ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
LÃ THỊ KIM UYÊN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG, QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
LÃ THỊ KIM UYÊN
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG, QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K47 - Thú y N02
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Minh Thuận
Thái Nguyên, năm 2019
i
LỜI CẢM ƠN
Để bản khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành, trước tiên, em xin
chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn
nuôi Thú y cùng tập thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt và tạo
điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian
thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Ths.Nguyễn
Thị Minh Thuận đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tận tình để em hoàn
thành đợt thực tập tốt nghiệp và khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân tại Công ty Cp
khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh đã tạo điều kiện giúp
đỡ cho em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã
luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập tại trại, vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế,
chỉ dựa vào các kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên khóa luận
không tránh khỏi sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý
thầy cô để giúp cho bản khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội
đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2019
Sinh viên
Lã Thị Kim Uyên
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. i
MỤC LỤC ...................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................... iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT........................................................................ v
Phần 1 MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ......................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu .................................................................................................. 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ........................................................ 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ........................................................................... 3
2.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 3
2.1.2. Điều kiện khí hậu .................................................................................. 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại .......................................................................... 4
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại ........................................................................... 4
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại .............................................................. 6
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề ............................................................ 6
2.2.1. Đối với lợn nái ...................................................................................... 6
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con .............................................................. 18
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
TIẾN HÀNH ................................................................................................ 25
3.1. Đối tượng tiến hành ................................................................................ 25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................. 25
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................. 25
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện .................................... 25
iii
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ............................................................................ 25
3.4.2. Phương pháp theo dõi ......................................................................... 26
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................... 26
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN........................................................ 27
4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại........................................................................... 27
4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi
tại trại ............................................................................................................. 28
4.2.1. Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại ... 28
4.2.2. Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng .................................................................................................... 29
4.2.3. Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn con tại trại ..... 29
4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn ............................ 31
4.3.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ................... 31
4.3.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin ......... 32
4.4. Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại .......... 33
4.4.1. Kết quả chuẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nái ............................. 33
4.4.2. Kết quả chuẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ .............. 35
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................ 38
5.1. Kết luận .................................................................................................. 38
5.2. Đề nghị ................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 40
MỘT SỐ ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của công ty từ năm 2017 đến tháng 05/2019
....................................................................................................................... 27
Bảng 4.2. Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng
thực tập .......................................................................................................... 28
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại ................................... 29
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con .................... 30
Bảng 4.5. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ............ 31
Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại ........................ 32
Bảng 4.7: Tình hình mắc bệnh trên lợn nái tại trại ....................................... 33
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái .......................................... 34
Bảng 4.9: Tình hình mắc bệnh trên lợn con theo mẹ .................................... 35
Bảng 4.10. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con ....................................... 36
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP: Cổ phần
Cs: Cộng sự
G: Gam
Kg: Kilogam
M: Mét
Mm: Minimet
S: Giây
Nxb: Nhà xuất bản
Ths: Thạc sĩ
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò rất quan
trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Hiện nay, bên
cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ lẻ,
hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy mô lớn như trang trại ngày càng
được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài,
nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn chăn
nuôi tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn đã trở thành một trong
những ngành chính mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hộ chăn nuôi nói riêng
và cho xã hội nói chung. Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công
nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể
gây nên thiệt hại đáng kể. Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường
xuyên xảy ra ở các quy mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và
chất lượng đàn lợn. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những
nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh
hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch
bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất.
Xuất phát từ những đòi hỏi trên, chúng em tiến hành chuyên đề: “Áp
dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản
và lợn con theo mẹ tại Công ty cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận
Tường, Quảng Ninh”.
2
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu
- Xác định được tình hình chăn nuôi của trại.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con.
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái và lợn con.
- Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp trên lợn nái và
lợn con.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại.
- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại
Công ty đạt hiệu quả cao.
- Thực hiện được quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại.
- Thực hiện được việc chẩn đoán và điều trị được một số bệnh thường
gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ của trại.
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
Trại lợn nái sinh sản của Công ty Cp khai thác khoáng sản Thiên
Thuận Tường nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Phường Cửa Ông có địa hình khá phức tạp, phía
bắc là những dải núi cao. Độ cao trung bình 600m, thuộc cánh cung bình
phong Đông Triều - Móng Cái.
Phía đông giáp sông Mông Dương, huyện Vân Đồn.
Phía tây giáp phường Cẩm Phú, xã Dương Huy.
Phía nam giáp biển.
Phía bắc giáp phường Mông Dương
2.1.2. Điều kiện khí hậu
Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó, trại lợn của Công
ty Cp khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường cũng chịu ảnh hưởng chung
của khí hậu vùng.
- Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là
390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 120C.
- Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm là 2.567,8 mm/năm. Lượng
mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa
mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập
trung vào mùa mưa, chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô thì
lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 20% tổng lượng mưa cả năm.
- Độ ẩm: độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình tháng
thấp nhất đạt 78% (tháng 10) và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất
đạt 88% (tháng 3).
4
- Bão, giông: mỗi năm tỉnh Quảng Ninh (trong đó có thành phố Cẩm
Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 - 6 cơn bão, năm nhiều có thể lên tới 9 -
10 cơn bão. Bão thường tới cấp 8 - 9, đặc biệt đã có những cơn bão mạnh cấp
12. Tháng 7, tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh. Các cơn
giông thường xảy ra trong mùa hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày.
- Chế độ gió mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau
thường chịu ảnh hưởng của gió bắc, đông bắc, mỗi tháng từ 3 - 4 đợt. Mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió nam, đông nam. Tốc độ gió trung
bình năm là 3 - 3,4 m/s.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 13 người, trong đó có:
+ 01 quản lý trại là giám đốc công ty.
+ 01 trưởng trại.
+ 02 kĩ thuật hỗ trợ của thức ăn chăn nuôi De Heus.
+ 01 kế toán.
+ 01 bảo vệ.
+ 3 công nhân.
+ 01 cấp dưỡng.
+ 03 sinh viên thực tập.
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại
- Trại lợn của Công ty Cp khai thác khoảng sản Thiên Thuận Tường
có khoảng 6,5 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công
nhân, bếp ăn, vườn ổi, vườn rau và các công trình phục vụ cho công nhân và
các hoạt động khác của trại.
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợp
ngói đỏ; có một dãy nhà ở là nhà hai tầng rất khang trang và sạch sẽ.
5
- Khu nhà ăn xây dựng sạch sẽ. Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp
ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn.
- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và
chăn nuôi gà. Trong đó, khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại
cho gần 600 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorshire, Duroc
được nhập từ nước ngoài về. Về chăn nuôi gà chủ yếu nuôi các giống gà đẻ
trứng như: gà Ai Cập, gà Lương Phượng.
- Trại được chia làm hai khu: khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều
hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân. Khu sản
xuất gồm: 2 chuồng nái đẻ, 1 chuồng nái chửa, 1 chuồng đực giống, 1
chuồng hậu bị, 1 chuồng cai sữa và 2 chuồng lợn thương phẩm. Một số công
trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng pha
tinh, phòng sát trùng.
- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và tự động hoàn toàn.
Trang thiết bị trong chuồng hiện đại, được nhập từ Đan Mạch. Đầu mỗi
chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió. Riêng
đối với chuồng nái đẻ thì cuối chuồng còn có hệ thống xử lý mùi và trong
chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ.
- Hệ thống chăn nuôi có silo thức ăn tự động từ chuồng nái chửa,
chuồng nái đẻ, chuồng cai sữa đến chuồng hậu bị nên tiết kiệm được nhân
lực và mang lại hiệu quả sản xuất cao.
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống
cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác.
- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều
được đổ bê tông và có hố sát trùng.
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ
thống thoát nước ngầm.
6
- Xung quanh trại còn trồng rau, cây ăn quả, đào ao thả cá tạo môi
trường thông thoáng.
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại
* Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường
giao thông.
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có
tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm
với công việc.
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện
đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
* Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa
bệnh cao.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng
cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại.
- Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi với khí hậu Việt Nam
kém, đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc đặc biệt.
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước
có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1. Đối với lợn nái
2.2.1.1. Đặc điểm của một số giống lợn ngoại nuôi tại trại
* Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], nguồn gốc của giống lợn
này được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh. Lợn Yorkshire có
lông trắng ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai
7
to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn 4
chân dài chắc chắn, có 14 vú. Da của lợn Yorkshire có màu trắng, tuy nhiên
thỉnh thoảng có một số nốt đen.
Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng
thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 650 - 750 g/con/ngày,
tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc/thịt
xẻ từ 55% - 59%.
Lợn có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ trung bình 10 - 11 con/lứa,
khối lượng sơ sinh đạt 1,1 - 1,2 kg/con.
* Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], giống lợn nổi tiếng Landrace
được tạo ra ở Đan Mạch năm 1895.
Giống lợn có năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức
ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng bình quân 750
g/con/ngày. Tỷ lệ nạc 59%. Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320
kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao, nuôi con khéo.
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế.
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [24] cho biết, một
trong những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn
lai tạo với nhau. Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại
Landrace và Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều
tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính:
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể
phát triển căn bản đã hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các
phản xạ về sinh dục). Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng.
8
Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về
tính là khác nhau.
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới
tuổi động dục. Mùa thu - đông lợn thành thục nhanh hơn so với mùa hè.
Điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với
mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự
do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14
ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng
trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm
chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc
ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.
+ Mật độ nuôi nhốt: đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian
phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Cần tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt
đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu của Paul Hughes và James
Tilton (1996) [30] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể
sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm. Ngoài
những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng
đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu lợn cái hậu bị thường xuyên tiếp
xúc với lợn đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn cái hậu bị không tiếp xúc
với lợn đực giống. Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với
lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn hậu bị động dục lần
đầu (Muirhead M., Alexander T., 2010) [35].
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác
nhau. Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], tuổi thành thục tính dục ở
lợn cái nội (Ỉ, Móng Cái) vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các
giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire) tuổi thành thục về tính muộn hơn từ 6
- 7 tháng tuổi.
9
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của
lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên
động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [7].
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên. Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng. Noãn
bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin dưới tác
dụng của thần kinh, hormone, áp suất. Lợn thường rụng 20 - 30 tế bào trứng
1 lần.
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra. Màng trên bị xẹp xuống
đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng. Tạo nên những nếp nhăn trên
vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng. Xoang chứa
đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra. Dịch và máu đọng lại và
lấp đầy xoang của tế bào trứng. Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu
vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số
lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh. Trong các tế bào hạt
có chứa lipoit và sắc tố màu vàng. Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy
tế bào hạt (gọi là tế bào lutein). Sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã
hình thành nên thể vàng. Thể vàng tiết ra progesterone. Thời gian tồn tại của
thể vàng từ 3 - 15 ngày. Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng
đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần. Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong
suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ.
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do
kết quả của quá trình tế bào trứng rụng. Do sự thay đổi hàm lượng các kích
tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch.
Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra.
10
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở
trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng
nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản
lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh. Gặp con đực không kháng cự,
tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi
về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn,
đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ nhất
là lúc tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi
rõ rệt.
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [23], chu kỳ động dục của
gia súc thường chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn
bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số
lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử
cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn
chưa cao.
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp
mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều
lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.
- Giai đoạn động dục:
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], giai đoạn này dài hay ngắn
tùy theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3 - 4 ngày, lợn ngoại và lợn
lai thường kéo dài 4 - 5 ngày.
11
Phạm Khánh Từ và cs. (2014) [26] cho biết, thời gian của giai đoạn
này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bào các biến đổi của cơ
quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ
rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng
phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn,
kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng
con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực
thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một
bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống, sẵn sàng chịu đực.
- Giai đoạn sau động dục:
Lúc này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo
lại, đuôi cụp không cho con đực phối, ăn uống tốt hơn.
- Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất trong cả chu kỳ sinh dục, con vật không có
biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho
chu kỳ động dục tiếp theo.
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp
tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình
thành bào thai. Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có
chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao
nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm nhẹ ở 3 tuần đầu, sau đó, duy trì ổn định
trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục. Trước khi đẻ 1 - 2 ngày,
progesterone giảm đột ngột. Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở
mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến
khi đẻ thì tăng cao nhất. Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114
ngày (Jose Bento S. và cs., 2013) [28].
12
2.2.1.3. Chăm sóc lợn nái thời gian chửa đến cai sữa
* Quy trình chăm sóc nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi ở chuồng nái chửa 1 và chuồng nái chửa 2.
Hàng ngày vào chuồng kiểm tra lợn để phát hiện: lợn phối giống
không đạt, lợn bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để lợn
nằm đè lợn phân, tra cám cho lợn, rửa máng, xịt gầm, phun thuốc sát trùng
hàng ngày, chở phân ra khu xử lý phân. Cho lợn nái chửa ăn các loại thức ăn
De Heus mã 3030, 3060 với khẩu phần ăn như sau:
- Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn mã 3030 với
tiêu chuẩn nái hậu bị là 1,8 - 2,0 kg/con/ngày, nái cơ bản là 1,8 - 3,5
kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn mã 3060
với tiêu chuẩn nái hậu bị là 2,2 kg/con/ngày, nái cơ bản là 3,0 - 3,2
kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn mã 3060 với tiêu chuẩn nái
hậu bị là 1,5 - 2,2 kg/con/ngày, nái cơ bản là 2,0 - 2,5 kg/con/ngày, cho ăn 2
lần trong ngày.
* Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10
ngày. Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, cần chuẩn bị chuồng đẻ. Tẩy rửa
vệ sinh, khử trùng toàn bộ chuồng và để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi
chuyển lợn vào. Chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát, có đầy
đủ ánh sáng. Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu
mỗi ô chuồng và mỗi nái chửa có một phiếu theo dõi về tình hình chửa được
kẹp vào bảng. Lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:
- Nái đẻ sau 1 - 3 ngày ăn thức ăn mã 3060 với tiêu chuẩn nái hậu bị là
2,0 - 3,0 kg/con/ngày, nái cơ bản là 2,5 - 4,0 kg/con/ngày, cho ăn 3 - 4 lần
trong ngày.
13
- Nái đẻ sau 4 - 6 ngày ăn thức ăn mã 3060 với tiêu chuẩn nái hậu bị là
4 - 6 kg/con/ngày, nái cơ bản là 5 - 6,5 kg/con/ngày, cho ăn 3 - 4 lần trong ngày.
- Nái đẻ sau 1 tuần ăn thức ăn mã 3060 theo nhu cầu ăn tự do, cho ăn
3 - 4 lần trong ngày.
- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn
xuống 0,5 kg/con/bữa.
- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 6
kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 8 giờ, chiều lúc 16 giờ, tối lúc 24 giờ,
mỗi bữa tăng lên 0,5kg.
Chuẩn bị ô úm lợn con: ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác
dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh
lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi
phục. Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc
biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con
lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con.
Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con. Kích
thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m. Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để
trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
2.2.1.4. Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái
* Bệnh sót nhau
- Nguyên nhân:
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], do đẻ nhiều lứa hoặc nhiều
con/lứa nên tử cung co bóp yếu không đẩy thai và nhau ra được. Do viêm
niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung. Do nhau chưa ra
hết, người đỡ đã kéo đứt còn một ít sót lại trong tử cung. Do lợn con còn sót
lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau.
14
- Triệu chứng: sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không ra
hết là bị sót nhau. Thấy lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 -
410C trong vòng 1 - 2 ngày, cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra
có màu đục, lẫn máu.
Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta
thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số
lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không.
- Điều trị: tiêm oxytocin (2 ml/ngày) dưới da để kích thích co bóp tử
cung đẩy nhau ra hết, trường hợp không đẩy được cần tiến hành thủ thuật
bóc nhau rồi tiêm kháng sinh phòng kế phát amoxicillin - LA (1 ml/10 kg
thể trọng), tiêm hanalgin - C hạ sốt kết hợp thụt rửa tử cung bằng nước muối
sinh lý 0,9%. Điều trị 3 - 5 ngày.
* Hiện tượng đẻ khó:
Theo Lê Minh và cs. (2017) [15], hiện tượng đẻ khó xuất hiện dưới
nhiều hình thức và do nhiều nguyên nhân gây ra.
Trường hợp đẻ khó do nguyên nhân từ cơ thể mẹ có thể liên quan đến
một số vấn đề sau: do tử cung co bóp và sức rặn đẻ của mẹ yếu; hoặc các phần
mềm như cổ tử cung, âm đạo, âm hộ giãn nở không bình thường; hoặc hệ thống
khung xoang chậu hẹp hay biến dạng; hoặc tử cung bị xoắn, hay bị vặn.
Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của
gia súc mẹ vừa yếu vừa ngắn. Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:
- Cơ co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra
trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát.
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ
mạnh nhưng không có kết quả.
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di
chuyển được. Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường,
15
quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu
vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ. Cần can
thiệp để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [33].
Trường hợp gia súc đẻ khó có nguyên nhân do bào thai, đó là: thai quá
to không phù hợp với xoang chậu; hoặc chiều, hướng, tư thế của thai không
bình thường; hoặc thai dị hình hay quái thai.
Điều trị: khi phát hiện có những biểu hiện chuẩn bị cho việc sinh sản,
thường dùng thuốc han - prost 0,7 ml/con và theo dõi trong khoảng 3 - 4 giờ
mà không thấy lợn con ra, lúc đó tiến hành bằng phương pháp ngoại khoa là
dùng tay móc thai ra. Sau khi móc thai ra ngoài hết, tiêm oxytocin có thành
phần oxytetracylin có tác dụng chống viêm nhiễm sau đẻ.
* Bệnh viêm tử cung:
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [8], thì viêm tử cung là một quá
trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm hủy
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở
gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc
cái. Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó
viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung.
Qua khảo sát của Trần Ngọc Bích và cs. (2016) [3], về tình hình viêm
nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số
loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch
nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%.
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái. Nếu không được
chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái (Lê
Thị Tài và cs., 2000) [20].
16
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2002) [12], Lê Minh và cs. (2017) [15],
Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung ở lợn nái
thường do:
- Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối trực tiếp hoặc gia súc đực bị viêm
cơ quan sinh dục.
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ
hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai phát triển không bình thường...
- Trong trường hợp đẻ khó, nuôi dưỡng kém thời kỳ hồi phục tử cung
sau khi đẻ không đảm bảo vệ sinh, sát nhau, giãn cổ tử cung, âm đạo tích
chất bẩn, tích nước tiểu, những thao tác kỹ thuật lúc đỡ đẻ không đảm bảo vệ
sinh gây sát niêm mạc tử cung.
- Kế phát do sót nhau hoặc từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo,
tiền đình, bàng quang, các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao... thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng
viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%,
mùa thu 43,70% (Nguyễn Thị Hồng Minh, 2014) [14].
Kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Thanh (2007) [21], tình hình mắc
bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc
Bộ cho thấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ
36,57% tới 61,07%. Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa
thứ 8.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [5], khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy
thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoặc mất
sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục
trở lại.
17
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức
năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di
chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như:
Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng). Các độc tố của vi khuẩn, vi
trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có
thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non
(Lê Văn Năm, 1999) [16].
Triệu chứng:
Theo Đặng Đình Tín (1986) [25], Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [8],
cho biết triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng
hoặc xám và có mùi tanh. Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử
cung giảm nhẹ.
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu
rỉ sắt và có mùi thối khắm. Con vật rất đau kèm lợn triệu chứng viêm phúc
mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn.
Điều trị bệnh:
Theo Nguyễn Văn Điều (2015) [34], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị
bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7
ngày. Tiêm amoxicillin - LA 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ. Đây
là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao.
Đối với lợn nái sau khi đẻ, sảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung
bằng dung dịch iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2
ngày đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ. Sau
khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước
sinh lý) hay 4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày
liên tiếp vào tử cung. Đồng thời, tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1
18
lần) nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài. Tiêm
kháng sinh phổ rộng chống viêm như: terramycin LA, amoxicillin - LA 3 lần
liên tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ. Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như:
urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và
canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: Ketovet,…
Theo Smith B. B. và cs. (1995) [32], Popkov (1999) [18], chữa bệnh
viêm tử cung bằng cách sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng
treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao:
streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000 UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml +
VTM C.
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch nước
ethacridine 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
* Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng
thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ
thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống và tăng
trọng lượng theo tuổi giảm (Pensaet MB de Bouck P. A., 1978) [31].
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], lợn con giai đoạn bú sữa có
khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh. So với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng
đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự
giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt
19
đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời
gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn
khủng hoảng của lợn con. Lợn con sinh trưởng nhanh nên khả năng tích lũy
các chất dinh dưỡng rất mạnh. Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này
bằng cách tập cho lợn con ăn sớm.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa:
Cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về
cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa.
Trọng lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột
non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều
dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần. Lúc đầu, trọng lượng dạ dày chỉ là 6 - 8 g
và chứa được 35 - 50 g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc
lợn con đạt 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 - 1.000 g sữa
(Nguyễn Quang Linh, 2005) [13].
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl
trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.
Nhờ vậy, nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu
của lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh chứa albumin
và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày
không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có
tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn
thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con
trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
20
Enzyme trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên
lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có
enzyme, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các
loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn nữa,
dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa
nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung
sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con.
* Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó, việc điều tiết thân nhiệt và năng
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh
dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó, sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần
đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng. Đây là mâu
thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của
lợn mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh
dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh.
Vì vậy, nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng
hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa.
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen
dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác
diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao
nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống
rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
21
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện
thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [19], lợn con mới đẻ ra trong cơ
thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn
con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là
hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay
ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao. Những ngày đầu
mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin
chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%). Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy
sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn
con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào. Quá trình hấp thu
nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian. Nó chỉ
có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi
đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitrypsin làm mất hoạt lực của men
trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng,
cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu
lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa
đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần,
sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con
tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100 ml máu (máu
bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100 ml máu), do đó lợn
con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa
22
đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những
lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ
chết cao.
2.2.2.2. Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Tiêu chảy
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [22], tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng
của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh,
nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa,
ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi
tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu
phần ăn. Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh
đặc thù (Archie Hunter, 2000) [1].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng (2013) [6], ở các tháng có
nhiệt độ thấp và ẩm độ cao, tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy cao (26,98% - 38,18%).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đức Hạnh (2013) [10], lợn con ở 1
số tỉnh phía bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và
5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất là ở lợn
con giai đoạn từ 21 - 40 ngày (30,97% và 4,93%) và giảm ở giai đoạn từ 41 -
46 ngày.
Nguyên nhân:
Theo Sa Đình Chiến và Cù Hữu Phú (2016) [4], phương thức chăn
nuôi truyền thống có tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy là 31,1% và tỷ lệ chết chiếm
23,4%. Phương thức chăn nuôi công nghiệp tỷ lệ mắc là 33,8% và tỷ lệ chết
chiếm 21,5%.
Nguyễn Anh Tuấn và cs. (2013) [27] đã nghiên cứu và cho biết: vi
khuẩn E. coli và Salmonella là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong
hội chứng tiêu chảy ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp.
23
Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E. coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 -
14 ngày tuổi (Nagy B, Fekete PZS, 2005) [29].
Triệu chứng:
Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng. Hậu môn ướt
đỏ, lợn sút cân nhanh chóng. Dáng đi siêu vẹo. Người lợn con bị bẩn do dính
phân. Vú lợn mẹ dính phân lợn con.
Điều trị: tiêm enrotis - LA 1 ml/20 - 40 kg thể trọng kết hợp tiêm
atropin (1 ml/5 - 7,5 kg thể trọng) chống co thắt, giảm đau. Điều trị 3 - 5 ngày.
* Viêm phổi
Nguyên nhân: do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô
hấp. Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời
tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm. Bệnh thường lây lan do nhốt
chung với con nhiễm bệnh.
Triệu chứng: lợn con gầy còm, lông xù, thở thể bụng, lợn không tranh
bú được nên ngày càng gầy yếu.
Đến nay, chưa có phương pháp gì đặc biệt thông dụng để chẩn đoán
bệnh viêm phổi truyền nhiễm khi lợn đang sống. Bởi vậy, cần dựa vào kết
quả nghiên cứu dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, kết quả mổ khám và chẩn
đoán cơ sở chuyên ngành (Lê Văn Năm, 2013) [17].
Điều trị: tiêm hanflor LA (1 ml/20 kg thể trọng) kết hợp tiêm hanalgin - C.
Điều trị 3 - 5 ngày.
* Viêm khớp
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus
suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh này thường
gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi. Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng,
cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu
24
gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến. Ở các tổ chức cư trú, chúng
sống và nhân lên trong tế bào monocoyte, rồi di chuyển vào xoang dịch não
tủy gây nên viêm màng não, hoặc có thể thông qua con đường nhiễm trùng
huyết để xâm nhập vào màng não, khớp xương và các mô khác (Nguyễn Bá
Hiên và cs., 2012) [11].
Triệu chứng: lợn con bị viêm khớp đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi,
khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy
ra lúc 2 - 5 tuần tuổi. Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp
bàn chân. Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn,
chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết,
2015) [36].
Trương Quang Khải và cs. (2012) [9] đã xác định khả năng mẫn cảm
với kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S. suis phân lập được ở lợn mắc bệnh
viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho kết quả các chủng vi khuẩn mẫn cảm cao
với ceftiofur (90,2%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) …
Điều trị: tiêm amoxicillin - LA (0,5 - 1 ml/con), calmaphos (1 ml/con)
bổ sung caxi kết hợp hanalgin - C hạ sốt.
25
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1. Đối tượng tiến hành
- Đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại Công ty Cp khai
thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Công ty Cp khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường,
Quảng Ninh.
- Thời gian: Từ ngày 20/11/2018 đến ngày 25/05/2019.
3.3. Nội dung thực hiện
- Điều tra cơ cấu đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại
Công ty.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản
và lợn con theo mẹ nuôi tại Công ty.
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con
theo mẹ.
- Phát hiện và điều trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và
lợn con theo mẹ.
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng Công ty.
- Số lượng lợn được chẩn đoán và điều trị bệnh.
- Tỷ lệ mắc bệnh :
số con mắc bệnh Tỷ lệ mắc bệnh (%) = x 100 số con theo dõi
26
- Tỷ lệ khỏi:
số con khỏi bệnh Tỷ lệ khỏi (%) = x 100 số con điều trị
3.4.2. Phương pháp theo dõi
* Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại
Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, chúng em tiến hành thu thập
thông tin từ trại, kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi của bản thân.
* Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn
nái và lợn con nuôi tại trại
Chúng em sử dụng quy trình đang được áp dụng cho đàn lợn nuôi tại
trại và theo dõi, đánh giá hiệu quả.
* Phương pháp xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu
quả quy trình phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con nuôi tại trại
Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái, lợn con. Chúng em
tiến hành theo dõi hàng ngày thông qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng.
Bằng mắt thường đánh giá qua biểu hiện lâm sàng như trạng thái cơ thể, bộ
phận sinh dục ngoài, các dịch rỉ viêm (màu sắc, mùi...), tình trạng sức khỏe
lợn con, khả năng vận động...
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 2007.
27
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại
Hiện nay, theo đánh giá của Công ty chăn nuôi Cp Việt Nam Công ty
Thiên Thuận Tường được đánh giá vào mức khá, lợn nái của trại có số lứa
đẻ trung bình/năm là 2,45 - 2,5, số con sơ sinh là 11,90 con/lứa.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 27
ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn khác của Công ty.
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của công ty từ năm 2017
đến tháng 05/2019
Số lượng (con)
STT
Loại lợn
01- 05/2019
2018
2017
35
22
15
Lợn đực giống
1
290
196
265
Lợn nái hậu bị
2
492
406
435
Lợn nái sinh sản
3
4
Lợn con
9776
10.987
5.449
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trang trại)
Qua bảng 4.1 cho thấy số lượng lợn nái sinh sản có xu hướng tăng
giảm qua các năm nhưng không đồng đều. Cụ thể năm 2017 là 435 con, năm
2018 số nái sinh sản tăng lên 57 con so với năm 2017 là 492 con nhưng đến
tháng 5 năm 2019 số nái sinh sản giảm chỉ còn 406 con. Tương tự, nái hậu bị
cũng tăng khá cao từ 265 con năm 2017 đến năm 2018 là 290 nhưng đến
tháng 5 năm 2019 số nái hậu bị giảm xuống còn 196 con, mục đích chính là
nhằm thay thế số lợn loại thải hằng năm vì nhiều nguyên nhân như già yếu,
sức sinh sản kém, bệnh tật... Nguyên nhân là do giá bán lợn thấp kéo dài nên
trại giảm số nái nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra.
28
4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi
tại trại
4.2.1. Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
Trong thời gian về thực tập và làm việc tại trại em đã được phân công
vào làm chuồng đẻ và được tham gia trực tiếp các quá trình chăm sóc nuôi
dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. Kết quả được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2. Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6
tháng thực tập
Nái đẻ sinh sản
Số lượng lợn con
Tháng
12
15
175
1
17
203
2
15
172
3
16
190
4
18
218
5
10
125
Tổng
91
1083
Kết quả bảng 4.2 cho thấy trong thời gian em thực tập tại trại số lợn
nái đẻ, nuôi con được em chăm sóc và nuôi dưỡng là 91 con tương ứng với
tổng số lợn con là 1083 con theo mẹ.
Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và
khả năng sinh sản của lợn nái. Do vậy đòi hỏi người chăn nuôi cần phải chú
ý đến các khâu có liên quan đến quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau thời
gian thực tập bản thân em cũng đã rút ra được rất nhiều những kinh nghiệm
cho bản thân từ cách phân chia khẩu phần ăn, quy trình chăm sóc cả lợn mẹ
và lợn con cho đến vệ sinh chuồng trại nhằm hạn chế dịch bệnh.
29
4.2.2. Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng
Để đánh giá tình hình sinh sản của đàn lợn nái, em tiến hành theo dõi
91 lợn nái. Kết quả được trình bày ở bảng 4.3.
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại
Số nái đẻ khó
Số nái đẻ
Số nái đẻ bình
Tháng
Tỷ lệ (%)
phải can thiệp
Tỷ lệ (%)
(con)
thường (con)
(con)
12
15
15
100
0
0
1
17
17
100
0
0
2
15
14
93,33
1
6,67
3
16
16
100
0
0
4
18
17
94,44
1
5,56
5
10
9
90,00
1
10,00
91
88
96,70
3
3,30
Tổng
Từ kết quả bảng 4.3 cho thấy là tình hình sinh sản của đàn lợn nái
trong 6 tháng em được phân công quản lý trong thời gian thực tập tại trại
như sau: có 91 nái đẻ thì trong đó có 88 nái đẻ bình thường chiếm tỷ lệ
96,70%, có 3 nái đẻ khó phải can thiệp chiếm tỷ lệ 3,30%. Nhìn chung tình
hình sinh sản của đàn lợn nái rất ổn định, khả năng sinh sản tốt, ít phải can
thiệp. Sở dĩ tỷ lệ nái phải can thiệp thấp là do quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
của trại tốt, hợp lý, không để lợn nái quá gầy hoặc quá béo, thức ăn đủ dinh
dưỡng hợp lý đảm bảo cho quá trình phát triển bào thai và sức khỏe của đàn
lợn nái sinh sản.
4.2.3. Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn con tại trại
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, chúng em vừa được tham gia
chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn vừa được học và làm một số các thao tác trên
30
lợn con như đỡ lợn đẻ, mài nanh, bấm số tai, thiến lợn đực... Kết quả được
trình bày ở bảng 4.4.
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con
Kết quả
Số con
Số con thực
Tỷ lệ thực
Tỷ lệ an
STT
Công việc
theo dõi
toàn(%)
hiện
hiện
(con)
(con)
(%)
91
91
100
100
1 Đỡ lợn mẹ đẻ
Mài nanh, cắt đuôi,
1083
993
91,69
100
3
tiêm sắt
1083
256
23,64
100
4 Bấm số tai
487
450
92,40
100
5 Thiến lợn đực
Bảng 4.4 cho thấy, trong suốt thời gian thực tập, em đã thực hiện được
các công việc như sau.
Em đã đỡ đẻ cho 91 lợn mẹ sinh con ra đời an toàn và đúng kỹ thuật.
Vì lợn con sau khi sinh cần phải mài nanh luôn (1 - 3 ngày) nếu không
trong quá trình lợn con bú sữa sẽ làm tổn thương vú lợn mẹ cũng như tránh
việc lợn con cắn nhau tranh bú. Em cũng đã thực hiện mài nanh cho 993 lợn
con được em đỡ đẻ, đạt tỷ lệ an toàn 100%.
Bấm tai đối với lợn con được chọn làm giống, nên bấm sớm để vết
thương nhanh liền, ít chảy máu và giảm stress cho lợn con nên công việc
bấm tai cũng hết sức quan trọng. Em đã tham gia bấm tai cho 256 lợn con và
an toàn 100%.
Thực hiện thiến lợn đực vào 5 ngày tuổi, số lợn em thực hiện được là
450 con và an toàn 100%.
Qua những công việc trên, em học hỏi được thêm rất nhiều kinh
nghiệm trong chăm sóc lợn con, đặc biệt là có thể nâng cao tay nghề về các
31
thao tác kỹ thuật trên lợn con, đồng thời giúp em mạnh dạn hơn, tự tin hơn
vào khả năng của mình, hoàn thành tốt công việc được giao.
4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn
4.3.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại
Trong các biện pháp phòng chống dịch bệnh, việc vệ sinh, sát trùng
nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại và tiêu diệt mầm bệnh là một trong những
biện pháp hữu hiệu và được thực hiện ở tất cả các trại chăn nuôi. Công tác
vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng. Nếu công
tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát
triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn. Vì
vậy, để góp phần bảo vệ đàn lợn, trong 6 tháng thực tập, chúng em đã
thường xuyên tiến hành vệ sinh, sát trùng chuồng trại, khử trùng dụng cụ
chăn nuôi và tắm sát trùng trước và sau khi vào khu chăn nuôi.
Kết quả được trình bày cụ thể ở bảng 4.5.
Bảng 4.5. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại
Đơn vị
Số
Số lần thực
Tỷ lệ hoàn thành
STT
Công việc
tính
lượng
hiện (lần)
nhiệm vụ (%)
Vệ sinh chuồng trại hàng
1
Lượt/ngày
1
180
100
ngày
Phun thuốc sát trùng
2
trong chuồng và xung
Lượt/tuần
2
50
100
quanh chuồng trại
3 Quét và rắc vôi đường đi Lượt/ngày
1
90
100
4 Tắm sát trùng
Lượt/ngày
2
360
100
Bảng 4.5 cho thấy, trong 6 tháng thực tập, chúng em luôn nỗ lực hoàn
thành tốt tất cả các công việc do quản lý, kỹ sư và các cán bộ kỹ thuật của
trang trại giao cho. Vệ sinh sát trùng được xem là một khâu hết sức quan
32
trọng, nhận thức được điều này, chúng em đã cố gắng thực hiện, mặc dù đây
cũng là một trong những công việc vất vả, với một khối lượng công việc lớn
như vậy mà trước khi vào trang trại, chúng em chưa từng phải thực hiện.
Qua đó, em đã biết được cách thực hiện việc vệ sinh, sát trùng trong chăn
nuôi như thế nào cho hợp lý nhằm hạn chế được dịch bệnh cũng như nâng
cao sức đề kháng cho vật nuôi.
4.3.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin
Kết quả của việc áp dụng quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin
cho đàn lợn con tại trại được trình bày qua bảng 4.6.
Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại
Bệnh được
Số con
Tỷ lệ an
Ngày tuổi
Vắc xin
Liều dùng
phòng
được tiêm
toàn (%)
(ml)
Cầu trùng
Nova-coc 5%
993
100
3
1
Mycoplasma
Suyễn + Viêm đa
7
hyopneumoniae +
991
100
2
xoang
Glasser 1
14
Hội chứng còi cọc Circo pigvac
980
100
2
21
Viêm đa xoang
Glasser 2
915
100
2
Kết quả bảng 4.6 cho thấy: Trong quá trình thực tập, em đã trực tiếp
tham gia tiêm phòng vắc xin cho 100% số lợn con được kỹ sư giao và sau
khi phòng. Lợn con 3 ngày tuổi được nhỏ vắc xin phòng bệnh cầu trùng với
liều 1 ml/con tương ứng với 2 lần nhỏ, em đã thực hiện nhỏ vắc xin trên 993
lợn con, kết quả 100% an toàn. Lợn con 7 ngày tuổi được phòng bệnh suyễn
kết hợp với bệnh viêm đa xoang, kết quả em đã tiêm vắc xin cho 991 con
(100% an toàn), lợn con 14 ngày tuổi được tiêm phòng hội chứng còi cọc,
33
kết quả em đã tiêm vắc xin cho 980 con (100% an toàn), lợn 21 ngày tuổi sẽ
tiêm nhắc lại vắc xin phòng bệnh viêm đa xoang và em đã thực hiện tiêm
vắc xin cho 915 con (100% an toàn).
4.4. Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại
4.4.1. Kết quả chuẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nái
Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái được trình bày ở bảng 4.7.
Bảng 4.7: Tình hình mắc bệnh trên lợn nái tại trại
Chỉ tiêu
Số nái
Số nái mắc bệnh
Tỷ lệ (%)
Tên bệnh
theo dõi (con)
(con)
9,89
9
Viêm tử cung
2,20
2
Sót nhau
91
3,30
3
Hiện tượng đẻ khó
Bảng 4.7 cho thấy: Bệnh viêm tử cung là hay gặp nhất với 9 nái mắc
bệnh (chiếm 9,89%) nguyên nhân thường do quá trình đẻ khó phải can thiệp
sử dụng thủ thuật để móc lấy thai làm tổn thương niêm mạc tử cung gây
viêm, mặt khác do trong quá trình phối giống cho lợn nái bằng phương pháp
thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật đã làm sây sát niêm mạc tử cung, tạo
điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển và gây bệnh; 2 nái bị sót nhau
(2,20%) nguyên nhân là do nái bị viêm tử cung và co bóp tử cung yếu; 3 nái
có hiện tượng đẻ khó (3,30%) nguyên nhân chủ yếu là do nái già.
Dưới sự hướng dẫn của kỹ sư trại, em đã trực tiếp tham gia điều trị
cho các lợn mắc bệnh trên, kết quả điều trị được thể hiện ở bảng 4.8.
34
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái
STT Tên bệnh
Số lợn điều trị (con)
Phác đồ điều trị
Số lợn điều trị khỏi (con)
Tỷ lệ khỏi (%)
Oxytocin 2ml/ngày; cồn Iod
10% làm sạch tử cung
Bệnh viêm
1
9
Amoxicillin-LA
8
88,89
tử cung
10ml/con/ngày
Điều trị 3-5 ngày
Oxytocin 2ml/ngày
Amoxicillin-LA
10ml/con/ngày
2
Sót nhau
2
2
100
Hanalgin-C 10ml/con/ngày
Điều trị 3-5 ngày
Oxytocin 2ml
Hiện tượng
3
3
3
100
Han-prost 0,7ml
đẻ khó
Kết quả bảng 4.8 cho thấy: kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn
nái nuôi con tại trại có tỷ lệ khỏi bệnh là khá cao.
Số lượng lợn nái mắc bệnh viêm tử cung được điều trị là 9 con, dùng
kháng sinh amoxicillin - LA với liều 10 ml/con/lần trong 3 ngày liên tục,
dùng oxytocin để đẩy dịch viêm ra ngoài với liều 2 ml/con/lần, kết hợp với
thụt rửa bằng cồn iod 10% ngày 2 lần, kết quả điều trị khỏi 8/9, đạt 88,89%,
còn 1 con nái viêm quá nặng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sản sau này nên
tiến hành loại thải.
Bệnh sót nhau, điều trị 2 con, dùng oxytocin liều 2 ml/con/lần để đẩy hết
nhau ra, trường hợp không đẩy được cần tiến hành thủ thuật bóc nhau, rồi tiêm
kháng sinh amoxicillin - LA liều 10 ml/con/lần, tiêm hanalgin - C 10ml/con/ngày
và kết hợp thụt rửa tử cung 3 - 5 ngày, kết quả điều trị khỏi 2/2 đạt 100%.
35
Số lợn nái xảy ra hiện tượng đẻ khó là 3 con, em đã can thiệp thành
công 3 ca đẻ khó, đạt 100%. Biện pháp can thiệp em đã áp dụng là: khi phát
hiện có những biểu hiện chuẩn bị cho việc sinh sản, thường dùng thuốc han - prost
0,7 ml/con và theo dõi trong khoảng 3 - 4 giờ mà không thấy lợn con ra, lúc đó
chúng em tiến hành bằng phương pháp ngoại khoa là dùng tay móc thai ra.
Sau khi móc thai ra ngoài hết, tiêm oxytocin có thành phần oxytetracylin có
tác dụng chống viêm nhiễm sau đẻ. Số ca can thiệp an toàn đạt 100%.
4.4.2. Kết quả chuẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ
Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con được trình bày ở bảng 4.9.
Bảng 4.9: Tình hình mắc bệnh trên lợn con theo mẹ
Chỉ tiêu
Số lợn con theo
Số lợn con mắc
Tỷ lệ
Tên bệnh
dõi (con)
bệnh (con)
(%)
Bệnh viêm phổi
125
11,54
Bệnh tiêu chảy
1083
175
16,16
Bệnh viêm khớp
27
2,49
Qua bảng 4.9. cho thấy: Lợn con ở trại mắc bệnh tiêu chảy là cao nhất
(175 con) chiếm 16,16%, nguyên nhân là do lợn con mới đẻ ra sức đề kháng
yếu dễ chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh bên ngoài, đặc biệt vào những
ngày mùa đông nhiệt độ xuống thấp cần phải có ổ úm và bóng điện sưởi cho
lợn con. Cách khắc phục tốt nhất để hạn chế lợn con mắc bệnh tiêu chảy là
cho lợn con bú sữa đầu ngay sau khi đẻ và giữ ấm cơ thể lợn con.
Bên cạnh đó, việc thời tiết lạnh mà lợn con không được giữ ấm sẽ
khiến lợn mắc một số bệnh về đường hô hấp như viêm phổi, ngoài ra còn do
quá trình vệ sinh chuồng nuôi chưa được tốt, không khí trong chuồng nuôi
nhiều bụi bẩn, thức ăn quá khô hoặc bị mốc sinh nhiều bụi cũng dẫn tới viêm
36
phổi, chính vì vậy làm cho số lợn con mắc bệnh viêm phổi cũng khá cao. Có
125 lợn con bị bệnh viêm phổi, chiếm 11,54%.
Bên cạnh những bệnh hay gặp thì có 27 con mắc bệnh viêm khớp
chiếm 2,49%.
Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con theo mẹ thể hiện qua bảng 4.10
Bảng 4.10. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con
Số lợn
Số lợn mắc
Số lợn
Tỷ lệ
Phác đồ
tiêu
STT Tên bệnh
và điều
điều trị khỏi
khỏi
điều trị
hủy
trị (con)
(con)
(%)
(con)
Hanflor LA:
1ml/con/ngày.
Hanagin-C:
1 Viêm phổi
125
120
5
96,00
1ml/con/ngày
Tiêm bắp
Điều trị từ 3 - 6 ngày
Enrotis-LA:
1ml/con/ngày
2 Tiêu chảy
175
Atropin: 1ml/con/ngày
167
8
95,43
Tiêm bắp
Điều trị 3 - 5 ngày
Amoxicillin-LA:
1ml/con/ngày
Calmaphos:
1ml/con/ngày
3 Viêm khớp
27
24
3
88,89
Hanalgin-C:
1ml/con/ngày
Tiêm bắp
Điều trị trong 3 - 5 ngày
Kết quả bảng 4.10 cho thấy: kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn
con theo mẹ tại trại có tỷ lệ khỏi bệnh cũng khá cao.
37
Đối với bệnh viêm phổi có 125 con được điều trị, trong đó có 120 con
khỏi bệnh đạt tỷ lệ 96,00%. Bệnh tiêu chảy có 175 con được điều trị, trong
đó có 167 con khỏi bệnh đạt tỷ lệ 95,43%. Điều trị cho 27 con bị viêm khớp,
trong đó điều trị khỏi 24 con, đạt tỷ lệ 88,89%.
Qua chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái và lợn con, em nhận thấy:
để giảm tỷ lệ mắc bệnh chúng ta phải đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi, khi
thời tiết nóng ta phải tăng quạt thông gió, bật giàn mát, đóng kín cửa tránh
nhiệt độ bên ngoài ùa vào làm ảnh hưởng đến tiểu khí hậu trong chuồng
nuôi, làm tăng nhiệt độ trong chuồng.
Thực hiện tốt công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ, có thao tác
đỡ đẻ khoa học để giảm bớt tỷ lệ mắc các bệnh. Ngoài ra việc lựa chọn được
loại thuốc phù hợp sẽ đem lại hiệu quả điều trị cao và giảm chi phí điều trị
bệnh, từ đó giúp nâng cao năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi.
38
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
Về hiệu quả chăn nuôi của Công ty:
- Hiệu quả chăn nuôi của Công ty khá tốt. Trung bình lợn nái của trại
sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm, số con sơ sinh là 11,9 con/đàn.
- Những chuyên môn đã được học tại Công ty:
Qua 6 tháng thực tập tại trại, em đã được học hỏi và được chỉ bảo rất
nhiều điều về kiến thức thực tế cũng như các thao tác kỹ thuật trong chăm
sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn. Những công việc em đã được
học và được làm trực tiếp tại Công ty như:
+ Đỡ lợn nái đẻ được 91 con.
+ Mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt cho lợn con được 993 con.
+ Bấm số tai 256 con.
+ Thiến lợn đực được 450 con.
+ Tham gia vào công tác chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn con và
đàn lợn nái đạt kết quả cũng khá cao từ 88,89% trở lên.
+ Tham gia vào công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn con.
+ Tham gia vào quy trình vệ sinh sát trùng , chăm sóc, nuôi dưỡng đàn
lợn con và lợn mẹ của trại (cho lợn ăn, tắm chải cho lợn mẹ, dọn vệ sinh
chuồng…) đạt hiệu quả cao và hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao.
5.2. Đề nghị
Công ty cần thực hiện tốt hơn nữa quy trình vệ sinh phòng bệnh và
quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái để giảm tỷ lệ lợn nái mắc các
bệnh về sinh sản.
Thực hiện tốt công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ, có thao tác đỡ
đẻ khoa học để giảm bớt tỷ lệ mắc các bệnh về đường sinh sản ở lợn nái.
39
Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y tiếp tục cho các
sinh viên khóa sau về các trại thực tập để có được nhiều kiến thức thực tế và
nâng cao tay nghề trước khi ra trường.
40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Archie Hunter (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh,
Nguyễn Đức Tâm dịch), Nxb Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 204 - 207.
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thiṭ,
Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 29 - 35.
3. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016),
“Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và
hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ
thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56.
4. Sa Đình Chiến, Cù Hữu Phú (2016), “Một số đặc điểm bệnh tiêu chảy của
lợn con dưới 2 tháng tuổi ở Sơn La”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y,
tập XXIII (số 2), tr. 40 - 44.
5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con, Nxb Nông
nghiệp, TP Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn
E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và
biện pháp phòng trị, Luận án thạc sỹ khoa học Nông nghiệp.
7. Khuất Văn Dũng (2005), Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối
loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một
vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái nuôi tại nông trường
Hữu Nghị Việt Nam - Mông Cổ, Ba Vì, Hà Tây, Luận văn thạc sĩ Nông
nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
8. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo
trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
41
9. Trương Quang Khải, Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Quang Tuyên, Cù
Hữu Phú, Lê Văn Dương (2012), “ Kết quả phân lập và xác định một số
dặc tính sinh học của các chủng Streptococcus suis và Pasteurella
multocida ở lợn mắc bệnh viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí
KHKT thú y, 19 (4), tr. 42 - 46.
10. Trần Đức Hạnh (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia
coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn nái tại
3 tình phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp.
11. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Bệnh truyền nhiễm thú y,
Nxb Nông nghiệp, tr. 398 - 407.
12. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), “Bệnh phổ
biến ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn
nuôi tập 4 - 52.
13. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
14. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu
lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng
MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội.
15. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La
Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
16. Lê Văn Năm (1999), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.
17. Lê Văn Năm (2013), Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn, Nxb Lao
động - Xã hội, Nông nghiệp.
18. Popkov (1999), “Điều tri viêṃ tử cung”, Tạp chí Khoa học Thú y, tập
XII (số5), tr. 9 - 15.
19. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004),
Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
42
20. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và
trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
21. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử
cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc
Bộ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV (số 3), tr. 38 - 43.
22. Phạm Ngọc Thạch (1996), Một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng ở gia
súc, viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông
nghiệp, Hà Nội, tr. 20 - 32.
23. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 196.
24. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Thị Xuân (2016), “Năng suất sinh sản của
hai tổ hợp lợn nái giữa lợn nái Landrace phối hp với đực giống
Yorkshire và lợn nái Yorkshilre phối hợp với đực giống Landrace”, Tạp
chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, số 65, tr. 54 - 61.
25. Đặng Đình Tín (1986), Sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Nxb Nông
nghiệp Hà Nội.
26. Phạm Khánh Từ, Hoàng Nghĩa Duyệt, Dư Thanh Hằng, Đào Thị
Phượng, Nguyễn Văn Chào, Nguyễn Thị Lộc (2014), “Khả năng sinh
trưởng và sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi ở vùng gò
đồi huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế.
27. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Bá Hiệp (2013), “ Vai trò của Escherichia
coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau
cai sữa nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp”, Tạp chí khoa học
và phát triển 2013, tập 11 (3), 318 - 327.
43
II. Tài liệu tiếng Anh
28. Jose Bento S., Ferraz and Rodger K., Johnson (2013), Animal Model
Estimation of Genetic Parameters and Respones to Selection for Litter
Size and Weight, Growth and Backfat in Closed Seedstock Populaions
of Large White and Landrace Swine, Department of Animal Science,
University of Nebraska, Lincoln 68583 - 0908.
29. Nagy B., Fekete P. Z. S. (2005), “Enterotoxigenic Escherichia coli in
veterinary medicine”, Int. J. Med. Microbiol., p. 443 - 454.
30. Paul Hughes, James Tilton (1996), Maximising pigs production and
reproduction, Campus, Hue University of Agriculture and Forestry,
September.
31. Pensaet MB de Bouck P. A. (1978), “New coronavirus - like
particleassociated with diarrhea in swine”, Arch. Virol., p. 243 - 247.
32. Smith B. B., Martineau G. B., Bisaillon, A. (1995), Mammary gland and
lactation problems in disease of swine, 7th edition, Iowa state
university press, p. 40 - 57.
III. Tài liệu internet
33. Trần Văn Bình (2010), http://pharmavet.vn/?tab=forum&id=1350, truy
cập ngày 16/9/2019.
34. Nguyễn Văn Điều (2015), CB- Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở
lợn nái sinh sản, http://nongdan.com.vn/kien-thuc-ky-thuat/cb-kinh-
nghiem-xu-ly-benh-viem-tu-cung-o-lon-nai-sinh-san-4731.html, truy cập
ngày 11/10/2019.
35. Muirhead. M., Alexander. T. (2010), Reproductive System, Managing
Pig Health and the Threat of Disease, https://thepigsite.com/anatomy-
and-physiology/reproductive-system, truy cập ngày 26/9/2019.
36. Nguyễn Ánh Tuyết (2015), Bệnh viêm khớp trên lợn con,
http://nguoichannuoi.vn/benh-viem-khop-tren-heo-con-fm471.html, truy
cập ngày 11/10/2019.
MỘT SỐ ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Ảnh 1: Thuốc Amoxicillin-LA Ảnh 2: Mài nanh lợn con
Ảnh 3: Nhỏ cầu trùng (nova-coc 5%) Ảnh 4: Điều trị lợn con tiêu chảy
Ảnh 5: Tiêm vắc xin mycoplasma Ảnh 6: Thực hiện đỡ đẻ
Ảnh 7: Tiêm sắt cho lợn con Ảnh 8: Thiến lợn đực

