
Cánh đồng bất tận, nhìn từ
mô hình tựsựvà ngôn ngữ
trần thuật
Trong sốnhững cây bút trẻmới xuất hiện gầnđây, Nguyễn Ngọc Tư
sớm gây đượcấn tượng bởi giọng vănđậm chất Nam Bộvới lối viết hồn
nhiên chân chất. Từtập truyệnđầu tay Ngọnđèn không tắtđến các
tậpBiển người mênh mông,Giao thừavà Nước chảy mây trôi, điểm dễthấy
là Ngọc Tưthường viết vềnhững câu chuyện nhỏnhẹ, man mác buồn.
Những chuyệnấyđều kểthật giản dị, chân thành cuộcđời, thân phận, nhỏ
hơn nữa là niềm vui, nỗi buồn, ước mong... của những con người nhỏbé,
thân thuộcđang vất vảmưu sinh giữa cuộcđời thường. Nhưng đến truyện
ngắnCánh đồng bất tậntrong tập truyện cùng tên, ngườiđọc thực sựngỡ
ngàng trước sựbứt phá của tác giả. Tác phẩm kết thúc một bước quá độ
dài để khẳng định sựtrưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư,đồng
thời cũng là một tín hiệuđáng mừng cho đời sống văn họcđương đại. Có lẽ
sẽlà quá sớmđể xếp cho truyện ngắn này một “chỗngồi” trang trọng, trong

bối cảnh đời sống văn họcđang có nhiều chuyển biến mau lẹvà hứa hẹn,
nhưng hiện giờ, việc tìm hiểu những “phẩm chất” thẩm mỹcủa nó thực sự
là cần thiết, nhưmột “bài học văn chương”(1).
Cánh đồng bất tậnlà một câu chuyện mở, một tác phẩmđược dệt bởi
sự đan cài giữa xúc cảm và suy tưởng của nhân vật chính trên phông nền
là cuộc sống của những kiếp người nhọc nhằn, tủi cực. Dựa vào sựvận
động của tâm lý nhân vật, hành trình khám phá tác phẩm là sựbóc tách từ
bình diện ngôn ngữtrần thuậtđến bình diện những tri nhận, ẩnứcđã lắng
đọng thành các biểu tượng ám ảnh đời sống nội tâm nhân vật.
Song có mộtđiều cần lưu ý là trong quá trình xây dựng biểu tượng,
cũng là dấu hiệu của sựtìm tòi và thểnghiệm cái mới, tác giảtiến hành
khái quát hóa dựa trên sự đan bện của cảquan hệtương đồng và quan hệ
đối lập trong khát vọng thểhiện một thếgiớiđa chiều, đa diện. Nghĩa là tác
giả đã làm mờnhòe lằn ranh giữa cái Thiện và cái Ác, cái Tốt và cái Xấu,
cái đáng trân trọng và cái đáng lên án... Trong thếgiớiấy có sựtồn tạiđan
xen đồng thời những phạm trù đối lập, cái nhân bản buộc phải chung sống
và chứng nhậnđau đớn sựtha hóa, băng hoại. Biểu tượng của tác phẩm
không trực hiệnmàẩn sâu trong tâm trạng giằng xé trước hiện thực cuộc
sống bộn bề. Tác phẩm thểhiện một thếgiới bấtđịnh, hơn thếcái xấu cái
ác lại có phần lấn lướt. Ở đó, tác giả đã dùng thủpháp đòn bẩy, nghĩa là
càng thểhiện sâu đậm cái bất thiện, chỉmặt gọi tên cái bất thiện, thì khao
khát hướng thiện càng mãnh liệt, và kéo theo nó bi kịch bịcựtuyệt quyền
được sống thiện càng giằng dai, nhức nhối. Đó chính là bình diện ý nghĩaở
bềsâu, phái sinh, là biểu tượng được xây dựng bằng mã tín hiệu khác:
nhân vật. Do đó, ý nghĩa rút ra từbiểu tượng chính là sựkhát khao, lòng
mong mỏiđến thiết tha, cháy bỏng (bất tận) rằng hãy bảo vệ, giữgìn những
giá trịngười, hãy chống lại sựtha hóa con người. Đó cũng là chiều sâu
nhân bản của tác phẩm.

Từsựlựa chọn mô hình tựsự...
Sửdụng thủpháp đòn bẩyđể thực hiện khát vọng khám phá đời sống
bấtđịnh ởphương diện chất nhân bản phổquát, con người sẽtồn tại thế
nào trước những xung lực khốc liệt của hiện hữuđang vây bọc, tác phẩm
mang trong mình phẩm chất của một tiểu thuyết. Một câu hỏiđượcđặt ra là
tác giả đã tiến hành xửlý nhưthếnào để vẫn có thểbao chứa trong khuôn
khổmột truyện ngắn? Đó là vấnđề lựa chọn cấu trúc tựsự.
Tác phẩm chia làm 8 đoạn, mỗiđoạn có tính độc lập tương đối với
toàn hệthống, được gắn kết thành chỉnh thểdựa vào ba hệhình: chuỗi sự
kiện nhân quả, thời gian tuyến tính và dòng chảy tâm lý nhân vật. Để thuận
lợi trong việc chỉra mô hình tựsựcủa truyện, chúng tôi tạm chỉra sựkiện
cơbản của từng đoạn:
Đoạn 1: Hai chịem cứu cô gái điếm
Đoạn 2: Cuộc sống của gia đình khi có thêm cô gái
Đoạn 3: Ký ức vềngày bà mẹbỏ đi
Đoạn 4: Cuộc sống lang thang sau ngày đó
Đoạn 5: Cuộc sống ởBàu Sen, cuộc tình của người cha với chịchủ
nhà
Đoạn 6: - Ký ức vềnhững cuộc tình khác của người cha
- Ký ức vềsự“bất thường” củaĐiền
- Cuộc sống của hai chịem từngày phát hiện ra tiếng Vịt
Đoạn 7: - Cuộc “trao đổi” của Sương để cứu gia đình
- Cuộc sống sau ngày Sương và Điền bỏ đi
Đoạn 8: Cuộcđốiđầu với bọn cướp vịt

Nếu quan niệm hệthống sựkiện là yếu tốcốt lõi của cốt truyện thì
trục vậnđộng chính của cốt truyện là quan hệnhân quả, “sau cái này tức là
nguyên nhân của cái này”(2). Từhệhình này, tức tính logic của quan hệ
nhân quảvà trật tựthời gian trong chuỗi sựkiện, thì cốt truyện củaCánh
đồng bất tậncó thể được sắp xếp nhưsau: đoạn 3 - 4 - 5 - 6 - 1 - 2 - 7 - 8.
Điều này cho thấy, bình diện sựkiệnđã bị đẩy xuống vai trò thứyếu. Nếu
xét ởbình diện dòng chảy tâm lý nhân vật: những ký ức chợtđến khi
Nương kểvới Sương câu chuyện gia đình mình, cốt truyện còn: đoạn 1- 2 -
3 - 4 - 5 - 6 - 7 (đoạn 1 được coi là bối cảnh, không có sợi dây lên kết với
đoạn 8). Điều này cho thấy từ đoạn 1 đếnđoạn7làmột hệthống hoàn
chỉnh, đoạn8làsựtiếp nối theo trật tựthời gian tuyến tính (tức là có sự
tham gia của một hệthống tựsựnữa).
Nhưvậy, tác giả đã lồng ghép hai hệthống tựsựvới ba mô hình cốt
truyện trong Cánh đồng bất tận. Trực diện với tác phẩm, cốt truyện sựkiện
đã ít nhiều bịphân rã và cốt truyện tâm lý đã có phần lấn lướt. Truyện như
một bức tranh ghép mảnh những mảng ký ức chắp nối, đứtđoạn của nhân
vật, rộng ra là sựlắp ghép những thân phận, mảnh đời của các nhân vật. Ở
đó nhân vật tan chảy thành dòng xúc cảm hỗnđộn giữa quá khứvà hiện
tại, tâm cảnh và ngoại cảnh... mà một sựphục dựng đầyđủ chỉcó được khi
ngườiđọcđã lậtđến trang cuối cùng. Điều này đem đến cho ngườiđọc cái
hứng thú được thểnghiệm “một hiện thực chưa hoàn kết”, được cùng theo
đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức là gia tăng sựtham gia của ngườiđọc
vào câu chuyện. Đó là khuynh hướng tựsựgiàu tính hiệnđại(3).
Theo logic của sựvậnđộng cốt truyện sựkiện, Nguyễn Ngọc Tưviết
gì trong Cánh đồng bất tận? Một ngườiđàn ông bịvợphụtình đâm ra căm
ghét đàn bà và say mê trong những ý định trảthù những người phụnữ
bước qua đời ông ta mà quên đi trách nhiệm của mình với hai đứa con rứt
ruộtđẻ ra. Đến một ngày, có một cô gái điếm len chân vào cuộcđời họ, làm
xáo lộn cuộcđời họ: thằng con đuổi theo hình bóng của cô gái không chịu
được sựbạc ác của người cha; đứa con gái trong tận cùng của tủi nhục và

đau đớn gắng chìa tay ra để kéo người cha vềphía thếgiới của mình
nhưng vô vọng. Hai cha con gần sát nhau trong cơn hoạn nạn mà vẫn
thuộc vềhai thếgiới xa cách. Mỗi người là khối cô đơn tuyệtđối không chỉ
đối với thếgiới của người khác mà ngay cả ở thếgiới của chính mình.
Xét riêng ởgóc độ cốt truyện nhưthế, tựnó chẳng thểhứa hẹnđem
đến một câu chuyện hay. Chẳng có gì để viết trong cái cốt truyệnấy nếu
không muốn mang đến một câu chuyện lên gân hay giáo huấn cứng đờ.
Nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã viết rất thành công. Dấu hiệu của ý định tối giản
cốt truyệnđến mức gần nhưkhông đủ sứcđể xâu chuỗi mạch truyệnđược
thểhiện khá rõ. Có lẽlà để phù hợp với khuôn khổcủa một truyện ngắn:
cắt bớt tình tiết bằng việcđẩy các nhân vật từbình diện có thểxuất hiện
trực tiếp sang gián tiếp nhưcác cuộc tình sau của người cha (đoạn 7), sự
lấn lướt của ngôn ngữtâm trạng so với ngôn ngữmiêu tả... Nhưng quan
trọng hơn là sức hút của mạch tâm trạng. Phải chăng, bịcuốn theo mạch
tâm tưmà tác giả đã lược quy nó thành ra nhưvậy. Bởiđến lượt người
đọc, hầu nhưhọcũng quên bẵng cái cốt truyệnấy. Họcũng bịcuốn theo
cái dòng chảy miên man của cảm xúc. Họtựnguyện nín lặng đuổi theo
những ý nghĩcứtừtừdồnđến rồi nghẹt cứng, căng đầy, ứmọng đến ngộp
thở. Bởi họcảm thấy, như đang sống cuộc sống của chính họ, rằng Ngọc
Tư đang dẫn mình đi trên sợi dây căng mảnh nhưdây đàn, bước mạnh sẽ
đứt, bước chậm sẽmất thăng bằng, sơý sẽngã, và nhưthếlà tựloại mình
ra khỏi trò ú tim của khát vọng được theo đuổiđể khám phá cái mặt khuất
của chính mình. Nhưvậy, kỹthuật tựsự đã đượcđẩy sang bình diện mới,
nghĩa là cốt truyện sựkiệnđã bịphân rã và thay thếvào đó là một cốt
truyện khác - cốt truyện tâm lí. Không khí truyện của Ngọc Tư, vì thế,ẩn
chứa bên trong sựdồn nén cái sức mạnh của bộc phá. Ngườiđọc dễdãi
không đọcđược Ngọc Tư, người yếu bóng vía, nhất là người không dám
sống thật với lòng mình không thể đọc văn chị được. Đòi hỏi sựchân thành
từphía ngườiđọc, đó là bài học nhân sinh đầu tiên của người nghệsỹchân
chính nên cũng là giá trịnhân bản trước nhất của một tác phẩm nghệthuật.

