
1602
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠO SỰ CHUYỂN BIẾN MẠNH MẼ
TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chu Trường Chinh(1)
TÓM TẮT:
Nguồn nhân lực chất lng cao l b phận cấu thnh nguồn nhân lực của quc gia, có vai trò
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng v pht trin đất nc. Trong xu th hi nhập v pht trin hiện
nay, hp tc quc t về gio dục trở thnh yêu cầu khch quan, tất yu, l cơ sở, điều kiện đ pht
trin nguồn nhân lực chất lng cao đp ứng yêu cầu của cuc cch mạng công nghiệp lần thứ t,
góp phần quan trọng trong xây dựng nền kinh t s v hi nhập quc t. Bi vit tập trung lm rõ
mt s vấn đề về nguồn nhân lực v nguồn nhân lực chất lng cao, trên cơ sở đó đnh gi những
tc đng v đề xuất mt s đnh hng giải php nhằm đẩy mạnh hp tc quc t tạo sự chuyn bin
mạnh mẽ trong pht trin nguồn nhân lực chất lng cao ở nc ta hiện nay.
Từ khoá: Gio dục đo tạo, hp tc quc t, nguồn nhân lực, nhân lực chất lng cao.
ABSTRACT:
High-quality human resources are a component of the nation's human resources, playing
an important role in the cause of national construction and development. In the current trend of
integration and development, international cooperation in education has become an objective and
inevitable requirement, the basis and condition for developing high-quality human resources to meet
the requirements of the fourth industrial revolution, contributing significantly to the construction of
a digital economy and international integration. The article focuses on clarifying a number of issues
on human resources and high-quality human resources, on that basis assessing the impacts and
proposing a number of orientations and solutions to promote international cooperation to create a
strong change in the development of high-quality human resources in our country today.
Keywords: Education and training, international cooperation, human resources, high quality
human resources.
1. Trường Đại học Trần Đại Nghĩa. Email: chutruongchinh1984@gmail.com

1603
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
1. Giới thiệu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba đột phá chiến lược nhằm phát triển đất nước trong
điều kiện mới, điều đó đòi hỏi giáo dục và đào tạo không chỉ là “quốc sách hàng đầu” mà còn là
“động lực then chốt để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021 b, tr.136). Hiện nay,
trước yêu cầu phát triển kinh tế số, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế đã và
đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao cho quá trình phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, đẩy mạnh hội nhập quốc
tế nhất là hội nhập quốc tế về giáo dục không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo mà còn là cơ sở, điều kiện, là tiền đề tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ở
nước ta hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Một số vấn đề về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Trên thực tế, mỗi quốc gia sẽ phát triển dựa trên hệ thống nguồn lực khác nhau như nhân lực,
tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất, vốn,... Tuy nhiên, nguồn nhân lực là
nguồn lực quan trọng nhất, là yếu tố cơ bản, đầu tiên được tính đến trong việc xác định nguồn lực
phát triển của mỗi quốc gia. Nếu các nguồn lực khác bị giới hạn thì nguồn nhân lực là nguồn lực vô
tận nếu biết đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Xét đến cùng, các nguồn lực chỉ phát
huy được hiệu quả khi dựa trên cơ sở nguồn nhân lực và khi kết hợp với nguồn nhân lực.
Thuật ngữ nguồn nhân lực (Human Resources) được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh
tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, phản ánh sự đánh
giá lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Khái niệm “nguồn nhân lực” ngoài nghĩa
rộng được hiểu như “nguồn lực con người”, thường còn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có
khi còn được hiểu là lực lượng lao động.
Trước đây, nghiên cứu về nguồn nhân lực người ta thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò
của nó trong phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực thường được hiểu là nguồn lực con người của
một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và sẽ tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Về phương diện này Liên Hợp Quốc cho rằng “Nguồn nhân lực là trình độ
ngành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người, hiện có thực tế hoặc tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” (Word Bank, 2011). Ngày nay, nguồn nhân lực
còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài
độ tuổi lao động.
Ở nước ta có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực: “Nguồn nhân lực là dân số và chất
lượng con người, bao gồm: thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức
của người lao động; là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiểm năng được chuẩn bị sẵn sàng
để tham gia phát triển kinh tế - xã hội” (Phạm Minh Hạc, 2001); “Nguồn lực con người là sự kết

1604
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới
phát triển con người” (Hoàng Chí Bảo, 2009), “Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm
cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của cả dân tộc” (Huỳnh Thị Gấm, 2014).
Tuy nhiên, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng nói đến nguồn nhân lực là nói đến kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, tính sáng tạo của con người, nguồn nhân lực có thể là nguồn lực
đang hiện hữu hay nguồn lực tiềm năng có thể huy động để phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân
lực được thể hiện trên hai mặt là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn
lực đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bởi vì, con người không chỉ là một yếu tố
đầu vào của quá trình như các nguồn lực khác mà với khả năng, trình độ của mình, con người quyết
định mức độ hiệu quả của khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. Theo tác giả, nguồn nhân lực là
tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà
trước hết, là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Đó là những người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất đạo đức
tốt, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn với khoa học hiện đại.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận đặc biệt của nguồn nhân lực, là lực lượng tinh
tuý, quan trọng cấu thành nguồn nhân lực quốc gia, nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng có khả năng đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn phát triển của mỗi quốc gia. Khi nói đến nguồn nhân lực
chất lượng cao là nói đến lực lượng lao động có có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng, có thái độ, tác
phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Nói cách khác,
nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là lực lượng lao động có khả năng thích ứng trong thời
gian nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới, có tác phong kỷ
luật, đạo đức trong công việc và có khả năng tư duy đột phá. Trong bối cảnh cách mạng cộng nghiệp
lần thứ tư và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh
quan trọng cho các quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển để rút ngắn khoảng cách với các
quốc gia phát triển trên thế giới. Do đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu
cầu khách quan, cấp thiết mà còn đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
Đánh giá đúng vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với quá trình phát triển đất nước,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức và từng bước cụ thể hoá trong đường lối phát triển đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy
mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.130). Quan điểm đã đánh dấu bước phát triển trong nhận thức
về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững, coi phát triển nguồn
nhân chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ
mới. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của

1605
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai
đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế
tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.90). Đồng thời, Đảng ta cũng đề ra phương hướng, nhiệm vụ:
“Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với
những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong
nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất - kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp
và kỹ năng thực hành” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.116). Trước bối cảnh mới, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh
vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng
giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu,
chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2021 a, tr.203 - 204) tiếp tục thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về phát triển nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất
nước trong thời kỳ mới.
2.2. Những tác động của hợp tác quốc tế đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
nước ta hiện nay
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính, là bộ phận quan trọng, là chìa khoá cho quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Do đó, phát triển nguồn lực chất lượng cao trở thành
yêu cầu khách quan, tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra rộng rãi hiện nay.
Quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay chịu tác động của tổng thể các yếu tố,
trong đó trực tiếp là những tác động từ quá trình quốc tế hoá ngày càng sâu rộng hiện nay. Những
tác động này theo cả hai chiều hướng tích cực và những thách thức đặt ra đòi hỏi chúng ta phải nhận
thức và giải quyết hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển
đất nước trong bối cảnh mới. Những tác động của hợp tác quốc tế đến phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao có thể khái quát trên một số nội dung chủ yếu sau:
Mt l, tạo tiền đề, cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh thu hút và hợp tác quốc tế về giáo dục và
đạo tạo.
Đảng ta xác định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là “động lực then chốt để phát
triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.136). Giáo dục và đào tạo cũng là nhân tố quyết
định đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cả về số lượng và chất lượng. Trong xu thế
hợp tác quốc tế sâu rộng, toàn diện, sự phát triển của giáo dục hiện đại, hợp tác quốc tế trong giáo
dục diễn ra như một tất yếu khách quan và ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển mạnh mẽ
nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Chính xu hướng
toàn cầu hoá, sự phát triển bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã thúc
đẩy giáo dục không ngừng đổi mới căn bản, toàn diện đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình

1606
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
hội nhập, từ đó kế thừa, tiếp thu có chọn lọc thành tựu phát triển của các nền giáo dục tiên tiến, từng
bước đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao.
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế (2013) xác định: “Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững
độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại.
Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục,
đào tạo” (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Trên thực tế, trong bối cảnh quốc tế hoá giáo dục là xu
thế toàn cầu, Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh hợp tác và đầu tư với nước ngoài trong giáo dục.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác giáo dục với trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời là
thành viên tích cực của các tổ chức quốc tế và khu vực như UNESCO, SEAMEO, ASEAN, ASEM,
APEC,… Tính đến ngày 30/6/2024, Việt Nam đã thu hút được 605 dự án đầu tư của nước ngoài
trong lĩnh vực giáo dục với tổng số vốn đầu tư lên tới trên 4,57 tỷ USD; khoảng 430 chương trình
đào tạo liên kết với nước ngoài được triển khai tại 65 cơ sở giáo dục đại học trong nước; có 5 cơ sở
giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (Trần Thị Bình, Nguyễn Lê
Đình Quý, 2021). Đây là những tiền đề quan trọng để tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, nhằm “đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm
công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số,
tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.232 - 233), góp phần “đẩy
mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.231).
Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu phát triển của quốc gia, khu vực và thế giới.
Theo thống kê năm 2023, dân số Việt Nam vào khoảng hơn 100 triệu người, trong đó, lực lượng
trong độ tuổi lao động vào khoảng 52,4 triệu người. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng cho Việt
Nam trong quá trình hợp tác quốc tế. Thực tế cho thấy, số lượng người trong độ tuổi lao động không
đồng nhất với số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trước đây, những quốc gia có cơ cấu “dân số vàng” với lực lượng lao động trẻ, dồi dào sẽ tạo ra
những lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhưng hiện nay, trong xu thế
hội nhập quốc tế, trước tác động của thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư,
của sự phát triển kinh tế tri thức... đã và đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ về lợi thế cạnh tranh
giữa các quốc gia về nguồn nhân lực. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào không còn là điều kiện tiên
quyết đánh giá lợi thế cạnh tranh của các quốc gia mà lợi thế cạnh tranh nằm ở chất lượng nguồn
nhân lực, ở chất lượng đào tạo đào tạo, trình độ tay nghề, chuyên môn...
Toàn cầu hoá, liên kết và hội nhập quốc tế đang là xu thế lớn của thế giới, những cải cách công
nghệ mang tính đột phá diễn ra liên tục với tần suất ngày càng lớn, các quốc gia ngày càng tham

