1492
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG TÍN CHỈ CARBON
Nguyễn Ái Thạch(1)
TÓM TẮT:
Việc phân tích chính sch hiện hnh về th trờng tín chỉ carbon tại Việt Nam l rất quan trọng
góp phần chng bin đổi khí hậu (BĐKH). Bên cạnh đó, nghiên cứu đ đề xuất cc giải php nhằm
pht trin th trờng tín chỉ carbon mt cch hiệu quả, giảm pht thải khí nh kính. Cc giải php
bao gồm hon thiện chính sch php lý, xây dựng sở dữ liệu quc gia v nâng cao nhận thức
cng đồng, doanh nghiệp. Điều ny yêu cầu sự chung tay, phi hp chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh
nghiệp v cc tổ chức quc t cùng vi việc p dụng cc công nghệ tiên tin v phơng php quản
lý khoa học.
Từ khoá: Bin đổi khí hậu, chính sch, giảm pht thải, th trờng tín chỉ carbon.
ABSTRACT:
Analyzing current policies on the carbon credit market in Vietnam is crucial to combating climate
change. In addition, the study has proposed solutions to effectively develop the carbon credit market
and reduce greenhouse gas emissions. The solutions include improving legal policies, building a
national database, and raising public and business awareness. This requires close cooperation
between the government, businesses, and international organizations, along with applying advanced
technologies and scientific management methods.
Keywords: Carbon credit market, climate change, emissions reduction, policies.
1. Giới thiệu
Hiện nay, một trong những thách thức cấp bách nhất ảnh hưởng đến thế giới con người giải
quyết vấn đề BĐKH. Theo Bách khoa toàn thư Britannica, BĐKH thể được định nghĩa “sự biến
đổi định kỳ của khí hậu trái đất do những thay đổi trong khí quyển cũng như sự tương tác giữa khí
quyển và nhiều yếu tố địa chất, hoá học, sinh học địa lý khác trong hệ thống trái đất” (Rafferty,
2010). Nồng độ CO2 trong khí quyển đã đạt mức cao nhất mọi thời đại là 417 phần triệu và nhiệt độ
trung bình của trái đất đã tăng 1,0 - 1,1oC kể từ thời kỳ công nghiệp hoá (1850 - 1900). Theo nhiều
1. Trường Đại học Tiền Giang. Email: nguyenaithach@tgu.edu.vn
1493
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
báo cáo lặp đi lặp lại của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) (IPCC, 2021; 2022), nồng độ CO2
và các khí nhà kính khác trong khí quyển ngày càng tăng chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên liệu
hoá thạch. Một kịch bản dự báo hiện tại của thế giới liên quan đến mức tăng nhiệt thêm 2,8oC vào
năm 2050 theo Báo cáo “Emission Gap Report 2021”. Các nghiên cứu gần đây của quan Quản
Khí quyển Đại dương Quốc gia (NOAA) và Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA)
cho thấy rằng năm 2010 đến năm 2019 là thập kỷ nóng nhất kể từ khi bắt đầu lưu giữ hồ (NOAA,
2021). Hơn nữa, phân tích cũng chỉ ra rằng vào năm 2019, nhiệt độ đại dương đạt mức cao nhất từ
trước đến nay, khiến năm 2019 trở thành năm nóng thứ hai trong hồ sơ khí hậu 140 năm của NOAA,
chỉ sau năm 2016. BĐKH vấn đề toàn cầu với những tác động nghiêm trọng, từ việc phân phối
hàng hoá đến các vấn đề về môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị.
Trong bối cảnh này, thị trường tín chỉ carbon đã nổi lên như một giải pháp hiệu quả để hỗ trợ các
nỗ lực giảm thiểu khí thải. Đây là một cơ chế tài chính cho phép các quốc gia và doanh nghiệp giao
dịch giấy phép phát thải khí nhà kính, từ đó khuyến khích các thực thể tham gia giảm lượng khí thải
bằng cách tạo ra giá trị kinh tế cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Việt Nam đã nhận thức rõ tầm
quan trọng của việc giảm thiểu khí thải carbon trong quá trình phát triển bền vững. Chính phủ Việt
Nam đã cam kết mạnh mẽ trong việc tham gia vào các nỗ lực toàn cầu nhằm ứng phó với BĐKH,
thể hiện qua việc tham gia vào Hiệp định Paris đề ra các mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Nhưng
để hiện thực hoá các cam kết này, Việt Nam cần xây dựng một khung chính sách rõ ràng hiệu quả
cho thị trường tín chỉ carbon. Tín chỉ carbon một giấy chứng nhận hoặc đơn vị đo lường tương ứng
với việc giảm phát thải hoặc hấp thụ một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính tương đương khác.
Đây là một công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng trong các hệ thống giao dịch phát thải carbon
nhằm khuyến khích các tổ chức nhân giảm lượng phát thải của mình. Các tín chỉ carbon thường
được giao dịch trên các thị trường carbon, nơi mà các quốc gia hoặc doanh nghiệp có thể mua hoặc
bán quyền phát thải. Những đơn vị phát thải có thể bán tín chỉ carbon nếu họ giảm được lượng phát
thải dưới mức giới hạn quy định, trong khi các đơn vị vượt quá mức phát thải được phép có thể mua
thêm tín chỉ để đắp lượng phát thải vượt mức. Mục tiêu của tín chỉ carbon thúc đẩy các hoạt
động giảm phát thải khí nhà kính, hỗ trợ các dự án phát triển bền vững tạo ra một động lực kinh tế
để giảm thiểu tác động của BĐKH. Bài viết này sẽ tổng hợp chính sách về thị trường tín chỉ carbon
ở nước ta và từ đó đề xuất những hướng phát triển thị trường này trong thời gian tới.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng
Bài viết tập trung phân tích về những vấn đề lý luận, quy định pháp luật về cách thức xác định
giá trị tín chỉ carbon trong việc hướng tới việc khai thác và phát triển bền vững. Từ đó, đề xuất các
giải pháp cải thiện thị trường tín chỉ carbon.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong bài viết này phương pháp phân tích tài
liệu, chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường nghiên cứu về thị trường
tín chỉ carbon. Bên cạnh đó, phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng để đề xuất các khuyến nghị
hướng đến nền tảng phát triển giá trị tín chỉ carbon.
1494
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Chính sách về giảm phát thải và thị trường tín chỉ carbon của Việt Nam
Việt Nam đã cam kết loại bỏ điện than - chiếm khoảng 37% tổng điện năng trên thế giới trong
năm 2019 - và là nhiên liệu đóng góp lớn nhất vào BĐKH. Một liên minh mới các quốc gia cam kết
đặt ra thời hạn chấm dứt sử dụng dầu mỏ khí đốt đồng thời ngừng cấp giấy phép thăm mới
cũng được ra mắt tại COP26. Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp
Quốc về BĐKH (COP26) tại Glasgow, Scotland (Vương quốc Anh), với việc tái khẳng định duy trì
mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu ngưỡng 1,5oC theo Hiệp định Paris. Qua Hiệp ước
Glasgow, 197 quốc gia thành viên trong hiệp định chống BĐKH Paris cam kết “tăng tốc các nỗ lực
hướng tới giảm thiểu điện than và loại bỏ trợ cấp dành cho nhiên liệu hoá thạch có hiệu suất kém”.
Mục tiêu này đòi hỏi phải cắt giảm lớn lượng khí thải CO2 một cách nhanh chóng và bền vững, bao
gồm giảm 45% lượng phát thải CO2 vào năm 2030 so với mức năm 2010 về 0 vào khoảng giữa
thế kỷ, cũng như giảm sâu phát thải các khí nhà kính khác. Hiệp ước bao gồm một nội dung quan
trọng, kêu gọi việc “giảm dần điện than không sử dụng công nghệ thu giữ carbon trợ cấp nhiên
liệu hoá thạch không hiệu quả”, đồng thời thừa nhận “sự cần thiết phải hỗ trợ để hướng tới một quá
trình chuyển đổi công bằng”. Đây được xem bước ngoặt lớn bởi lần đầu tiên nhiên liệu hoá
thạch được đề cập tại một thoả thuận của Hội nghị thượng đỉnh khí hậu Liên Hợp Quốc. Hiệp ước
yêu cầu các quốc gia vào cuối năm 2022 phải “xem xét lại củng cố” các mục tiêu cắt giảm khí
thải năm 2030, “có tính đến các hoàn cảnh quốc gia khác nhau”, để thực hiện mục tiêu hạn chế gia
tăng nhiệt độ toàn cầu ở mức “dưới 2oC” hoặc 1,5oC theo Hiệp định Paris. Đây là một bước tiến bởi
theo các thoả thuận khí hậu trước đây của Liên Hợp Quốc, các quốc gia được yêu cầu đệ trình các kế
hoạch này, còn gọi đóng góp quốc gia tự quyết (NDC), 5 năm một lần. Hiệp ước nhấn mạnh sự cần
thiết phải huy động tài trợ khí hậu từ mọi nguồn để đạt mức cần thiết nhằm hiện thực hoá các mục
tiêu của Hiệp định Paris, bao gồm việc tăng đáng kể hỗ trợ cho các nước đang phát triển, vượt quá
100 tỷ USD mỗi năm; đồng thời thúc giục các nước phát triển khẩn trương hoàn thành mục tiêu 100
tỷ USD đã cam kết cũng như mục tiêu đến năm 2025 nhấn mạnh tầm quan trọng của tính minh
bạch trong việc thực hiện cam kết của các nước này. Hiệp ước cũng thúc giục các nước phát triển
đến năm 2025 tăng ít nhất gấp đôi tài trợ thích ứng với BĐKH cho các nước đang phát triển so với
mức năm 2019. Trong khi các nước phát triển chịu trách nhiệm đối với phần lớn khí thải nhà kính,
các nước đang phát triển lại chịu những tác động tồi tệ nhất của BĐKH. Tổn thất và thiệt hại - một
vấn đề quan trọng đối với các nước đang phát triển - đã được đưa vào Hiệp ước, với việc kêu gọi
các nước phát triển và các tổ chức khác hỗ trợ nhiều hơn các quốc gia dễ bị tổn thương để ứng phó
với những tác động nghiêm trọng của BĐKH giải quyết những thiệt hại do các hiện tượng thời
tiết cực đoan và nước biển dâng. Hiệp ước khẳng định tính cấp thiết của việc mở rộng quy mô hành
động và hỗ trợ, nếu phù hợp, bao gồm tài trợ, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực, để thực
hiện các phương pháp tiếp cận nhằm ngăn chặn, giảm thiểu giải quyết tổn thất thiệt hại liên
quan đến các tác động bất lợi của BĐKH các nước đang phát triển đặc biệt dễ bị tổn thương bởi
những tác động này (An Bình, 2021).
Luật Bảo vệ môi trường 2020: Luật này tạo ra nền tảng bản pháp cho các hoạt động giảm
phát thải khí nhà kính, bao gồm việc kiểm kê khí nhà kính, xây dựng kế hoạch giảm phát thải, và tổ
chức thị trường tín chỉ carbon trong nước.
1495
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Theo Điều 91. Giảm nhẹ pht thải khí nh kính
- Khoản 1. Các khí nhà kính chính carbon dioxide (CO2), methane (CH4) nitrous oxide (N2O).
Các khí hàm lượng thấp nhưng tiềm năng cao gây hiệu ứng nhà kính hydrofluorocarbons
(HFCS), perfluorocarbons (PFCS), sulphur hexafluoride (SF6) và nitrogen, trifluoride (NF3).
- Khoản 2. Nội dung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính bao gồm:
a) Tổ chức thực hiện hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và hấp thụ khí nhà kính theo lộ
trình, phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện của đất nước và cam kết
quốc tế;
b) Kiểm kê khí nhà kính đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc
gia, cấp ngành, lĩnh vực và cấp cơ sở có liên quan;
c) Kiểm tra việc tuân thủ quy định về kiểm khí nhà kính, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính,
việc thực hiện cơ chế, phương thức hợp tác về giảm nhẹ phạt thải khí nhà kính;
d) Xây dựng và triển khai cơ chế, phương thức hợp tác về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù
hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên;
đ) Tổ chức và phát triển thị trường carbon trong nước.
Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính bảo vệ tầng ô-dôn:
Theo Điều 7. Mục tiêu, l trình v phơng thức giảm nhẹ pht thải khí nh kính
- Khoản 1. Mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong
Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho
các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất lâm nghiệp, quản chất thải, các quá trình
công nghiệp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Khoản 2. Bộ Tài nguyên Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, quan liên quan định
kỳ cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định theo Thoả thuận Paris về BĐKH, trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt.
- Khoản 3. Các bộ quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này tổ chức xây dựng, ban hành kế
hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính lĩnh vực thuộc phạm vi quản cho giai đoạn đến hết năm
2030, phân kỳ thực hiện đến năm 2025; thực hiện các biện pháp quản lý để đạt được mục tiêu giảm
nhẹ phát thải khí nhà kính quy định tại Đóng góp do quốc gia tự quyết định.
- Khoản 4. Các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này thực hiện giảm nhẹ phát thải
khí nhà kính theo kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp cơ sở và theo lộ trình sau đây:
a) Cung cấp thông tin, số liệu hoạt động phục vụ kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở, xây dựng và
thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở;
b) Giai đoạn từ năm 2026 đến hết năm 2030, thực hiện kiểm kê khí nhà kính, xây dựng và thực
hiện kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo hạn ngạch do Bộ Tài nguyên Môi trường phân
bổ phù hợp với mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; được phép trao đổi, mua bán hạn ngạch
phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon trên sàn giao dịch tín chỉ carbon.