến LAODONG lại có hệ số âm ở mức ý nghĩa<br /> 1%. Đó là do, như vừa phân tích, nhiều lao động<br /> trong độ tuổi đi học nên không trực tiếp tạo ra thu<br /> nhập cho nông hộ. Ngoài ra, ở An Giang nói riêng<br /> và nước ta nói chung, sản xuất nông nghiệp phụ<br /> thuộc vào thời vụ, đất canh tác ngày càng thu hẹp<br /> nên thời gian nhàn rỗi nhiều (ở nông thôn An<br /> Giang, có đến 28,9% thời gian lao động chưa<br /> <br /> 4.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> Bài viết sử dụng phương pháp bình phương bé<br /> nhất (OLS) để ước lượng Mô hình (1) nhằm xác<br /> định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ<br /> <br /> 67<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2